CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973 2
GIẢI THOÁT NHỮNG THẦN LINH GIẢ – Chú giải của Noel Quesson. 6
NHỮNG CƠN CÁM DỖ – ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt 14
BA CHƯỚC CÁM DỖ- Lm. Inhaxiô Hồ Thông(*) 18
CÁM DỖ TẠI HOANG ĐỊA – Lm Fx. Vũ Phan Long, ofm.. 46
CHỌN LỰA- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 58
ĐỨC GIÊSU BỊ CÁM DỖ- Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 69
SỨC MẠNH CỦA HỒNG ÂN LỜI CHÚA– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 88
DỨT KHOÁT CHỌN LẤY SỰ VÂNG PHỤC – Fiches Dominicales. 92
LÀM SAO CHIẾN THẮNG CÁM DỖ- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 103
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A.. 106
LỜI CHÚA LÀ MỘT HỒNG ÂN- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 106
CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG- Trích Logos A.. 115
CÁM DỖ- Lm Phêrô Trần Thanh Sơn. 121
——————————————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A
BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973
“Nguyên tổ được tạo thành, và phạm tội”.
Bài trích sách Sáng Thế.
Thiên Chúa lấy bùn đất nắn thành con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở thành một vật sống.
Thiên Chúa lập một vườn tại Eđen về phía đông và đặt vào đó con người mà Ngài đã dựng nên. Thiên Chúa cho từ đất mọc lên mọi thứ cây trông đẹp, ăn ngon, với cây sự sống ở giữa vườn, và cây biết thiện ác.
Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa tạo thành. Nó nói với người nữ rằng: “Có phải Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn mọi thứ cây trong vườn?” Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi được ăn trái cây trong vườn; nhưng trái cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa bảo: “Các ngươi đừng ăn, đừng động tới nó, nếu không sẽ phải chết”. Rắn bảo người nữ: “Không, các ngươi không chết đâu! Nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày nào các ngươi ăn trái ấy, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ biết thiện ác như thần thánh”. Người nữ thấy trái cây đẹp mắt, ngon lành và thèm ăn để nên thông minh. Bà hái trái cây ăn, rồi lại cho chồng, người chồng cũng ăn. Mắt họ liền mở ra và họ nhận biết mình trần truồng, nên kết lá vả che thân.
Ðó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 50, 3-4. 5-6a. 12-13. 14 và 17
Ðáp: Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa (x. c. 3a).
1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.
2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa.
3) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
4) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Lạy Chúa, xin mở môi con, để miệng con sẽ loan truyền lời ca khen.
BÀI ĐỌC II: Rm 5, 12-19
“Chỗ mà tội lỗi đã đầy tràn, thì ân sủng đã đầy dàn dụa”.
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Trước khi có lề luật, đã có tội ở trần gian. Nhưng nếu không có luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời Ađam đến thời Môsê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như Ađam đã phạm. Ađam là hình ảnh Ðấng sẽ tới. Nhưng sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Ðức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã, thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính. Vì nếu bởi tội của một người mà sự chết đã thống trị do một người đó, thì những người lãnh được ân sủng và ơn huệ dồi dào bởi đức công chính, càng được thống trị hơn nữa trong sự sống do một người là Ðức Giêsu Kitô. Do đó, tội của một người truyền đến mọi người đưa tới án phạt như thế nào, thì đức công chính của một người truyền sang mọi người đưa tới bậc công chính ban sự sống cũng như thế. Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thì do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4, 4b
Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.
PHÚC ÂM: Mt 4, 1-11
“Chúa Giêsu nhịn ăn bốn mươi ngày đêm, và chịu cám dỗ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Khi Người đã nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người cảm thấy đói. Và tên cám dỗ đến gần, nói với Người rằng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh”. Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: ‘Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra'”. Bấy giờ ma quỷ đưa Người lên Thành thánh, và đặt Người trên góc tường Ðền thờ, rồi nói với Người rằng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với ông, và chư vị đó sẽ nâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá”. Chúa Giêsu đáp: “Cũng có lời chép rằng: “Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi”. Quỷ lại đưa Người lên núi rất cao, và chỉ cho Người xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang của những nước đó, rồi nói với Người rằng: “Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi”. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo nó rằng: “Hãy lui đi, hỡi Satan! Vì có lời đã chép: “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài”. Bấy giờ ma quỷ bỏ Người. Và các thiên thần tiến lại, hầu hạ Người.
Ðó là lời Chúa.
———————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
GIẢI THOÁT NHỮNG THẦN LINH GIẢ – Chú giải của Noel Quesson
Năm A này dành hết cho việc đọc sách Tin Mừng theo thánh Matthêu về những cám dỗ của Đức Giêsu và sự biến hình của Người. Rồi, chúng ta sẽ có ba tin mừng lớn của Thánh Gioan, theo truyền thống, chuẩn bị cho ‘lễ thanh tẩy’: nước hằng sống của người nữ Samari, người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt và Ladarô sống lại. Hôm nay, đây là cuộc chiến đấu lớn lao của Đức Giêsu…sự mời gọi khẩn thiết đi vào trong cuộc chiến đấu riêng của chúng ta trong Mùa Chay.
Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.
Ba tác giả Tin Mừng nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa sự cám dỗ Chúa và phép rửa của Người. Về lịch sử, chắc rằng Đức Giêsu đã muốn thực hiện một thứ “tĩnh tâm” trước khi khởi đầu tác vụ của mình. “Hoang địa” là nơi đã tìm thấy thật sự hay dành cho việc đó: nỗi cô liêu và thanh tĩnh mà con người thấy mình đối diện một cách khắt khe với chính mình, mà không có lối tránh né, và tất cả những mặt nạ mà xã hội đem đến cho ta. Matthêu cũng như hai tác giả Tin Mừng kia, đều nhấn mạnh là Đức Giêsu được Thần Khí dẫn đến hoang địa này. Cám dỗ là một phần trong dự tính của Thiên Chúa cho Con Người. Và ở đây chúng ta cũng vậy, chúng ta được cho biết là phép thanh tẩy không làm cho một ai trong chúng ta được miễn trừ không phải chịu các thử thách.
Quả thực, ngoài ý nghĩa có phần ngây thơ của từ “cám dỗ”, Kinh Thánh sử dụng từ này để chỉ “thử thách”. Theo nghĩa này, cám dỗ có một cái gì tích cực. Không phải là một tình yêu được thử thách để biết xem nó có thực sự vững bền và chân thật sao? Như thế Đức Giêsu sắp chịu thử thách bởi chính Thánh Thần của Thiên Chúa, cũng như thể xưa kia dân Do Thái trong hoang địa với cuộc Xuất Hành: “Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực; như vậy người thử thách anh em để biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của người hay không? (Đnl 8,2).
Xin Thánh Thần giúp chúng ta xem xét những thử thách của chúng ta theo cách thế tích cực này; trong khi nghĩ rằng Đức Giêsu, người Con hoàn toàn, người công chính vẹn toàn, đã tìm thấy trong những thử thách của con người, sự nâng cao chính tình yêu của Người, của lòng trung tín của Người với Chúa Cha.
Người ăn chay ròng rã bốn mươi ngày và sau đó Người thấy đói.
Trong câu truyện của Matthêu, ta không phải tìm trước hết một sự mô tả cụ thể về “điều đã xảy ra”. Đàng sau những chi tiết, ta cần khám phá ra một ý nghĩa thần học. Matthêu rõ ràng đã đạo diễn, trong khúc đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu, những cám dỗ mà thực sự người đã cảm nghiệm trong suốt cuộc đời mình: lúc nào cũng vậy, Đức Giêsu phải tự bênh vực khi sử dụng thiên tính của mình để tránh cho mình khỏi những lo âu của con người (Mt 12,24-30; 16,23; 26-59 – 27-40).
Kiểu nói “bốn mười ngày và bốn mươi đêm” chẳng hạn, là một phần của kiểu nói biểu tượng của Kinh Thánh: con số ước lệ chỉ thời gian cần thiết cho sự trưởng thành của đời người. “Bốn mươi” là thời gian Israel ở trong sa mạc, thời gian đi của ngôn sứ Elia đến Núi Chúa, thời gian của Đấng Phục sinh hiện ra. (Đnl 8,1-5; 1V 19,8; Cv 1,3).
Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!
Không cần phải làm dịu Tin Mừng đi; ngay như nếu có thể giải thích bằng nhiều cách, để có thể áp dụng vào cuộc sống chúng ta trên nhiều diện khác nhau, sự cám dỗ đầu tiên này của Đức Giêsu, chẳng hạn, không có lý do nào để nghĩ rằng nó chỉ có tính cách thiêng liêng mà thôi: Đức Giêsu đã thực sự thấy đói, trong quá trình cuộc đời mình. Người đã bị đụng chạm đến, bị nao núng, bị dày xé ở ngay chính thân xác mình… và không phải chỉ trong quá trình một cuộc ăn chay khắc khổ trong hơn một tháng. Cám dỗ đầu tiên là cám dỗ chống lại sự cậy trông: người ta lồng lộn trước thử thách, trước đau khổ; người ta xin Chúa bỏ đi tất cả những gì gây đau khổ cho chúng ta. Sự xấu mà chúng ta phải chịu, sự xấu tác động đến những kẻ vô tội, cái đói bất công của một bộ phận trong nhân loại, đấy là sự phản kháng lớn lao và sự phản kháng đầu tiên chống lại Thiên Chúa. Lúc đó người ta bị cám dỗ cáo giác Thiên Chúa… hoặc là xin Người giải quyết trực tiếp những vấn đề của chúng ta.
Cám dỗ đầu tiên có thể được giải thích qua cuộc tranh chấp giữa xác thịt và tinh thần. Các giác quan của chúng ta cảm thấy đói, và chúng ta đi tìm các thực phẩm trần thế để làm dịu cơn đói. Và đó là điều tốt, làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng trong lãnh vực này đặc biệt, chúng ta biểu sự tự chủ cạnh ta: sự vui thỏa dễ dãi không nỗ lực xây dựng những người đàn ông và đàn bà có một giá trị.
Xã hội tiêu thụ với chủ nghĩa duy vật thực tiễn, có nguy cơ hạ thấp con người xuống ngang mức với tầm vóc sơ đẳng nhất.
Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3).
Ba câu trả lời Của Đức Giêsu cho kẻ cám dỗ được rút ra từ trong sách Đệ Nhị Luật. Kinh Thánh đề ra một cách đọc lại thần học về 40 năm cuộc đời trong sa mạc Sinai, và những đòi hỏi của Giao ước. Đức Giêsu được giới thiệu đây như một Israel mới. Nhưng Đức Giêsu là người chiến thắng, trong khi dân Thiên Chúa, bị thử thách vì đói và khát, đã sa ngã trong khi lẩm bẩm kêu trách Chúa (Xh 6,8). Câu trả lời của Đức Giêsu luôn luôn có tính thời sự, và chất vấn chúng ta một cách mạnh mẽ: chúng ta cảm thấy đói cái gì nhất? Những thỏa mãn trần thế có thể sẽ khiến chúng ta hư mất? Hay lời Thiên Chúa có thể cứu chúng ta khỏi mọi thử thách? Lạy Chúa, xin giúp chúng con, tin cậy vào Chúa cho đến cùng. Xin ban cho chúng con lòng cậy trông.
Sau đó quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa. thì gieo mình, xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn thỏi vấp chân vào đá (Tv 91,11-12). Nhưng cũng có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi (Đnl 6,16)
Nếu sự đau khổ (cơn đói) thử thách lòng tin của chúng ta vào Chúa, thì bây giờ đây là cám dỗ thứ hai, có tính điển hình của dân Chúa, của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, và của những tín hữu chúng ta; đó là thử thách về lòng tin. Israel trong sa mạc 40 năm đã xin Chúa cho những dấu hiệu lạ lùng để Thiên Chúa chứng tỏ là mình có hiện hữu không! Chúa có ở với chúng tôi không, có hay không? (Xh 17,1-7). Và Đức Giêsu, suốt cuộc đời Người đã bị cám dỗ thoát ra khỏi thân phận con người của mình, đạt tới kết quả sau cùng của sứ mệnh Người bằng các phương tiện dễ dãi là phép lạ: công luận của thời đại người ta trông đợi một Đấng Mêsia siêu việt, Người sẽ tỏ ra một cách rõ ràng quyền năng của Thiên Chúa; có lời cho những tín hữu bằng cách thực hiện những dấu hiệu chói lòa: họ xin Đức Giêsu cho họ một dấu chỉ xuống từ trời (Mt 16,1; 12,39; 24,3).
Bằng tất cả sức mạnh sống động của con người trai trẻ và năng động, Đức Giêsu đã luôn bị cám dỗ để làm ra vẻ Thiên Chúa Toàn Năng. Và không phải là không bị dày xé mà Người đã chọn làm Đấng Mêsia nghèo nàn, bị hạ nhục bị đè nén bởi đám đông và những nhà chức trách ở thời Người.
Mọi tín hữu đến lượt mình đều phải chờ đợi lúc mình phải chịu cám dỗ “chống lại lòng tin” này: đó là sự cám dỗ và sự chân không, cái ấn tượng gieo mình vào chân không khi người ta tin vào Chúa. Người ta có lẽ muốn rằng Thiên Chúa phải hiển nhiên hơn. Và Người là Thiên Chúa ẩn giấu. Có lẽ người ta muốn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong những kinh nguyện hay trong việc phụng tự của chúng ta. Và Thiên Chúa thinh lặng… và sự “tự mập mờ” không làm cho người ta thích thú. Thiên Chúa không gây thú vị lắm bởi vì Người không đáp ứng cho họ những chuẩn mực của chúng ta. Có lẽ người ta muốn tác động lên Người, làm ra một Thiên Chúa phục vụ chúng ta, một Thiên Chúa có lẽ làm chân chúng ta khỏi vấp vào đá trên đường đi. Và Thiên Chúa để cho chúng ta tự trị và tự chịu trách nhiệm: chính bạn, bạn hãy tránh những hòn đá và nếu bạn vấp phải, đừng chờ phép lạ: nhưng không phải vì thế mà Tôi không hiện hữu… bởi vì Tôi là thực thể hoàn toàn khác. Lạy Chúa, xin giúp con tin tưởng. Xin cho chúng con đức tin.
Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó nếu ông sấp mình bái lạy tôi. Đức Giêsu liến nói: Xatan kia, kéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi. Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các thiên sứ tiến đến hầu hạ Người.
Ta hãy lột bỏ tất cả những tưởng tượng về các biểu tượng ấu trĩ quá đơn giản. Thật hiển nhiên là Matthêu, không hơn chúng ta, đã không bị lừa về ngôn từ của nó. Không có ngọn núi nào ở thế gian mà từ đó người ta có thể trông thấy “tất cả” các nước trên trái đất! Đó là một cách nói. Đó là một thị kiến nội tâm, mà không phải là một hiện tượng vật lý. Sau thử thách về lòng cậy trông và lòng tin, thì đây có lẽ là ‘thử thách về tình yêu’. Dân Israel trong cuộc xuất hành của mình, bị cám dỗ bỏ giao ước, một hôn ước tình yêu với Thiên Chúa thật, để hiến thân cho các “thần tượng” ngoại tình một cách nào đó (Xh 23,20-33). Thứ ngôn từ biểu trưng của Matthêu, nó có sức gợi cảm mạnh mẽ biết mấy! Xatan đã đòi các vương quốc trên thế gian làm tài sản riêng của nó. Nó là chủ, là ông hoàng của thế giới này. Đức Giêsu đã lột mặt nạ đối phương. Ở đây Chúa Giêsu, chỉ thẳng tên Xa-tan; đó là một tên phản Thiên Chúa! Chính y là kẻ đòi loài người phải thờ phụng y.
Đúng thế, chúng ta bị cám dỗ Thiên Chúa hóa tất mọi sự vật. Đông đảo biết bao các thần tượng của chúng ta. Tất cả những thứ luôn cố đoạt lấy địa vị của Thiên Chúa: tiền bạc, tiện nghi, uy tín, thống trị, quyền lực, thú vui, các ý thức hệ, môi trường của chúng ta… hay là nhiều thứ ba láp này kia mà chúng ta gán cho tầm quan trọng lớn lao biết bao!
Chỉ một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Mùa chay này được ban cho chúng ta để chúng ta được giải thoát những thần linh giả.
—————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A
NHỮNG CƠN CÁM DỖ – ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Có nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải quá độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ. Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là để thao luyện tâm hồn chống lại quỷ dữ.
Ngày nay người ta quên sự có mặt của ma quỷ. Nhưng ma quỷ vẫn có đó và và vẫn tích cực hoạt động nhằm phá huỷ thế giới, tiêu diệt con người. Ma quỷ rất tinh ma xảo quyệt nên người ta khó nhận ra âm mưu, dấu vết của chúng.
Nhìn vào ba cuộc ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu, ta thấy ma quỷ rất tinh khôn. Nó có kế hoạch, có chiến thuật, tấn công nhiều đợt, nhiều bước.
Thoạt tiên ma quỷ tấn công vào những bản năng sơ đẳng nhất nơi con người: bản năng sinh tồn, bản năng thống trị, bản năng đối nghịch. Những bản năng ấy gắn liền với những nhu cầu căn bản, chính đáng của con người.
Kéo chú ý của người ta vào những nhu cầu rồi, ma quỷ tiến bước thứ hai, đó là phóng đại những nhu cầu đó lên, làm cho người ta lầm tưởng rằng, đó là những nhu cầu cấp bách, phải thoả mãn ngay tức khắc.
Khi ta đã hoàn toàn mê mẩn vì cái bẫy nhu cầu, ma quỷ mới đẩy ta đến bước thứ ba, đó là tìm thoả mãn những nhu cầu theo ý riêng mình. Cách giải quyết đó ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Mục đích sau cùng của ma quỷ là xúi giục ta phản loạn, không sống tâm tình người con hiếu thảo với Chúa, chống lại Chúa và sau cùng lìa xa Thiên Chúa.
Ông bà nguyên tổ đã rơi vào bẫy của ma quỷ nên đã không sống tâm tình của người con hiếu thảo, muốn lìa bỏ cha mình, muốn ngang bằng cha mình, muốn chống lại cha mình.
Chúa Giêsu, trái lại, đã sáng suốt vạch trần âm mưu của ma quỷ và kiên quyết sống tâm tình của người con hiếu thảo.
Khi ma quỷ phóng đại nhu cầu, muốn cho Chúa Giêsu tưởng rằng con người chỉ là vật chất, chỉ sống nhờ bánh vật chất, vật chất là tất cả đời sống. Chúa Giêsu đã sáng suốt chỉ cho ta thấy vật chất không phải là tất cả, bánh vật chất của trần gian là cần, nhưng bánh tinh thần của trời cao còn cần hơn.
Khi ma quỷ thúc giục Chúa Giêsu hãy thoả mãn tức khắc nhu cầu cảu mình, Chúa Giêsu đã biết kiên nhẫn chờ đợi. Khi ma quỷ khích Chúa Giêsu dùng quyền năng riêng của mình để thoả mãn nhu cầu, Chúa Giêsu đã từ chối. Người muốn vâng phục Đức Chúa Cha, tin tưởng phó thác vận mệnh trong tay Chúa Cha, để mặc Chúa cha quyết định.
Tuy đã thắng trong cuộc đọ sức đầu tiên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị ma quỷ cám dỗ trong suốt cuộc đời. Cơn dỗ khi đến từ những người tin theo Chúa, muốn tôn Chúa làm vua để được ăn no nê bánh vật chất, khi thì đến từ những người chống đối đòi xin phép lạ từ trời xuống. Có lúc ma quỷ mượng chính những người thân tín như Phêrô để ngăn cản Chúa Giêsu thực hành ý Chúa Cha. Có lúc ma quỷ dùng cái chết ghê sợ để uy hiếp tinh thần, mong Chúa Giêsu lùi bước để tìm ý riêng mình. Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ vì Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha. Dù khi phải chiến đấu trong mồ hôi pha máu, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, xin vâng theo ý Cha mà thôi”.
Ma quỷ vẫn đang tiếp tục tạo nên những cơn cám dỗ. Và nhiều khi chúng ta đã mắc bẫy ma quỷ. Ta mắc bẫy ma quỷ khi mải mê đuổi theo những nhu cầu tiêu thụ quá đáng. Ta rơi vào âm mưu ma quỷ khi ta muốn có tất cả và có tức khắc. Ta hoàn toàn nằm trong vòng tay ma quỷ khi ta dùng mọi phương tiện để thoả mãn những nhu cầu, bất chấp ý Thiên Chúa.
Thay vì tuân phục ý Chúa, tôi luôn luôn bắt Chúa làm theo ý tôi. Thay vì vâng lời Chúa, tôi luôn luôn muốn sai bảo Chúa.
Mùa Chay này, Chúa kêu gọi tôi trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, tôi phải chiến đấu chống lại ma quỷ. Muốn đủ sức chống lại ma quỷ, tôi phải luyện tập bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Chúa.
Hãy đặt ra cho mình một chương sống Mùa Chay bằng tăng cường hy sinh, cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.
Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót đang chờ đón tôi trở về, và sẽ ban sức mạnh để tôi đủ sức chống lại mọi chước cám dỗ, nếu tôi biết sống trọn tình con thảo, tin cậy phó thác vào Người.
Lạy Thiên Chúa là Cha của con, xin đón nhận tâm hồn khiêm nhường sám hối của con.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Theo bạn, ngày nay ma quỷ còn hoạt động trong thế giới không? Nếu có, bạn cho một ví dụ.
2) Bạn thường thua hay thắng cuộc khi gặp phải cám dỗ. Thua, tại sao? Thắng, nhờ đâu?
3) Đâu là âm mưu của ma quỷ che dấu đàng sau những cơn cám dỗ?
—————————————————-
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A
BA CHƯỚC CÁM DỖ- Lm. Inhaxiô Hồ Thông(*)
Hằng năm, vào Chúa Nhật I Mùa Chay, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta chuyện tích “Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa”. Vì thế, Tin Mừng của Phụng Vụ Lời Chúa Năm A này mời gọi chúng ta lắng nghe và suy gẫm chuyện tích Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa theo Tin Mừng Mát-thêu.
St 2: 7-9; 3: 1-7
Bài Đọc I trích từ sách Sáng Thế mô tả sự thử thách của người nữ đầu tiên bằng ngôn ngữ hình tượng. Trước sự chọn lựa: hoặc nương tựa vào Đấng Tạo Hóa, hay tự mình quyết định theo sự tự do của riêng mình, người nữ này đã sa ngã kéo theo nhân loại.
Rm 5: 12-19
Trong Thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô gợi lên rằng nhân loại từ nguyên thủy mang lấy dấu tích của tội lỗi, nhưng nhờ Đức Giê-su, được thoát khỏi tội A-đam và được tái sinh trong muôn vàn ân sủng.
Mt 4: 1-11
Tin Mừng Mát-thêu tường thuật việc Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa. Xa-tan đề nghị cho Ngài những con đường cứu thế khác với con đường thập giá mà Chúa Cha đã chọn.
BÀI ĐỌC I (St 2: 7-9; 3: 1-7)
Sách Sáng Thế bắt đầu với hai chuyện tích về Cuộc Sáng Tạo: chuyện tích thứ nhất (St 1: 1-2: 4a) được biên soạn bởi truyền thống Tư Tế (P) vào thế kỷ IV trước Công Nguyên và chuyện tích thứ hai cổ xưa hơn (St 2: 4b-25) được biên soạn bởi truyền thống Gia-vít vào thế kỷ X trước Công Nguyên.
-Chuyện tích thứ nhất thuật lại cuộc sáng tạo trong sáu ngày theo cái khung của một tuần lễ Do thái mà đỉnh cao là ngày thứ bảy, ngày sa-bát. Chuyện tích này hình thành nên một đơn vị nhờ kỷ thuật đóng khung, bắt đầu với “Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo nên trời đất” (St 1: 1) và kết thúc với: “Đó là nguồn gốc trời đất khi được sáng tạo.” (St 2: 4a). Bằng văn phong trang trọng có nhịp điệu của một bài thánh thi phụng vụ, tác giả truyền thống Tư Tế cho chúng ta biết làm thế nào Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật một cách tốt đẹp, trong đó con người là loài thụ tạo tuyệt hảo nhất (St 1: 31), vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người sau cùng như tuyệt đỉnh công trình sáng tạo của Ngài. Thêm nữa, Ngài đã tạo dựng con người có nam có nữ “theo hình ảnh và họa ảnh của Ngài”.
-Chuyện tích thứ hai bắt đầu với “Ngày Đức Chúa, là Thiên Chúa làm ra đất và trời” (2: 4b). Như vây, với diễn ngữ “đất và trời”, chuyện tích thứ hai trình bày công trình sáng tạo của Thiên Chúa khởi sự nơi mặt đất, trong đó con người là trung tâm. Chuyện tích thứ hai này còn tiếp tục kể cho chúng ta về“Thử Thách và Sa Ngã” (St 3: 1-7). Tuy nhiên, tác giả không dừng lại ở nơi một tương lai vô vọng không lối thoát do sự sa ngã của con người đầu tiên, nhưng tiếp tục kể cho chúng ta về án phạt và lời hứa cứu độ (St 3: 8-24). Như vậy, qua chuyện kể liên tục của mình, tác giả muốn giới thiệu lịch sử cứu độ và đưa ra lý do đầu tiên: tội của con người và niềm hy vọng tương lai được thoáng thấy ở nơi lời hứa cứu độ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3: 15).
Trong chuyện kể của mình, tác giả sử dụng kiểu nói trực tiếp và cụ thể: ông trình bày Thiên Chúa như nhân, nghĩa là Thiên Chúa hành xử như một con người. Ngoài ra, ông cũng không ngần ngại sử dụng ngôn ngữ thần thoại mà ông đã khai thác rất nhiều ở nơi kho tàng thần thoại rất phổ biến vào thời ông, nhưng ông sử dụng những chất liệu này cách tự do khi đặt chúng vào trong bối cảnh mới và ban cho chúng một tầm mức thần học khác biệt tận căn. Nhờ vận dụng hình ảnh và biểu tượng của khoa thần thoại, tác giả chuyển tải những suy tư nghiêm trọng nhất về nhân loại, như lời nhận xét của Đức Gioan Phao-lô II: “Đối với chuyện tích thứ hai về Cuộc Sáng Tạo, cách thức diễn đạt phù hợp với cách suy nghĩ của thời đại… Người ta có thể nói… rằng cốt là ngôn ngữ thần thoại. Quả thật, trong trường hợp nầy, thuật ngữ thần thoại không chỉ ra một nội dung huyền thoại, nhưng một cách thức cổ xưa để diễn tả một nội dung sâu xa hơn… Nội dung nầy đáng khâm phục ở nơi những điều liên quan đến những phẩm chất và độ đậm đặc của các chân lý mà nó chứa đựng” (Jean Paul II, Audience generale du mercredi 7 novembre 1979).
Hai đoạn văn được đề nghị cho chúng ta hôm nay đều được trích từ chuyện tích thứ hai về cuộc Sáng Tạo, trong đó đoạn văn thứ nhất (St 2: 7-9) liên quan đến cuộc sáng tạo con người và đoạn văn thứ hai (St 3: 1-7) liên quan đến cuộc thử thách và tội nguyên tổ.
CUỘC SÁNG TẠO CON NGƯỜI (St 2: 7-9)
Con người, được sáng tạo đầu tiên trước mọi sinh vật:
Trong chuyện tích thứ nhất, công trình Sáng Tạo diễn ra trong sáu ngày, trong đó người nam và người nữ được sáng tạo đồng lúc và cuối cùng, như tuyệt đỉnh của công trình sáng tạo. Trái lại, trong chuyện tích thứ hai, con người được sáng tạo đầu tiên trước mọi sinh vật, và được sáng tạo một mình, không người nữ; người nữ sẽ xuất hiện sau nầy. Đây là cách thức mà tác giả Gia-vít sử dụng để nhấn mạnh quyền tối thượng của con người. Đấng Sáng Tạo sắp biểu lộ tất cả niềm ưu ái của mình đối với thụ tạo đầu tiên của Ngài.
Đức Chúa sáng tạo con người được mô tả như một thợ gốm thần linh “lấy từ bụi đất nặn nên con người”; sau nầy, Đức Chúa sáng tạo mọi sinh vật cũng được mô tả theo cùng một cách như vậy: Đức Chúa “lấy đất nặn ra chúng” (St 2: 19). Tuy nhiên, sắc thái biệt phân giữa con người và các sinh vật khác được trình bày rất tinh tế: con người và sinh vật có chung một xác thể, vì thế, sau nầy, khi con người phạm tội, Thiên Chúa nhắc nhở cho con người nguồn gốc mỏng dòn của nó: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3: 19); nhưng chỉ duy một mình con người mới được Thiên Chúa “thổi sinh khí vào lỗ
mũi”, chính sự khác biệt này nói lên chiều kích cao cả của con người trên mọi loại thụ tạo.
Việc Đấng Sáng Tạo được mô tả như một người thợ gốm nhào đất sét mà nặn nên con người thuộc về di sản chung của nhiều dân tộc xưa. Ở Ai-cập, chính thần Knoum sáng tạo nên con người bằng cách nặn nên họ hàng loạt trên bàn xoay của người thợ gốm. Ở Sumer, chính mẫu thần Nammu nặn nên con người đầu tiên; ở Ba-by-lon, thần Ea “với đôi tay của mình đã sáng tạo nên con người”; ở Hy-lạp, một bản văn thần thoại kể rằng thần Démiurge nhân ái đã nặn ra con người bằng đất sét thấm đẫm nước mắt của thần. Con người sinh ra từ đất, đó là niềm tin tưởng khá phổ biến vào thời đó. Nhưng, về cơ bản, chuyện tích Kinh Thánh khác biệt với các chuyện tích nầy, đó là, người thợ gốm thần linh là Đấng Sáng Tạo, từ đất Ngài nặn nên hình người và làm sinh động hình người ấy bằng sinh khí của chính Ngài.
Con người, một sinh linh:
Đức Chúa thổi sinh khí vào hình tượng con người bất động để làm cho con người sinh động. Sinh khí mà Đức Chúa ban cho con người phát xuất từ Thiên Chúa, vì thế, khi trút hơi thở cuối cùng, con người sẽ hoàn lại cho Ngài. Thánh Gioan diễn tả cái chết của Đức Giê-su trên thập giá cũng bằng dụng ngữ này: “Rồi người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19: 30).
Khi mặc khải ngôi vị của Thần Khí và ân ban của Ngài cho con người trong Đức Giê-su, Tân Ước đã cho khoa nhân loại của sách Sáng Thế chiều kích đích thật của nó. Cử chỉ của Đấng Sáng Tạo được lập lại trên mỗi người lãnh nhận bí tích Rửa Tội để thổi hơi sự sống siêu nhiên vào họ, có nghĩa họ được tái sinh.
Đức Chúa thiết lập nơi cư ngụ cho con người:
Giữa khung cảnh đất hoang vu trơ trọi, thiên Chúa đã làm nẩy sinh một vườn cây kỳ diệu. Khu vườn này được gọi là “Ê-đen”, nghĩa là khu vườn xinh đẹp, và “về phía Đông” nghĩa là ở phía mặt trời mọc, dấu chỉ ánh sáng và sự sống. Trong khu vườn kỳ diệu nầy, Đức Chúa cho mọc lên đủ loại cây đơm bông kết trái xanh tươi nhờ một dòng sông từ vườn chảy ra tưới khắp bốn phía. Rồi đặt con người vào đó.
Cây trường sinh và cây biết thiện ác:
Trong các loại cây này, có hai loại cây không thuộc vào bất kỳ loại thảo mộc nào: “cây trường sinh” và“cây biết thiện ác”. “Cây trường sinh” là hình tượng cổ điển trong vùng Cận Đông xưa, đó là cây bất tử. Tính cách biểu tượng của nó được hổ trợ bởi bóng dáng tự nhiên (cây cao bóng cả cành lá bốn mùa xum xê) và bởi chiều kích phụng vụ: trong những thánh điện, các vị thần linh được cho là nhờ ăn trái của cây này mà bất tử. Điều này được phản ảnh ở nơi St 3: 22: sau khi con người đã ăn trái cây này, Đức Chúa là Thiên Chúa nói: “Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi” (St 3: 22).
“Cây biết điều thiện điều ác” là dụng ngữ sáng tạo của truyền thống Gia-vít. Có thể tác giả đã được gợi hứng, ít nhiều, từ một vị tiền nhiệm Ba-by-lon: ở lối vào nơi cư ngụ của các vị thần, có hai cây: cây trường sinh và cây chân lý. Chúng ta cũng gặp một cặp song đối nổi tiếng khác: thi hào Homère nói với chúng ta rằng trước đền thờ của các thần linh trên đỉnh núi Ô-lim-píc, có hai chậu được chôn sâu dưới đất; một chậu chứa đựng những điều thiện, chậu kia chứa đựng những điều ác.
Ở nơi diễn ngữ “biết điều thiện điều ác”, động từ “biết” chỉ sự hiểu biết do từ kinh nghiệm. Khác ngôn ngữ của những triết gia, ngôn ngữ Híp-ri thích liên kết những cặp mâu thuẫn để nói lên cái toàn thể, chẳng hạn như ngày và đêm, bóng tối và ánh sáng, nam và nữ…, vì thế đây cốt là một sự khôn ngoan siêu phàm, một phẩm chất đặc biệt mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể sở hữu tròn đầy.
Đoạn trích dẫn ngắn hôm nay không kể ra việc Thiên Chúa canh giữ cây biết điều thiện điều ác nầy; tuy nhiên, phần tiếp theo câu chuyện cho thấy điều đó. Thiên Chúa ấn định cho con người một giới hạn bất khả vượt qua, nhưng Ngài không rào cây này để dành riêng cho Ngài; Ngài phó thác cho lương tri của con người.
THỬ THÁCH (St 3: 1-7)
Phần thứ hai của Bài Đọc I là phần đầu chương 3 của sách Sáng Thế, giới thiệu chuyện tích về cuộc thử thách và tội nguyên tổ. Đây là một đề tài rất phổ biến hay ít ra rất gần với đề tài thuộc thể loại anh hùng ca: một vị anh hùng tìm cách lấy cắp một trong những đặc quyền của các vị thần, như ở Lưỡng Hà Địa, nhân vật Gilgamesh ra đi tìm kiếm cây trường sinh; ở Hy-lạp, Prométhée ăn cắp lửa thiêng, hoặc Héraclès đoạt lấy những trái táo trường sinh. Ngoài ra, cũng có biết bao đề tài tương tự ở Ấn Độ xưa, vân vân.
Tác giả kinh thánh biến đổi sâu xa hành động nầy khi định vị nó vào trong văn mạch thần học duy nhất và đặc thù. Ông biến đổi tham vọng của con người thành nguyên mẫu của tội cũng như tiền lịch sử của Sự Ác. Mặt khác, ông chủ ý mô tả biến cố nội tâm hơn là một biến cố bên ngoài. Bức tranh về cuộc Thử Thách là một tiểu phẩm kiệt tác về sự phân tích tâm lý.
Con rắn:
Chuyện tích về sự thử thách bắt đầu với câu then chốt gây sửng sốt nầy: “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi loài vật hoang dã, mà Thiên Chúa đã làm ra nó”. Như vậy trong tấm thảm kịch sắp diễn ra, người kể chuyện giới thiệu một nhân vật kỳ lạ, một con rắn biết nói, biểu tượng sự Ác, mà truyền thống đã nhận ra ở nơi con vật này là quỷ hay quỷ vương (Kn 2: 24). Ngay lập tức, vị ác thần nầy bị giảm thiểu đến mức tối đa: kẻ sắp tỏ mình ra là đối thủ của Thiên Chúa không gì khác hơn là một con vật “trong mọi loài vật nơi hoang dã” mà Cựu Ước chỉ ra để phân biệt với loài gia súc, một tạo vật giữa mọi tạo vật mà Thiên Chúa đã dựng nên, chứ không là một hữu thể tối cao, một ác thần như đối thủ của Thiên Chúa tốt lành. Việc giải thích Cựu Ước theo nhị nguyên: cuộc xung đột giữa Thiện và Ác, bị loại bỏ ngay từ những trang đầu tiên của bộ Kinh Thánh.
Tại sao chọn lựa con rắn? Trước hết, trong hầu hết những chuyện tích thần thoại, cây trường sinh mà các thần linh giữ lấy cho riêng mình để hưởng dùng, chung chung được mãng xà, con rồng hay ác thú, đôi khi quái vật, canh giữ. Truyền thống Gia-vít đã hướng sự chú ý đến cây biết điều thiện điều ác, chính điều ác mà ông liên kết với con rắn. Nhưng thay vì để cho con rắn làm kẻ canh giữ không cho con người tiến gần cây biết thiện điều ác, thì lại mở lối cho người phụ nữ đến gần và kích động lòng ham muốn ăn trái cây của bà. Con rắn hành xử như một kẻ gian ác. Chính ở nơi nét bút đặc thù nầy mà chúng ta đánh giá sự tự do của tác giả Kinh Thánh khi sử dụng hình tượng ngoại giáo.
Vả lại, nhiều dân tộc thời xưa đã nêu bật một cách nào đó hình tượng của con rắn. Họ liệt con rắn vào số những biểu tượng của sự sống và sự tái sinh: việc rắn thay da theo định kỳ xem ra nó sở hữu những bí quyết đem lại nguồn thanh xuân vĩnh hằng. Vì thế, bộ ba: người phụ nữ – cây – con rắn thuộc vào hình tượng của những việc thờ cúng cầu xin sự phong nhiêu và phồn sinh. Khoa ảnh tượng tôn giáo của thiên niên kỷ thứ hai trước Công Nguyên cung cấp nhiều ví dụ về đề tài nầy. Chúng ta không loại trừ rằng khoa ảnh tượng nầy đã là nguồn gợi hứng cho tác giả Kinh Thánh phác họa bức tranh nầy, nhưng ông đã tách nó ra khỏi ý nghĩa duy nhiên.
Mặt khác, rắn, con vật ở trong hang sâu dưới lòng đất, gợi lên mối giao du thân cận với địa giới, âm phủ, nơi ở của những vong hồn và những quỷ thần đáng sợ. Do đó, con rắn được xem như biết những bí ẩn của việc sinh tử mà địa giới nắm giữ. Cuộc đối thoại của con rắn với người phụ nữ diễn ra theo hướng nầy: con rắn tự phụ là mình biết những thiên cơ hậu vận như Thiên Chúa.
Cuối cùng, việc con rắn bị nguyền rủa không phải là không có hậu ý bút chiến. Vào thời truyền thống Gia-vít soạn thảo câu chuyện nầy, dân chúng vẫn còn tôn thờ trong đền thờ con rắn đồng được đồng hóa nó với con rắn đồng mà ông Mô-sê giương cao trong sa mạc. Phải đợi đến vua Khít-ki-gia, vào thế kỷ thứ tám, mới phá bỏ việc thờ cúng ngẫu tượng nầy: “Chính vua đã dẹp các tế đàn ở nơi cao, đập bể các trụ đá, bổ các bàn thờ và đập tan con rắn đồng ông Mô-sê đã làm, vì cho đến thời đó, con cái Ít-ra-en vẫn đốt hương kính nó; người ta gọi nó là Nơ-khút-tan.” (2V18: 4).
Người phụ nữ:
Con rắn ngỏ lời với người phụ nữ: “Có thật Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được được ăn mọi thứ cây trong vườn không?”. Tên cám dỗ bắt chuyện với một mình người phụ nữ, vì bà đã không trực tiếp nghe những lời cảnh báo của Thiên Chúa. Ngoài ra, chắc chắn nó nghĩ rằng người phụ nữ nầy dễ bị xiêu lòng trước lời dụ dỗ ngon ngọt của nó hơn người nam. Mặt khác, đề tài về người phụ nữ đầu tiên phạm tội được gặp thấy ở nơi khác, chẳng hạn như ở Hy lạp trong câu chuyện thần thoại Pandore, người phụ nữ đầu tiên nầy mở cái chậu chứa đựng những điều xấu không phải lúc; vì thế, những điều xấu nầy tràn lan khắp mặt đất, chấm dứt hạnh phúc nguyên thủy của nhân loại.
Lời dụ dỗ dối trá:
Để có thể gieo nghi ngờ vào lòng người phụ nữ, con rắn khôn khéo giả vờ ngây thơ hỏi người phụ nữ:“Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn mọi cây trong vườn không?’” (3: 2). Theo cấu trúc câu của ngôn ngữ Híp-ri, đây không là một câu hỏi, nhưng là một câu nghi vấn mà người kể chuyện có dụng ý để nó trong thế lơ lững, nhằm để khích bác. Quả thật, người nữ phản ứng ngay tức khắc: “Trái cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái của cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn, không được động tới, nếu không, sẽ phải chết” (3: 3). Câu trả lời của người nữ cho thấy, dù không được Thiên Chúa truyền đạt trực tiếp, người nữ hiểu rất rõ tính nghiêm trọng của lời cảnh báo này.
Lúc đó, tên cám dỗ tìm cách tẩy xoá ý tưởng về Thiên Chúa tốt lành và thiện hảo trong tâm trí của người phụ nữ; nó trình bày Ngài như kẻ ghen tuông và lừa dối, muốn giữ lấy những đặc quyền cho riêng mình: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng vì Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (3: 5). Với những lời dụ dỗ bùi tai nầy, người phụ nữ bắt đầu nghi ngờ Thiên Chúa; chính ở nơi ý tưởng sai lầm về Thiên Chúa mà tội lỗi sắp bén rễ.
Tấn thảm kịch của sự tự do:
Lúc đó, người kể chuyện mô tả cuộc đấu tranh đang diễn ra trong lương tri của người nữ. Ông mô tả nó như cuộc chiến của một con người tự do, có trách nhiệm, hoàn toàn sáng suốt. Vì thế, không phải vì ăn trái cây biết điều thiện điều ác mà người nữ – và người nam- đã thủ đắc được sự biện phân điều thiện điều ác (như vậy sẽ là nghịch lý). Sự biện phân nầy (kể cả sự tự do) là một ân huệ của Đấng Sáng Tạo ban cho thụ tạo có lý trí của Ngài. Thiên Chúa đã quá mạo hiểm khi ban sự tự do cho con người. Một cuộc độc thoại diễn ra trong lòng của người nữ: “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn”. Đây thực sự là một trình thuật tinh tế điển hình của sự thử thách, của cơn cám dỗ. Tội lỗi xem ra luôn luôn có sức quyến rũ đối với con người.
Tội lỗi:
Vì thế, hành động của người nữ: “Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở với mình, ông cũng ăn”, diễn tả ý muốn toàn quyền quyết định, một sự tự mãn cao ngạo bất cần Thiên Chúa, nỗi khao khát tự mình quyết định điều thiện điều ác không cần thông qua lề luật của Thiên Chúa. “Việc cùng ăn một trái cây” liên hết hai người thành một cộng đồng cùng chung một trách nhiệm và một vận mệnh: “đồng hội đồng thuyền”, “đồng sinh đồng tử”. Đó chính là những đề tài rất nổi tiếng, và hơn cả đề tài, đó chính là những hành vi cúng tế và những nghi thức kết nghĩa huynh đệ trong xã hội.
Thế nên, trong thần thoại cũng như trong thực tế, những hành vi nầy – dù là những nghi thức kết giao đính ước nên vợ nên chồng, kết nghĩa huynh đệ đồng sinh đồng tử – đều có một điểm chung nhất đó là giới thiệu một tình huống bất khả đảo ngược. Vậy nên, trong những nghi thức kết giao, ai chấp nhận thức ăn mà người khác dâng hiến, dù khác nhau về bản tính hay môi trường, người đó dứt khoát trở nên “có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu” với người nầy. Theo đó, chúng ta có thể cho rằng chính con rắn (Xa-tan) dâng hiến trái cây, nó buộc chặt con người vào với nó vô phương cứu vãn, bởi vì con người, mà hai ông bà nguyên tổ đại diện, đã chấp nhận quà tặng của nó. Theo cách nầy, chắc hẳn tác giả của chuyện tích này đã muốn diễn tả con người đồng lõa với tội lỗi. Vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, những người đương thời của tác giả không phải là không biết tính chất nghiêm trọng của dấu chỉ này.
Mặt khác, thật là ý nghĩa biết bao khi truyền thống Gia-vít, vốn ý thức sâu sắc về hậu quả của tội (như phần tiếp theo của tác phẩm này cho thấy điều đó), đã chọn để mô tả tội đầu tiên, một hành vi cử chỉ bên ngoài xem ra vô hại như việc hái và ăn một trái cây, một trái duy nhất, từ cây mà người chủ vườn đã dành riêng cho mình; đáng lẽ ra tác giả đã có thể miêu tả một tội ác tày trời (ví dụ như tội Ca-in giết em mình là A-ben). Vì lẽ, ông đã không muốn chúng ta bị nhầm lẫn về bản chất của tội: tội trước hết là một sự xúc phạm trực tiếp đến Thiên Chúa, tác động đến mối tương giao theo chiều dọc giữa Thiên Chúa và con người.
Họ thấy mình trần truồng:
Tất cả những gì con người đánh mất do tội, người kể chuyện diễn tả một cách gợi hình: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng”. Sự trần truồng theo Cựu Ước có nghĩa sự yếu đuối, sự bơ vơ lạc lỏng, không nơi nương tựa, bảo vệ và che chở. Vì tội, hai ông bà đã đánh mất sự nương tựa, tức là Thiên Chúa, đã đánh mất những ân phúc tinh thần mà vườn địa đàng là biểu tượng; họ ý thức tình trạng tội lỗi của mình. Dấu chỉ đầu tiên của tội là xấu hổ vì thấy mình trần truồng, điều nầy đánh dấu sự đồi trụy trong mối quan hệ phái tính. Vết thương của tội chắc hẳn đã làm xáo trộn cách đặc biệt trật tự tính dục, và qua đó, tất cả mọi liên hệ của con người.
Tính lịch sử của tội:
Chuyện tích của sách Sáng Thế không có tính lịch sử. Tuy nhiên, sứ điệp mà nó trao gởi cho chúng ta mặc khải cho chúng ta rằng thân phận tội lỗi của con người là một sự kiện không “thuộc về bản tính”, nhưng “thuộc về lịch sử”. Thiên Chúa đã không tạo dựng con người gian ác; Ngài đã tạo dựng nên họ tốt lành và tự do (chuyện tích thứ nhất xác định:“theo hình ảnh và họa ảnh của Ngài”). Thiên Chúa vốn rất mực tốt lành đã không thể tạo ra Sự Ác. Chính sự tự do của con người đã là mầm móng của mọi điều ác.
Tuy nhiên, con người không hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc Sự Ác xâm nhập thế gian, còn có tên cám dỗ, đây là một tình tiết giảm tội. Đó không phải là lý do vì sao đã có sự chuộc tội cho con người, trong khi không có sự chuộc tội cho Sa-tan sao? Đức Kitô đã gợi lên tấm thảm kịch nguyên tổ nầy:“Xa-tan là tên sát nhân ngay từ khởi đầu; nó là tên nói láo và cha của sự dối trá”.
Kinh nghiệm lịch sử:
Chúng ta có thể nghĩ rằng để xây dựng câu chuyện của mình, nhà biên soạn Kinh Thánh đã nhận nguồn cảm hứng từ chính lịch sử của dân tộc mình. Dân Chúa chọn đã được “lấy” từ hoang địa mà đưa vào Đất Hứa “chảy sữa và mật”, cũng như A-đam đã được “lấy” từ đất hoang dã mà đặt vào trong vườn Địa Đàng. Đối với Ít-ra-en, ngoài Đất Hứa ra còn có ân ban Lề Luật; cũng như đối với A-đam, ngoài vườn Địa Đàng ra còn có huấn lệnh của Thiên Chúa. Chúng ta gặp thấy ở nơi sách Đệ Nhị Luật cũng một cách nói: “Nếu anh em nghe huấn lệnh của Thiên Chúa, Chúa của anh em, anh em sẽ được sống… Nhưng nếu anh em thay lòng đổi dạ…thì hôm nay tôi báo cho anh em biết: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong… Tôi đưa ra cho anh em chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa.” (Đnl 30: 15-20).
Những khía cạnh ngôn sứ:
Những khía cạnh ngôn sứ của chuyện tích thì rất nhiều và sâu sắc. Trong một linh cảm đáng ngạc nhiên, tác giả linh hứng đã định vị tấm bi kịch nguyên thủy vào trong một cuộc chạm trán giữa người phụ nữ với Tên Cám Dỗ, ở giữa lòng thiên nhiên còn nguyên sơ. Tin Mừng trình bày một chạm trán trực diện giữa Đức Giê-su và Xa-tan ở giữa lòng hoang địa. Người nữ đã vấp ngã trong khi Đức Giê-su lại chiến thắng tên Xảo Trá. Rõ ràng, bài trình thuật Sáng Thế này là khúc dạo đầu của bài ca khải hoàn dứt khoát của Chúa Giê-su.
Khi cho nhân vật phụ nữ một vai trò ưu thế, phải chăng tác giả muốn vén mở cho chúng ta thoáng thấy một dung mạo nữ giới khác, Đức Ma-ri-a, một tạo vật duy nhất thuộc dòng giống loài người chúng ta, đã hưởng được tình trạng vô tội trước khi nguyên tổ phạm tội, tức là tình trạng “tiền a-đam” như cách nói của các nhà thần học? Đối lại với tiếng “vâng” của bà tổ E-và với Xa-tan, sẽ là lời đáp trả “xin vâng”của Đức Ma-ri-a với sứ thần. Bà E-và ở nơi nguyên khởi của tội, Đức Ma-ri-a ở nơi nguyên khởi của Ơn Cứu Chuộc. Con người muốn trở thành Thiên Chúa, trong khi Thiên Chúa sẽ trở thành một phàm nhân, như câu nói bất hủ của thánh Giáo Phụ I-rê-nê: “Thiên Chúa làm người để con người trở thành con cái của Thiên Chúa”.
Thêm nữa, làm thế nào sự linh cảm nầy không làm chúng ta xúc động sâu xa hơn, thấm thía hơn? Bản văn không gợi ra một cách nào đó: đáp lại “việc ăn sinh nên tội” của hai ông bà nguyên tổ là bàn tiệc Tân Ước, ở đó “việc ăn mang lại ơn cứu chuộc”; và đối lại những lời dụ dỗ dối trá của Tên Cám Dỗ: “Nếu ông bà ăn trái nầy, ông bà sẽ không phải chết” là những lời hứa ban sự sống của Ngôi Lời nhập thể: “Nếu các ngươi ăn bánh nầy, các ngươi sẽ không chết bao giờ” .
BÀI ĐỌC II (Rm 5: 12-19)
Bài Đọc II, trích từ thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Rô-ma, đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử tư tưởng Ki-tô giáo. Chính trên bản văn nầy mà Giáo Hội đặt nền tảng cho đạo lý của mình về tội nguyên tổ, bằng cách quy chiếu đến chuyện tích của sách Sáng Thế, như thánh Phao-lô đã làm.
Thánh Phao-lô đã đọc lại chuyện tích nầy dưới ánh sáng của mầu nhiệm Nhập Thể: chính khởi đi từ Đức Giê-su mà thánh nhân khai triển tư tưởng của mình, sự can thiệp cứu chuộc của Đức Ki-tô hình thành nên cơ sở của tất cả lập luận; sự liên đới của Đức Kitô với toàn thể nhân loại tội lỗi (liên đới hữu thể như lời phát biểu của thánh nhân: “Chúng ta là thân thể của Đức Kitô”), dọi chiếu ánh sáng trên bản văn của sách Sáng Thế. Từ đây, triều đại tội lỗi đối lập với triều đại ân sủng.
Lập luận của thánh Phao-lô:
Sau khi đã chứng minh rằng tội lỗi thống trị trên toàn thể nhân loại, thế nên mọi người bất luận là dân Do thái hay dân ngoại đều cần đến ơn cứu chuộc, thánh nhân truy nguyên đến tận nguồn gốc của tội bằng cách nêu bật sự tương phản giữa A-đam thứ nhất và A-đam thứ hai (Đức Giê-su).
Thánh nhân xây dựng lập luận của mình theo phép song đối nghịch đảo để nêu bật sự tương phản giữa A-đam thứ nhất và A-đam thứ hai (Đức Giê-su). Theo phép song đối nghịch đảo nầy, tiền đề được phát biểu một cách minh nhiên: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (5: 12), nhưng phản đề lại không hiển hiện, ít ra không được đặt ngay liền sau đó, bởi vì các câu 13-14 được chen vào. Tuy nhiên, phản đề nầy được hiểu một cách mặc nhiên theo trình tự hợp lý của phép song đối nghịch đảo: “Qua A-đam đầu tiên, tội lỗi và sự chết đã xâm nhập thế gian như thế nào; qua A-đam thứ hai (Đức Kitô) ơn công chính hóa và sự sống đời đời xâm nhập thế gian cũng như thế”.
Sự gián đoạn của phép song đối nghịch đảo nầy rất có ý nghĩa. Nó nói lên không có cùng chung mức độ giữa việc A-đam vi phạm và sự phục hồi được Đức Ki-tô thực hiện. Đức Ki-tô là nguồn mạch viên mãn của ân sủng trong khi A-đam chỉ là đường dẫn qua đó “tội lỗi đã xâm nhập thế gian” và “sự chết đã lan tràn tới mọi người”. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự tương phản không cùng một mức độ nầy ở nơi những song đối nghịch đảo của 5: 15-17 và 5: 18-19, và lần cuối cùng 5: 20 với những ngôn từ và những chi tiết khác nhau. Chúng ta có thể nói rằng thánh Phao-lô đã nhận được nguồn cảm hứng từ Kn 2: 23-24: “Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian”. A-đam đã mở ra một lỗ hỏng qua đó Sự Ác đã ùa vào gây ra những tàn phá. Sự Ác được trình bày như một quyền năng, hầu như được nhân cách hóa, có trước A-đam.
Triều đại của tội lỗi:
Tội lỗi cũng được nhân cách hóa, như một sức mạnh thù địch chống lại con người: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết” (5: 12a). Sự chết cốt yếu là sự chết tinh thần (cho dù thánh Phao-lô cũng thiết lập mối liên hệ giữa sự chết thể lý và tội lỗi mà sự chết là dấu chỉ).
Câu phát biểu nổi tiếng: “Như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (5: 12b) nầy đã gây nên những cuộc tranh luận và những giải thích khác nhau do cách hiểu “đại từ quan hệ” của Hy ngữ được đặt sau giới từ chỉ nguyên nhân: “bởi vì”. Chung quy có hai cách đọc và hiểu đại từ quan hệ nầy.
Cách đọc thứ nhất hiểu đại từ quan hệ nầy quy chiếu đến A-đam: “Như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì ông, mọi người đều phạm tội”. Cách đọc nầy đặt mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa tội của A-đam với toàn thể nhân loại. Cách đọc thứ hai hiểu đại từ quan hệ nầy quy chiếu đến sự chết của câu đi trước theo chức năng văn phạm của câu: “Như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì sự chết nầy, mọi người đã phạm tội”. Cách đọc nầy hiểu sự chết như chuẩn y tội phản nghịch của A-đam.
Xin nhắc lại rằng Công Đồng Tren-tô đã đặt nền móng cho đạo lý về tội nguyên tổ của mình trên toàn bộ bản văn, chứ không trên một câu. Dù thế nào, thánh Phao-lô đặt sự chết tinh thần của nhân loại dưới ba mối quan hệ: Sự Ác – A-đam – mọi người, những mối quan hệ nhân quả được thêm vào mà không loại trừ nhau. Thêm nữa, thánh nhân nhấn mạnh điều nầy trong toàn bộ chương – không một ai“do tự sức riêng của mình” có thể thoát khỏi dòng giống tội lỗi này: nhân tính đã bị thương tổn. Có mối liên hệ hữu thể giữa dòng giống loài người.
Thánh Phao-lô sẽ chứng minh theo cách khác sự thâm căn cố đế của tội. Trước khi có Lề Luật Mô-sê, tội đã có mặt trong thế gian rồi. Thánh nhân phân biệt ở đây sự vi phạm và tội lỗi. Khi có Lề Luật, việc không tuân thủ Lề Luật được xem là vi phạm; nhưng Lề Luật thực sự chỉ làm lộ ra chân tướng của tội lỗi, bộc lộ tội lỗi ra bên ngoài, vì thế Lề Luật không thể gây nên tội lỗi, bởi vì tội lỗi có trước Lề Luật.
Triều đại ân sủng.
Rõ ràng A-đam là tiên trưng phản diện của Đức Giê-su. Chúng ta cảm thấy rằng thánh nhân đã bị đánh động cách mãnh liệt bởi viễn cảnh phi thường nầy: Đức Ki-tô tự đặt mình liên đới với nhân loại tội lỗi để phá vỡ mối dây ràng buộc nhân loại với sự ác và giúp con người có khả năng tìm gặp lại sự sống thần linh. Thánh Phao-lô phóng chiếu vào trong quá khứ một sự liên đới đầu tiên thuộc loại suy trên dung mạo của A-đam,. Nhưng sự liên đới thứ hai thì cao vời vô tận so với sự liên đới đầu tiên. Nguồn ân sủng sung mãn trổi vượt biết mấy trên muôn vàn tội lỗi.
Chính lúc đó thánh nhân mới có thể lấy lại sự so sánh còn bỏ ngỏ: “Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.” (5: 15b). Đó là điểm nhắm mà thánh Phao-lô muốn đạt đến: triều đại tội lỗi đến hồi kết thúc, trong khi triều đại ân sủng được thiết lập muôn đời bền vững. Đức Ki-tô, vị lãnh tụ mới của con cái loài người, hướng dẫn loài người đạt đến ơn công chính hóa và sự sống.
TIN MỪNG (Mt 4: 1-4)
Chuyện tích “Chúa Giê-su rút vào hoang địa và chịu ma quỷ cám dỗ” được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại. Dù có nhiều chi tiết khác nhau, tuy nhiên cả ba đều đặt biến cố này ngay sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả. Cả ba Tin Mừng đều nhấn mạnh việc Chúa Giê-su rút lui vào hoang địa và chịu ma quỷ cám dỗ là dưới tác động của Chúa Thánh Thần.
Gốc tích câu chuyện:
Không ai được chứng kiến tận mắt biến cố nầy, vì thế phải giả sử rằng nguồn cung cấp duy nhất của mọi dữ kiện nầy không ai khác hơn ngoài Đức Giê-su. Đây là cuộc chuyện trò riêng tư giữa Thầy và trò. Vì thế, chúng ta đến câu chuyện nầy với lòng cung kính tuyệt đối, vì qua đó Đức Giê-su đã thổ lộ những sâu kín trong lòng của Ngài. Ngài đã cho loài người biết kinh nghiệm của chính Ngài. Đây là câu chuyện thánh hơn hết vì qua đó Đức Giê-su muốn nói với mỗi người rằng Ngài có thể giúp đỡ chúng ta trong những chước cám dỗ. Từ những cuộc chiến đấu của chính Ngài, Ngài đã cho chúng ta thấy Ngài có thể giúp chúng ta trong cuộc chiến đấu của chính chúng ta. Vào cuối đời, Đức Giê-su đã có thể nói với các môn đệ: “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan” (Lc 22: 28). Vả lại, Đức Giê-su ám chỉ rõ ràng đến sự chiến thắng của Ngài trên quyền lực quỷ vương bằng một dụ ngôn: “Làm sao người ta có thể vào nhà một kẻ mạnh và cướp của được, nếu không trói kẻ mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó?” (Mt 12: 29).
Hoang địa:
Hoang địa nơi Đức Giê-su rút lui là sa mạc Giu-đê, trải dài giữa Giê-ru-sa-lem và Biển Chết. Dãi đất hoang vu nầy toàn cát vàng, đá vôi bễ vụn và đá sỏi rải rác. Đó là nơi Đức Giê-su thấy mình trơ trọi hơn bất cứ nơi nào khác trong toàn xứ Pa-lét-tin. Những chước cám dỗ đã có thể mặc lấy hình thức của cuộc tranh luận nội tâm, diễn ra trong suốt cuộc rút lui vào hoang địa nầy như hai thánh Mác-cô (Mc 1: 13) và Lu-ca (Lc 4: 2) gợi ra, đoạn đạt đến cực điểm, vì sự yếu nhược thể lý của Đức Giê-su, do bởi ăn chay lâu dài như thánh Mát-thêu gợi ra (Mt 4: 3).
Đức Giê-su chuẩn bị sứ mạng của mình trong thinh lặng, cầu nguyện và chay tịnh. Hơn nữa, khi người ta ăn chay, có nghĩa người ta khiêm tốn nhận ra mình là tội nhân. Việc Đức Giê-su chay tịnh được định vị vào trong tiến trình nối tiếp sau việc Ngài chịu phép rửa, như vậy Ngài cũng muốn được liên đới với toàn thể nhân loại tội lỗi.
Đồng thời, Đức Giê-su cũng bày tỏ ước nguyện của mình là thu tóm ở nơi bản thân mình vận mệnh của dân Ngài. Như dân Ngài, Ngài đã kinh qua cuộc lưu đày ở Ai-cập khi còn ấu thơ (Mt 2 : 13-16); giờ đây, Ngài trải qua kinh nghiệm ở hoang địa bốn mươi đêm ngày, con số này nhắc nhở bốn mươi năm dân Do thái đã trải qua trong hoang địa, cũng như bốn mươi đêm ngày ông Mô-sê chuẩn bị để đón nhận những lời Giao Ước trên núi Xi-nai.
Chính ông Mô-sê mà thánh ký đặc biệt nghĩ đến, như được bày tỏ trong chuyện tích cám dỗ này. Như ông Mô-sê xuống núi Xi-nai để công bố Giao Ước, Giao Ước này thiết lập dân Ít-ra-en thành dân Chúa chọn; cũng vậy, Đức Giê-su sẽ rời bỏ hoang địa để thiết lập một Giao Ước Mới và khai sinh một dân Ít-ra-en mới. Đối chiếu với bốn mươi ngày trong hoang địa, chúng ta cũng sẽ gặp thấy cùng khoảng thời gian giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên của Đức Giê-su : “Trong bốn mươi ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (Cv 1: 3).
Ba chước cám dỗ :
Một mặt, ba chước cám dỗ diễn tiến theo trình tự của ba chước cám dỗ chính yếu mà dân Do thái đã trải qua trong hoang địa: bánh man-na (Xh 16 : 4), điềm thiêng dấu lạ (Xh 17) và thờ ngẫu tượng (Xh 32); nhưng trong khi dân Ít-ra-en thất bại trước những chước cám dỗ này, thì Đức Giê-su lại chiến thắng vẻ vang. Mặt khác, ba chước cám dỗ này đều có một nét chung: cả ba đều được sắp xếp nhằm trình bày những quan niệm sai lầm về Đấng Mê-si-a mà Đức Giê-su sẽ gặp phải trong suốt sứ vụ của Ngài. Trong hoang địa, Ngài có đủ sáng suốt và sức mạnh cần thiết để chế ngự chúng.
Đấng Mê-si-a trần thế :
Sau khi đã ăn chay suốt bốn mươi đêm ngày, Đức Giê-su cảm thấy đói. Quỷ cám dỗ Ngài biến những hòn đá thành bánh: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi !”. Quỷ muốn thử thách quyền năng của Đấng đã nhận tước hiệu “Con Thiên Chúa” vào lúc Ngài chịu phép rửa. Cũng một cách như vậy, những kẻ thù Ngài chế nhạo và thách đố Ngài ở dưới chân thập giá:“Hãy cứu lấy mình đi, nếu mày là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 40). Hai chước cám dỗ nầy rất đối xứng với nhau: lạm dụng quyền Con Thiên Chúa để mưu cầu tư lợi cho riêng mình. Đức Giê-su đã đẩy lùi chước cám dỗ nầy: Ngài sẽ chỉ sử dụng quyền năng của mình để phục vụ tha nhân.
Xưa kia khi dân Do thái phải đói trong hoang địa và đã nhận được bánh man-na, ông Mô-sê cảnh giác họ đề phòng mọi tham lam của cải vật chất: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8: 3). Đức Giê-su đáp lại Xa-tan cũng bằng những lời nầy, qua đó Đức Giê-su không chỉ không để lộ chân tính của Ngài, nhưng tự đồng hoá mình với nhân loại. Một ngày kia, trong khi Đức Giê-su đói, các môn đệ của Ngài mang đến cho Ngài lương thực, Ngài trả lời:“Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết… Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy…” (Ga 4: 32-33).
Đấng Mê-si-a đầy quyền năng:
Sau khi đặt Đức Giê-su trên nóc đền thờ Giê-ru-sa-lem, Xa-tan đề nghị với Đức Giê-su thực hiện một kỳ công ngoạn mục, nhờ đó Ngài có được một uy thế lớn lao đối với dân chúng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống coi”. Với sự khôn khéo xảo quyệt, Xa-tan trích dẫn Thánh Vịnh 91 theo đó người công chính hoàn hảo, được Thiên Chúa phù trì che chở và truyền cho thiên sứ tay đỡ tay nâng cho khỏi bị vấp chân vào đá (Tv 91 : 11-12, 15).
Xưa kia, trong hoang địa, chính dân Do thái cũng đã thách thức Thiên Chúa như vậy: nếu Ngài không ban cho họ nước uống ngay tức khắc, thì họ sẽ nghi ngờ sự hiện diện của Ngài (Xh 17: 1-7), dù trước đó Ngài đã ban cho họ bánh kỳ diệu. Nhờ quyền năng Thiên Chúa, ông Mô-sê đã ban cho họ nước phun ra từ tảng đá, tuy nhiên ông trách cứ nghiêm khắc dân cứng đầu cứng cổ nầy: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 6: 16).
Đức Giê-su đã trả lời cho sự thách đố của Xa-tan cũng bằng chính lời của ông Mô-sê: “Ngươi chớ thách thức Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Qua đó, Đức Giê-su bác bỏ lời đề nghị của Xa-tan: Ngài không đòi hỏi Thiên Chúa độ trì che chở Ngài đến độ đặt Ngài ra ngoài thân phận thường tình của con người. Sau nầy, Đức Giê-su cũng đã nhiều lần bị thách thức theo chiều hướng nầy: những người Biệt Phái đòi hỏi Ngài một dấu lạ ngoạn mục từ trời để chứng thực Ngài là Đấng Mê-si-a; nhưng Ngài sẽ không ban cho họ.
Đấng Mê-si-a thống trị thế giới :
Chước cám dỗ thứ ba được định vị trong môi trường khải huyền: một ngọn núi tưởng tượng, Xa-tan chủ tể của mọi vương quốc. Chắc chắn, những hình ảnh được dùng nhằm nhấn mạnh cuộc chiến nội tâm mà Đức Giê-su phải đương đầu: chước cám dỗ về một Đấng Mê-si-a thống trị thế giới.
Đấng Mê-si-a mà dân Do thái chờ đợi mặc lấy nhiều dung mạo; nhưng phần đông hy vọng một Đấng Mê-si-a khải hoàn và chiến thắng, Đấng sẽ khôi phục lại vương quốc Đa-vít, qua đó, sẽ cho phép Thiên Chúa thống trị toàn thế giới. Một chương trình tuyệt vời, nhưng không một chút nào là chương trình của Đức Giê-su. Ngài đến với tư cách là “Người Tôi Trung” và “Con Người”, đó là hai tước hiệu Mê-si-a mà Ngài quy chiếu về mình. Khi đám đông phấn chấn muốn tôn Ngài lên làm vua, Ngài liền lánh mặt (Ga 6: 15). Ở Xê-da-rê Phi-líp-phê khi thánh Phê-rô ra mặt chống đối viễn cảnh về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ, Đức Giê-su mạnh mẽ đẩy lùi cơn cám dỗ nầy: “Xa-tan, hãy lui lại đằng sau Thầy!”(Mt 16: 23). Đó cũng là mệnh lệnh mà Ngài ra lệnh cho Tên Cám Dỗ trong hoang địa: “Xa-tan kia, xéo đi!”. Trong cuộc đời của Ngài, chưa bao giờ xảy ra một cuộc chiến đấu với chước cám dỗ nào dữ dội như cuộc chiến đấu tại vườn Ô-liu, khi quỷ tìm cách cám dỗ Ngài từ chối con đường thập giá.
Thánh ký đồng hoá quyền thống trị thế giới với sự khuất phục dưới quyền Xa-tan. Sau nầy, Đức Giê-su vạch mặt chỉ tên Xa-tan là “thủ lãnh thế gian nầy” (x. Ga 12: 31; 14: 30; 16: 11; 1 Ga 3: 8). Thánh Phao-lô cũng đồng hoá những quyền thống trị thế giới với những thế lực Sự Ác: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước nhưng mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thàn linh quái ác chốn trời cao” (Ep 6: 11-12).
Xưa kia, ngay cả trước khi vào Đất Hứa, dân Do thái để cho mình bị cám dỗ thờ lạy ngẫu tượng (thờ bò vàng), ông Mô-sê đã mạnh mẽ xác quyết: “Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ” (Đnl 6: 13). Đức Giê-su cũng đáp trả bằng những lời xác quyết mạnh mẽ như thế: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”. Lúc đó, thánh Mát-thêu ghi lại một chi tiết có ý nghĩa:“Lập tức có thiên sứ đến gần hầu hạ Ngài”, nghĩa là, Đức Giê-su đích thật là Đấng Công Chính hoàn hảo mà Thánh vịnh 91 tiên báo.
Đức Giê-su đã không chọn những của cải trần thế, nhưng sự nghèo khó; Ngài đã không chọn quyền thế, nhưng sự khiêm hạ; Ngài đã không chọn thờ quyền thống trị thế giới, nhưng Ngài thích bị kết án một cách bất công là “ vua dân Do thái” hơn.
(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt
———————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A
CÁM DỖ TẠI HOANG ĐỊA – Lm Fx. Vũ Phan Long, ofm
1.- Ngữ cảnh
Đoạn văn này nằm trong Phần Mở của Tin Mừng Mt, mà chúng ta có thể xác định vị trí theo lược đồ sau đây:
A = Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả và câu trích Is 40,3 (3,1-4)
B = Gioan và Đức Giêsu: cuộc đối đầu giữa các niềm hy vọng Đấng Mêsia (3,5-15)
C = Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha đăng quang Mêsia, với câu nhắc đến Is 42,1 (3,16-17)
B’= Đức Giêsu và ma quỷ: Loại trừ niềm hy vọng Đấng Mêsia trần tục (4,1-11)
A’= Lời rao giảng của Đức Giêsu và câu trích Is 8,23–9,1 (4,12-17). Kết luận và chuyển mạch (4,18-25).
Trong phân đoạn này, tác giả Mt đã vận dụng các đoạn Cựu Ước mà ta có thể thấy qua bảng đối chiếu sau:
| Mt 4,1 | Đnl 8,2-3 |
| Mt 4,2 | Xh 34,28; x. Đnl 9,9 |
| Mt 4,4 | Đnl 8,3 |
| Mt 4,6 | Tv 91,11-12 (LXX) |
| Mt 4,7 | Đnl 6,16 |
| Mt 4,8 | Đnl 34,1 |
| Mt 4,10 | Đnl 6,13 |
| Mt 4,11 | Xh 11,14; x. Đnl 32,11; Tv 91,10-11 |
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành năm phần:
1) Mở (4,1-2);
2) Cám dỗ thứ nhất (4,3-4);
3) Cám dỗ thứ hai (4,5-7);
4) Cám dỗ thứ ba (4,8-10);
5) Kết (4,11).
3.- Vài điểm chú giải
– Thần Khí dẫn vào hoang địa (1): Chính là Thần Khí đã xuống trên Đức Giêsu tại sông Giođan nay dẫn (anagô) Người vào hoang địa.
– hoang địa (1): Đây là một đề tài quan trọng của Kinh Thánh, vì hoang địa gây ảnh hưởng trong suốt lịch sử Dân Thiên Chúa. Lịch sử này đã ghi lại hai kỷ niệm có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng thật ra là hai mặt của cùng một hoàn cảnh. (1) Thời gian ở trong hoang địa trước tiên được trình bày như là thời kỳ sống lý tưởng của Dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Trong thời kỳ này, lý tưởng tôn giáo của họ phát triển phong phú và họ sống lý tưởng này ở mức hoàn hảo. (2) Thời kỳ này cũng còn được coi như một thử thách, thậm chí một hình phạt dành cho tội lẩm bẩm kêu ca và bất phục tùng. Quả thật, hoang địa vừa là nơi con người tách mình khỏi trần thế để được thanh luyện, vừa là nơi thử thách.
– để chịu quỷ dữ cám dỗ (1): Đây là một sự chọn lựa nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Tư cách Mêsia của Đức Giêsu cần được thử thách. Và sự thử thách này là một chặng cần thiết trong ơn gọi của Đức Giêsu, trong tư cách Israel mới.
– quỷ dữ (1): Từ ngữ Hy Lạp diabolos có nghĩa là “kẻ vu khống”, “kẻ tố cáo” (động từ diaballô, “tố cáo”; “kết án”). Bản LXX đã dùng diabolos để dịch từ Híp-ri satan (HL satanas). Trong Kinh Thánh, “quỷ” xuất hiện ra như là kẻ tố cáo (x. Dcr 3,1-5; G 1–2; Tv 109,6), ông hoàng của thế gian (Ga 12,31; 14,30), tên cám dỗ (G 1,8-12; 2,1-6; 2 Sm 24,1tt; 1 Sb 21,1; Kn 2,24; 1 Tx 3,5; 1 Cr 7,5; 2 Cr 11,3-15; Rm 16,17-20…). Dù với tên gọi nào, “quỷ” cũng là một “đối thủ” (nghĩa nguyên thủy của từ satan), một kẻ thù của Thiên Chúa và của loài người, nghĩa là chống lại sự thiện. Xem trong Mt: 6,13; 8,28; 12,22; 12,24; 13,25; 16,23…
– Người ăn chay suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm (2): Con số 40 chỉ một thời gian khá dài và có sắc thái là một sự hoàn tất với kết quả tích cực là giải aphóng và xây dựng con người. So với Lc, Mt thêm “bốn mươi đêm” để ám chỉ thời gian Đức Giêsu ở trong hoang địa tương đương với thời gian Môsê ăn chay trên núi cao để rồi sau đó được Đức Chúa ban cho các điều khoản của Giao ước (Xh 34,28; x. Xh 25,18). Nhưng cũng có thể Mt muốn ám chỉ đến Êlia nữa (x. 1 V 19,8: ăn chay trong hành trình tiến về núi Khôrép). Hai dung mạo vĩ đại này, đại diện cho Lề Luật và các Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Hiển Dung của Đức Giêsu (cuộc Hiển Dung này chính là cuộc thần hiển. Sau đó sẽ có việc thiết lập Giao Ước mới nhờ cuộc Khổ Nạn–Phục Sinh của Đức Giêsu). Có lẽ Mt muốn nói rằng việc Đức Giêsu ăn chay đã tóm kết cách nào đó kinh nghiệm của Môsê và Êlia, cũng như các cám dỗ sẽ tóm kết lịch sử của Israel tại hoang địa.
– Nếu ông là Con Thiên Chúa (3): Cám dỗ này do bởi quỷ và thử thách dưới chân thập giá do bởi người Do Thái (Mt 27,40) song song với nhau: chúng nhắm đến tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Đây cũng là một lời thách thức Đức Giêsu làm lại các cử chỉ của Môsê, để chứng tỏ thời đại thiên sai đã đến. Không có lời nhắc đến man-na, nhưng câu trả lời của Đức Giêsu khiến nghĩ đến man-na.
– đã có lời chép rằng (4): Gegraptai là thì hoàn thành (perfect) ở thái bị động của động từ graphô, “viết”. Thái bị động này thay tên Thiên Chúa, nên có thể hiểu là “Thiên Chúa đã viết”.
– vinh hoa của các nước ấy (8): Doxa (HL), “vinh quang”, đây là một từ ngữ Kinh Thánh để chỉ sự lộng lẫy huy hoàng hoặc giàu sang, sung túc, được tỏ ra bên ngoài.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Mở (1-2)
Bản văn này được liên kết với bài tường thuật về phép Rửa. Tại sông Giođan, Thần Khí Thiên Chúa đã được ban cho Đức Giêsu, nay cũng Thần Khí ấy lại dẫn Người vào hoang địa. Chiều hướng của bản văn là: Bởi vì Đức Giêsu đến hoàn tất nỗi chờ mong của dân Người, nhất thiết Người phải đảm nhận mọi chiều kích của lịch sử dân Người: ở tại Ai Cập (2,13-15), đi qua sông Giođan (3,13-17), cám dỗ trong hoang địa (4,1-11). Qua các cám dỗ, Đức Giêsu cho thấy Người chấp nhận trọn vẹn thánh ý Chúa Cha; Người loại trừ mọi thứ cung cách Mêsia mà Thiên Chúa không muốn (mà chính Gioan Tẩy Giả đã hình dung), để chấp nhận làm một Mêsia chịu đóng đinh.
Tất cả bài tường thuật về ăn chay và cám dỗ tập trung vào các biến cố của cuộc Xuất Hành. Dân Israel cũng là “con yêu dấu của Thiên Chúa”, nhưng tất cả hành trình trong hoang địa cho thấy họ đã là một đứa con nổi loạn và thất trung (x. Đnl 6,16; 17,2.7; ch. 32–34; Ds 14,22; các Tv: Tv 78,18-41; 81,11; 95,8; 96,6; các ngôn sứ: Gr 7,22; Ed 20,5; Is 63,10. Xem các tác giả Tân Ước: Dt 3,16; Gđ 5). Quả thật, ngôn ngữ của câu đầu đã khiến chúng ta nhớ đến Đnl 8,2 (LXX) và như ám chỉ đến hoàn cảnh của Israel tại hoang địa: “… Thiên Chúa đã dẫn (êgagen; Mt: an-ago ) …, như vậy Người thử thách (ekpeirasê; Mt: peirasthênai)…”. Bản văn Đnl nói rằng Thiên Chúa “thử thách” dân để “biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không”. Còn ở đây, trong bản văn Mt, “thử thách” là để phá hỏng và kẻ “thử thách” là quỷ, chứ không phải là Thiên Chúa. Tại hoang địa, Đức Giêsu vừa tóm kết kinh nghiệm của Môsê và Êlia, vừa tóm kết lịch sử của dân Israel trong hoang địa.
Sức con người có thể nhịn ăn nhịn uống được đến thế? Chắc chắn là có, như trường hợp thánh Phanxicô Assisi sau này. Nhưng ở đây, tác giả còn muốn nói một điều khác: cũng như trong trường hợp Môsê, ở đây chính Thiên Chúa nâng đỡ Đức Giêsu, vì Người tin tưởng gắn bó với Thiên Chúa. Nếu như thế, cảm giác đói sau bốn mươi ngày, chính là mộtthử thách: Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi Đức Giêsu? Cám dỗ thứ nhất được tháp vào điểm này.
* Cám dỗ thứ nhất (3-4)
Trong cám dỗ này, quỷ thách thức Đức Giêsu lặp lại các cử chỉ của Môsê, nhưng không phải bằng cách làm mưa man-na, nhưng bằng cách rút bánh ra từ các tảng đá. Đây cũng là một thách thức nhắm vào tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Từ ngữ “nếu” nhằm gieo một sự hoài nghi vào tâm trí Đức Giêsu (x. Mt 27,40). Trong cả hai trường hợp, ở đây và trên thập giá, quỷ (ở đây; trên đồi Sọ: quỷ hiện thân nơi “những người qua lại”) thúc đẩy Đức Giêsu sử dụng những quyền lực thiên sai để thoát khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm (đói ở hoang địa; chết trên thập giá).
Thiên Chúa đã để cho Israel đi qua thử thách là cái đói, để kiểm chứng lòng tín thác của họ (x. Đnl 8,2-3). Họ đã lẩm bẩm kêu ca, tiếc nuối Ai Cập. Đức Giêsu cũng cảm thấy đói; Người có thể nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Quỷ gợi ý cho Người, trong tư cách là “Con Thiên Chúa”, tin vào quyền năng làm phép lạ của mình, và như thế là xúi giục Đức Giêsu nghi ngờ và bất phục tùng Thiên Chúa. Đức Giêsu dứt khoát dựa vào Kinh Thánh (sách Đnl; gegraptai) để nói “không” với quỷ; Người tiếp tục cậy dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa (x. 27,43). Sách Khôn ngoan nói rằng: “Lời Ngài mới giữ gìn chăm sóc những ai hằng tin tưởng vào Ngài” (Kn 16,26). Tin Mừng Gioan cho thấy là lương thực mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, vẫn dùng chính là thi hành ý muốn của Chúa Cha (x. Ga 4,34). Đấng Mêsia không có nhiệm vụ vun trồng những ảo tưởng dễ dãi, nhưng thức tỉnh niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa.
* Cám dỗ thứ hai (5-7)
Sau cám dỗ thứ nhất, Đức Giêsu đã náu mình vào trong sự che chở của Thiên Chúa. Với câu Tv 91,11, quỷ đề nghị Người, vẫn trong tư cách “Con Thiên Chúa”, gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống đất: đây hẳn là đáp lại sự chờ đợi của dân chúng, vì họ được loan báo là Đấng Mêsia sẽ xuất hiện trên núi Sion, cũng được đồng hóa với Đền Thờ (các sách ngụy thư Ét-ra IV [13,34-37]; Khải huyền Barúc [40,12]). Dù sao đây cũng vẫn là xúi Đức Giêsu vận dụng sự che chở của Thiên Chúa vào hướng xấu, như Israel đã làm, khi đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp (x. Xh 17,1-7; Ds 14,22; Đnl 6,16; Tv 95,8-11). Đây chính là áp đặt ý muốn của con người cho Thiên Chúa. Cùng một chiều hướng như thế, trong Mt, có các truyện các đối thủ Đức Giêsu xin những dấu lạ từ trời (12,38-42) hoặc đề nghị Người xuống khỏi thập giá (27,49); trong Lc, có giai thoại các môn đệ muốn xin lửa xuống thiêu hủy thành không hiếu khách (Lc 9,56). Đức Giêsu vẫn dứt khoát trả lời “không”, bằng câu Đnl 6,16. Người không muốn ép Thiên Chúa phải can thiệp khi mà Thiên Chúa không định như thế; Người vẫn tiếp tục tín thác vào Thiên Chúa.
Chúng ta ghi nhận trong hai cám dỗ đầu, quỷ quy về tư cách “Con Thiên Chúa”, như thế là xác nhận lời công bố tại sông Giođan (x. 3,17).
* Cám dỗ thứ ba (8-10)
Cám dỗ cuối cùng không còn chút che đậy nào nữa: quỷ đề nghị Đức Giêsu thờ phượng nó. Cám dỗ này gồm tóm khát vọng cổ xưa nhất của Israel (sở hữu đất Canaan). Để làm thế, hẳn là nó bày ra trong trí của Đức Giêsu tất cả quang cảnh các nước thế gian, như xưa kia Môsê đứng trên đỉnh Nơvô mà nhìn vào Đất Hứa (x. Đnl 31,1-4) và gợi ý cho Đức Giêsu một giải pháp: bái lạy nó. Đây là cám dỗ con bê vàng, muốn tự tạo cho mình một thần linh mà mình có thể điều khiển. Đức Giêsu vẫn dứt khoát nói “không”, bằng câu Đnl 6,13: Thiên Chúa không phải là một Đấng mà người ta có thể mặc cả với; Ngài đòi hỏi tin tưởng và vâng phục vô điều kiện. Dĩ nhiên, Đức Giêsu, Tôi Trung của Thiên Chúa, không từ bỏ kế hoạch chinh phục thế giới, nhưng chinh phục bằng thập giá. Đất Hứa là lãnh địa bao la mà Người sẽ nhận khi sống lại (x. 28,18: theo lời hứa ở Tv 2,6-8). Sau này, chúng ta thấy các môn đệ Người không hiểu được chọn lựa này (Phêrô: Mt 16,23). Đức Giêsu sẽ chấp nhận cái đói, các nỗi nhục nhã, những thất bại, cái chết, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa.
* Kết (11)
Câu kết của bản văn là một ghi chú thần học hơn là một sứ điệp lịch sử. Sự thống trị mà Đức Giêsu đã từ chối nay vẫn được ban cho Người. Trong tâm thức dân gian, các thiên sứ là những tôi tớ của Thiên Chúa (x. Mt 16,27), bây giờ đến phục vụ Đức Giêsu, lệ thuộc Người. Đức Giêsu không nhận một vương quyền trần thế, nhưng chia sẻ chính quyền thống trị của Thiên Chúa.
Rõ ràng Nước Trời đã đến gần loài người, bởi vì thiên triều đang vây quanh Người Con yêu dấu của Thiên Chúa. Nhưng các thiên sứ chỉ can thiệp sau khi Đức Giêsu đã chiến thắng cám dỗ. Sau này, khi Người đã thắng được cám dỗ muốn vận dụng “hơn mười hai đạo binh thiên thần” (26,53) để tránh thoát thập giá, khi Người vẫn phó thác cuộc đời vào tay Chúa Cha, các thiên sứ lại đến hầu hạ Người, qua việc loan báo tin mừng Phục Sinh cho các môn đệ (x. 28,2-7).
+ Kết luận
Các cám dỗ nhắm tấn công Đức Giêsu trong tư cách Mêsia và Người Con vâng phục và trung thành của Thiên Chúa. Quỷ xúi Đức Giêsu lạm dụng lời quyền năng của Người, rồi xúi Người ỷ lại vào quan hệ giữa Người với Thiên Chúa, và cuối cùng, xúi Người bỏ đi lòng trung nghĩa với Thiên Chúa. Chiến thắng của Người rất quan trọng. Nó xóa đi những bóng tối đã tích tụ lại trong lịch sử dân Thiên Chúa và nó cũng gợi ra chiều hướng dấn thân phục vụ ơn cứu độ. Thay vì chọn làm một Mêsia-Phù thủy hay một Mêsia-Thủ lãnh, Đức Giêsu chọn làm Mêsia-Tôi tớ khiêm nhường. Khi đó, Người vẫn là Người Con vâng phục, và cũng là Israel chân chính và hoàn hảo.
5.- Gợi ý suy niệm
-Trung thành đọc và suy gẫm Lời Chúa, chúng ta sẽ khám phá ra liên tục lòng nhân ái của Thiên Chúa đối với chúng ta. Từ đó, chúng ta có thể yên tâm phó thác cuộc sống cho Ngài, không phải tính toán để bảo vệ cuộc sống mình, để rồi rơi vào các cám dỗ. Cám dỗ luôn luôn xoay quanh Lời Chúa, hoặc để vi phạm hoặc để lái Lời Chúa khỏi ý nghĩa đúng đắn. Con rắn mưu mô trong St 3 đã bóp méo Lời Chúa: “Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? … ‘Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra…” (St 3,1.5). Tên cám dỗ trong bài Tin Mừng Mt đã bảo Đức Giêsu dùng Lời Chúa để biến đá thành bánh hoặc đã uốn nắn ý nghĩa của Thánh vịnh để đưa Đức Giêsu đến chỗ thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu không áp đảo Lời Chúa; Người vâng phục Lời Chúa, Người nhận Lời Chúa từ Thiên Chúa.
– Quỷ đã đề nghị cho Ađam trở thành Thiên Chúa (St 3,5). Nó cũng gợi ý cho Đức Kitô sử dụng quyền lực thiên sai của mình như một đặc quyền hay như một vũ khí. Nói cho cùng, tội lỗi luôn luôn là một ý chí hùng cường. Thế mà Thiên Chúa lại cứu con người khỏi tội lỗi bằng sự yếu đuối của Đức Kitô. Muốn được Thiên Chúa can thiệp tức khắc vào đời sống mình có nghĩa là nghi ngờ sự quan phòng thông thường của Ngài, nghi ngờ quyền năng và lòng nhân lành của Ngài. Ai thử thách Thiên Chúa, thì không có đức tin hoặc có một đức tin đang chao đảo, nên mới chờ đợi các phép lạ.
– Các cám dỗ không chỉ là chuyện một ngày hay bốn mươi ngày, mà là cả đời Đức Giêsu. Luôn luôn có những sức mạnh bên ngoài, như các môn đệ (Mt 16,22), các kẻ thù (12,38; 27,41), và cả những khát vọng của bản thân Người (26,39; 27,46) tìm cách đưa Người đi theo nẻo đường quỷ vạch ra cho Người. Người đã chọn, Người sẽ phải liên tục chọn nói “không” với quỷ và thưa “xin vâng” với Chúa Cha (x. Dt 5,8).
– Đức Giêsu nói “không” với quỷ, nhưng cũng phải nói “không” với chính mình, bởi vì con đường Người theo kềm hãm các khát vọng và những đòi hỏi của bản tính tự nhiên. Các phản ứng của Người trước đau khổ, những tủi nhục, những thất bại, thì cũng giống như mọi người. Người không thể phạm tội, nhưng Người có thể chọn con đường chung của mọi người, là sự thỏa thuê. Vinh quang không phải là một tội, mà còn là một quyền Người có thể dùng. Sự rút lui của quỷ chứng tỏ đây không những là một chiến thắng của chủ trương Mêsia khiêm nhường và phục vụ như tôi tớ, mà còn là một chiến thắng riêng của Đức Giêsu. Người đã không nhường bước cho một nẻo đường tiện nghi thoải mái, đã không muốn hưởng trước một thành công; nhưng Người đã tôn trọng con đường đã được chọn cho Người dù phải hy sinh, thiệt thòi. Rời khỏi hoang địa, không những Người được thánh hiến mà còn đủ tư cách Mêsia.
——————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – NĂM A
CHỌN LỰA- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Chúng ta đã bước vào mùa chay, mùa sám hối. Sám hối là quay về nếu như mình đã đi lạc. Thực ra, ngay từ đầu, nguyên tổ loài người đã đi lạc do đã chọn lựa sai : chọn ý riêng thay vì ý Chúa. Rất may là Đức Giêsu, Ađam mới, đã sửa lại cái sai đó : trong những cơn cám dỗ khi bắt đầu sứ vụ của Ngài, Ngài đã nhất quyết chọn làm theo ý Thiên Chúa.
Cuộc đời chúng ta cũng dệt bằng một chuỗi những chọn lựa. Hôm nay chúng ta hãy suy gẫm về sự chọn lựa của nguyên tổ và của Đức Giêsu. Chúng ta xin Chúa soi sáng và trợ lực để khi đứng trước những cám dỗ thường xuyên trong đời, chúng ta luôn biết chọn lựa như Đức Giêsu.
GỢI Ý SÁM HỐI
– Chúng ta là con cái Thiên Chúa vì chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Ngài. Lẽ ra chúng ta phải luôn sống trước nhan Ngài và vâng phục thánh ý Ngài. Nhưng chúng ta lại thường làm ngược ý Ngài và sống như không có Ngài.
– Chúng ta là em của Đức Kitô. Lẽ ra chúng ta phải luôn ghi nhớ và làm theo Lời Ngài. Nhưng chúng ta thường quên Lời Ngài, nhất là khi đứng trước những cơn cám dỗ.
– Chúng ta có ý thức về thân phận tội lỗi của mình và quyết tâm chiến đấu với khuynh hướng ích kỷ, tham lam, kiêu ngạo, ươn lười của mình không ?
LỜI CHÚA
Bài đọc Cựu Ước (St 2,7-9 3,1-17)
Đây không phải là một bài tả chân đúng y sự việc đã diễn ra, mà là một vỡ tuồng mà trong đó tác giả sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng để chuyển đạt những ý tưởng giáo lý về tình thương của Thiên Chúa, về cám dỗ, về quyền tự do chọn lựa của con người và hậu quả của sự chọn lựa ấy. Ta có thể coi bài tường thuật này như là một vở bi kịch, vở bi kịch đầu tiên trong lịch sử loài người.
Vở bi kịch gồm 3 màn :
– Màn 1 là tình thương của Thiên Chúa : Ngài đã dựng nên loài người từ hai yếu tố là vật chất (“bụi đất”) và thần linh (“hơi thở” của Ngài). Ngài lại còn ban cho con người một cuộc sống hạnh phúc (“vườn Êđen”).
– Màn 2 là cám dỗ : Satan (“con rắn”) khéo léo lái con người sang một hướng lệch lạc : không nhớ đến tình thương Thiên Chúa mà chỉ nghĩ đến sự cấm đoán của Ngài ; không thấy những ân huệ của Ngài mà lại nghĩ rằng Ngài ganh tị sợ con người bằng Ngài ; thay vì vâng lời Thiên Chúa thì lại làm theo ý riêng để tự mình “biết lành biết dữ”. Cám dỗ đã len vào con người qua các giác quan (mắt nhìn, miệng thèm, đưa tay hái).
– Con người được đặt trước một sự chọn lựa căn bản : hoặc làm con Thiên Chúa và vâng theo ý Ngài, hoặc “muốn bằng Thiên Chúa” nên theo ý riêng mình.
– Tiếc thay, nguyên tổ loài người đã chọn sai, gây hậu quả tai hại cho cả loài người.
Đáp ca : Tv 50
Thánh vịnh 50 là tiếng kêu van thống thiết của loài người con cháu nguyên tổ : ý thức thân phận tội lỗi của mình nhưng vẫn trông cậy vào tình thương xót thứ tha của Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng (Mt 4,1-11)
Cũng là một vở kịch với những hình ảnh tượng trưng (“sa mạc” khô cằn đối lập với “vườn Êđen” xanh tươi, những hòn đá, mỏm núi cao, tháp đền thờ). Vở kịch này tương phản với vở đầu tiên và đi đến một kết thúc tốt đẹp.
– Sau tội nguyên tổ, thân phận loài người đổi thay hẳn : không sống trong vườn Êđen tươi mát mà phải sống trong sa mạc khô cằn.
– Cám dỗ vẫn đeo bám Đức Giêsu để xúi Ngài chọn sai : a/ chuộng những thứ vật chất thỏa mãn cho nhu cầu cuộc sống thân xác (bánh) mà bỏ quên lương thực nuôi dưỡng cuộc sống thần linh (Lời Chúa) ; đối với Thiên Chúa thì không chú ý vâng theo ý Ngài mà lại bắt Ngài phải chìu ý mình ; b/ không thờ phụng một mình Thiên Chúa nhưng lại tôn thờ những vinh hoa lợi lộc của thế gian.
– Đức Giêsu là Ađam mới đã cương quyết chọn vâng phục Thiên Chúa nên đã chiến thắng tất cả các cơn cám dỗ ấy.
Bài thánh thư (Rm 5,12.17-19)
Thánh Phaolô đã nhìn lại hai vở kịch ấy và rút ra kết luận : Đức Giêsu là Ađam mới mang lại một tương lai mới cho loài người : “Chỉ vì một người không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người bị liệt vào hạng tội nhân, thì nhờ một người đã vâng lời Thiên Chúa mà muôn người cũng sẽ được kể là công chính”. Kết luận này khuyến cáo hãy coi chừng nguy hiểm lớn nhất là sự không vâng phục, đồng thời kêu gọi một người học theo gương Đức Giêsu luôn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.
GỢI Ý GIẢNG
Chọn lựa
Một tục lệ : ngày thôi nôi của một đứa bé, người ta quen đặt trước mặt nó nhiều món đồ (thí dụ một cây viết, một cái cày nhỏ, một cây súng v.v.). Người ta hồi hộp xem nó chọn món nào và từ đó suy đoán về tương lai của nó (chọn cây viết : sẽ là nhà trí thức ; chọn cái cày : sẽ làm ruộng ; chọn cây súng : sẽ đi lính). Tuy hơi dị đoan, nhưng tục lệ này nói lên hai ý tưởng khá sâu sắc : a/ con người luôn phải lựa chọn ; b/ đã quen chọn thế nào thì sẽ tiếp tục chọn thế ấy. Người ta nói “cuộc sống là một chuỗi của lựa chọn”. Quen chọn đúng thì sống tốt, quen chọn sai thì sống xấu.
Nhìn thẳng vào thực tại cám dỗ
– Chúng ta đừng nuôi ảo tưởng về một thế giới mà mọi sự đều tốt lành. Thân phận con người là sống giữa thế gian mà trong đó thiện ác, lành dữ lẫn lộn.
– Chính vì thế, khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chính Chúa Thánh Thần đã dẫn Người vào sa mạc để đối diện với các cơn cám dỗ.
– Người ta sống tốt không phải bằng cách che mắt dấu mặt để khỏi nhìn thấy điều xấu, mà trái lại bằng cách nhìn thẳng vào điều xấu và chiến đấu để chiến thắng nó.
– Trong Mùa Chay, mỗi người hãy nhìn thẳng vào nội tâm mình. Không phải chỉ nhìn những mặt tốt, mà nhất là phải nhìn thẳng vào những mặt xấu, những thứ “tham, sân, si” đang âm thầm nhưng mãnh liệt khống chế mình.
– Và hãy nhìn vào cuộc chiến đấu của Đức Giêsu. Người đã thắng nhờ đâu ? Nhờ làm theo Lời Thiên Chúa và thực hiện thánh ý Thiên Chúa.
Tái lập bậc thang các giá trị
– “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh…” : Qua lời này, Chúa không bảo chúng ta đừng tìm cơm bánh, nhưng Ngài nhắc chúng ta đừng chỉ tìm cơm bánh.
– Bị quay cuồng trong cuộc sống vật chất, con người dễ bị cuốn hút theo vật chất : từ tình trạng quân bình dành mối quan tâm đồng đều cho những nhu cầu tinh thần và vật chất, chúng ta dần dần bị cám dỗ xén bớt phần tinh thần để vun đắp thêm cho phần vật chất, và cuối cùng chỉ còn có vật chất và vật chất.
– Mùa chay là khoảng thời gian thích hợp cho chúng ta lùi lại để có một khoảng cách sáng suốt mà nhận định lại các bậc thang giá trị đời mình, theo tiêu chuẩn mà Đức Giêsu đưa ra : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.
– Những việc làm được Giáo Hội khuyến khích trong Mùa Chay cũng nhằm giúp chúng ta tái lập lại các bậc thang giá trị : tự ý giảm bớt ăn uống, làm chủ những khuynh hướng của mình, quan tâm tìm hiểu ý Chúa và lắng nghe Lời Chúa hơn v.v.
Ý muốn hướng dẫn hành động
– Ý muốn là động cơ và là sức mạnh. Bởi đó người ta nói “Ý lực”. Không có những hành động ngẫu nhiên vô tình. Mọi hành động đều đi theo sau một ý muốn dẫn dắt.
– Muốn điều đúng và tốt thì sẽ hành động đúng và cuộc đời sẽ tốt.
– Nhưng ý muốn riêng không hẳn là luôn luôn đúng và tốt. Bởi thế con cái còn khờ dại thì nên làm theo ý muốn của cha mẹ, học trò còn non kém thì tốt nhất nên theo ý hướng dẫn của thầy cô. Trong những trường hợp này, vâng lời trở thành con đường khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất.
– Ađam Evà đã theo ý của ma quỷ và theo ý riêng dẫn đến kết quả bi thảm cho cả loài người. Ngược lại Đức Giêsu dù là Con Thiên Chúa nhưng đã quyết luôn làm theo ý muốn của Chúa Cha và đã cứu chuộc loài người : “Chỉ vì một người không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người bị liệt vào hạng tội nhân, thì nhờ một người đã vâng lời Thiên Chúa mà muôn người cũng sẽ được kể là công chính”.
Cám dỗ của Đức Giêsu và của chúng ta
Một cuốn phim đã làm xôn xao dư luận một thời (khoảng năm 1989) là phim “Cơn cám dỗ cuối cùng của Đức Kitô” (The last temptation of Christ), phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tên của nhà văn hy lạp Nikos Kazantzakis. Cuốn phim và quyển tiểu thuyết mô tả lúc Đức Giêsu bị treo trên thập giá. Ngài đã ngất đi và thấy mình rời bỏ thập giá để trở lại cuộc sống bình thường. Ngài đi tìm lại nàng Mađalêna, cưới nàng làm vợ. Sau đó Ngài lại tìm đến với hai chị em Matta và Maria và cũng cưới luôn hai người này. Ngài có rất nhiều con và sống rất hạnh phúc.
Báo chí và các đài phát thanh đưa tin rằng khi cuốn phim được trình chiếu lần đầu, những người có đạo đã đập phá rạp chiếu bóng tan tành, đến nỗi lần chiếu sau phải chiếu ở một rạp đặc biệt được cô lập bởi chung quanh toàn là nước để khỏi bị đập phá lần nữa.
Thực ra cốt chuyện cũng chẳng có gì xúc phạm cho lắm. Tuy tác giả có nói Đức Giêsu rời khỏi thập giá và cưới 3 người vợ, có nhiều con, nhưng đó chỉ là một cơn cám dỗ của Ngài mà thôi. Cuối cùng Ngài đã lắc đầu không theo cơn cám dỗ đó. Sau đó Ngài tỉnh lại vẫn thấy mình đang bị treo trên thập giá, và Ngài hô lớn một tiếng kêu chiến thắng “Thế là đã hoàn tất”, rồi Ngài tắt thở, hoàn tất đời mình trong tâm tình luôn trung thành với Chúa Cha. Trong đoạn mở đầu quyển tiểu thuyết của mình, Nikos Kazantzakis đã trình bày rõ ý hướng của ông : Ông tin Đức Giêsu vừa là Chúa vừa là người. Và ông muốn nhìn Ngài dưới khía cạnh làm người, vì thế ông đã tưởng tượng những cơn cám dỗ và những cuộc chiến đấu vô cùng cam go mà con người Giêsu đã phải đương đầu và đã anh dũng chiến đấu như thế nào. Mục đích là để càng thấy rõ hơn Đức Giêsu chính là mẫu mực cho con người chúng ta, để chúng ta cảm phục Ngài hơn và để khuyến khích chúng ta can đảm hơn trong khi chiến đấu với những cơn cám dỗ của chính chúng ta. Tác giả đã thổ lộ : “Trong khi viết, tôi đã cảm động đến phát khóc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy máu của Chúa rơi từng giọt vào tim tôi với sự ngọt ngào như vậy, với nỗi đớn đau như vậy”.
Chuyện minh họa
Có 3 người mục tử, mỗi người coi sóc một đàn chiên.
Một đêm mùa đông vừa gió vừa mưa. Khi 3 người đang ngủ thì nghe có tiếng chó sói.
– Người thứ nhất tung chăn thức dậy định ra ngoài xem xét tình hình. Nhưng nghe tiếng mưa rơi gió rít, anh ngại ngùng và trở vào giường ngủ tiếp.
– Người thứ hai cũng thức dậy, mặc thêm quần áo mở cửa đi ra. Nhưng một đợt nước mưa quất ngay vào mặt anh làm anh bỏ ngay ý định ra ngoài. Anh cũng trở vào giường nằm xuống, kéo chăn đắp kín và ngủ tiếp.
– Người thứ ba cũng thức dậy, cũng mặc quần áo, và cũng ra ngoài. Dù gió lạnh, dù mưa ướt, anh vẫn cố chịu đựng, đi đến tận chỗ đàn chiên của anh để xem. Khi đã thấy chiên mình an toàn, anh mới trở vào nhà ngủ tiếp.
Trong 3 người đó, ai là người hiểu biết rõ nhất về sự khắt nghiệt của gió và mưa ? Dĩ nhiên là người thứ ba.
Cũng thế, người hiểu rõ nhất về cám dỗ là người đã chiến đấu và chiến thắng nó.
Vì vậy, nếu ta muốn học cách đương đầu với cám dỗ, đừng học với những kẻ tội lỗi, mà hãy học với những vị thánh.
Như trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đừng học với dân Israel trong thời xuất hành ở sa mạc, mà hãy học với Đức Giêsu.
LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến
Mùa Chay là thời gian thuận tiện để người kitô hữu sám hối tội lỗi và quay trở về với Chúa, vì Chúa không muốn cho người có tội phải chết, nhưng muốn họ sám hối ăn năn để được sống. Với quyết tâm xa lánh tội lỗi và đổi mới đời sống, chúng ta cùng tha thiết nguyện xin.
1- Ngày xưa / Chúa đã sai ngôn sứ Giona đến kêu gọi dân Ninivê ăn năn hối cải / Ngày nay Chúa cũng bảo Hội Thánh khuyên nhủ các kitô hữu sám hối lỗi lầm / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết sống trọn vẹn tinh thần khắc khổ của Mùa Chay / để đền tội và tôi luyện xác hồn.
2- Miếng ăn / danh vọng / địa vị / tiền bạc / thú vui / nhiều khi làm đảo điên lòng người / băng hoại xã hội / xói mòn niềm tin / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người / đặc biệt là giới trẻ chưa có kinh nghiệm sống / biết khôn ngoan tránh xa những cám dỗ bất chính / những cạm bẫy tinh vi đầy dẫy trong cuộc sống thường ngày.
3- Dù đã có nhiều cuộc tranh đấu cho sự bình đẳng giữa người nam và người nữ / nhưng trong thực tế / ở nhiều nơi trên thế giới này nay / người phụ nữ vẫn bị coi thường / nhân phẩm bị chà đạp / thân xác bị xem như một món hàng kinh doanh / thậm chí bị đày đọa / bị đối xử thô bạo ngay trong gia đình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai có trách nhiệm / biết luôn tìm cách giúp người phụ nữ sống xứng với nhân phẩm của mình.
4- Chúa Giêsu nói / “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh / nhưng nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời Chúa dạy trong Tin Mừng / nhờ đó mà trở nên những công dân gương mẫu.
CT : Lạy Chúa, xin cho chúng con thấm nhuần lời Chúa dạy, để chúng con biết chế ngự những đam mê và dục vọng trần thế, nhờ đó mùa chay thánh này đem lại nhiều lội ích cho chúng con. Chúng con cầu xin…
—————————————————-
ĐỨC GIÊSU BỊ CÁM DỖ- Lm Giuse Đinh lập Liễm
DẪN NHẬP.
Chúng ta bắt đầu bước vào mùa Chay thánh. Mùa chay kéo dài trong 40 đêm ngày. Đây là thời gian chiến đấu, chiến đấu với ngọai cảnh, chiến đấu với chính bản thân mình. Thánh Kinh gọi chung là chiến đấu với sự dữ. Lịch sử đã chứng minh : Adong và Eva – những con người đầu tiên – bị ma quỉ cám dỗ và đã bị sa ngã. Hậu quả đem lại cho lòai người là mất quyền làm con Chúa, phải sống dưới quyền lực của ma quỉ và tội lỗi và sau cùng là sự chết.
Đức Giêsu – được gọi là Adong mới – cũng bị ma quỉ cám dỗ trong sa mạc, nhưng đã kiên cường chống trả và sau cùng đã chiến thắng vẻ vang. Chúng ta cũng bị ma quỉ cám dỗ vì Chúa cho phép ma quỉ cám dỗ để chúng ta trở nên con người trưởng thành và có giá trị, bởi vì như Kinh Thánh nói :”Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Chúa đòi chúng ta phải chiến đấu kiên cường để chống lại các chước cám dỗ.
Chúng ta phải nhận định rằng Thiên Chúa yêu thương con người, ban cho con người mọi ơn lành hồn xác, nhưng yêu thương không có nghĩa là không bị thử thách. Thử thách là điều kiện cần để làm cho con người có giá trị, mới biết rõ vàng thau, mới biết ai trung thành, ai phản bội. Thử thách đòi con người phải “lựa chọn”. Chọn lựa có thể đúng, có thể sai. Chọn đúng theo ý Chúa thì được hạnh phúc, chọn sai ý Chúa, nghĩa là theo ý mình, thì bất hạnh. Sự lựa chọn làm cho con người phải băn khoăn, đắn đo vì phải lãnh lấy hậu quả. Adong đã lựa chọn, Đức Giêsu cũng lựa chọn, nhưng ai đã chọn đúng, ai đã chọn sai ? Chúng ta hãy đọc các bài Sách Thánh để rút ra bài học thực hành.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1 : St 2,7-9.
Thiên Chúa yêu thương và thánh thiện vô cùng không bao giờ cám dỗ để làm hại ai, nhưng Ngài để con người bị cám dỗ với mục đích có quyền tự do lựa chọn để con người tỏ lòng trung thành hay chống lại Ngài.
Ma quỉ đã nắm lấy cơ hội này, lấy hình dạng con rắn để cám dỗ bà Evà. Lý do đưa ra rất đơn giản : cứ ăn đi, chẳng chết chóc gì đâu vì Thiên chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên như vị thần biết điều thiện ác. Chính sự kiêu ngạo đã thúc đẩy ông bà đến chỗ không muốn tôn trọng thánh ý Thiên Chúa mà muốn sống tự lập, không qui phục Thiên Chúa nữa.
Đúng là gieo gió thì gặt bão, ông bà đã sa ngã , phải lãnh nhận lấy trách nhiệm về việc làm của mình, hậu quả của sự sa ngã ấy là mất quyền làm con Chúa, phải mang thân phận tôi đòi dưới quyền lực tội lỗi, chịu đau khổ hồn xác, và sau cùng phải chết. Hậu quả tai hại này là do sự lựa chọn sai lầm.
+ Bài đọc 2 : Rm 5,12-19.
Thánh Phaolô so sánh Đức Kitô với Adong để nhìn thấy sự khác biệt giữa hai vị. Adong vì bất trung đã sa ngã phạm tội, làm cho mọi người trở thành tội nhân, đã đem sự chết đến cho mọi người kể cả những người không trực tiếp lỗi luật Chúa. Còn Đức Kitô nhờ sự vâng phục và sự dâng hiến mình làm cho mọi người tìm lại sự sống, hạnh phúc và tình yêu.
Thánh Phaolô ca tụng vai trò của Đức Kitô, sự hy sinh chịu chết của Ngài lớn lao hơn tất cả tội lỗi của nhân lọai. Nhờ Ngài mà nhân lọai nên công chính, được tái lập tình trạng nghĩa thiết với Thiên Chúa và được đón lại sự sống của Thiên Chúa.
+ Bài tin mừng : Mt 4, 1-11.
Thiên Chúa thì không bao giờ bị cám dỗ, nhưng Đức Giêsu với tính cách là một con người thì vẫn bị cám dỗ như thường. Ma qủi đã cám dỗ Đức Giêsu đừng thi thành thánh ý Chúa Cha hoặc thi hành sứ vụ cứu thế của mình bằng một đường lối khác với kế họach của Thiên Chúa Cha : thay cho sự khiêm hạ và khổ nạn bằng quyền lực thế gian và sức mạnh vật chất.
Qua bài tường thuật, thánh Matthêu cho biết ma quỉ đã cám dỗ Đức Giêsu xoay quanh 3 vấn đề :
a) Chuộng những thứ vật chất thỏa mãn cho nhu cầu cuộc sống thân xác mà bỏ quên lương thực nuôi dưỡng cuộc sống thần linh.
b) Đối với Thiên Chúa thì không chú ý vâng theo ý Ngài mà lại bắt Ngài phải chiều theo ý riêng của mình.
c) Không thờ phượng một mình Thiên Chúa, nhưng lại tôn thờ những vinh hoa lợi lộc của thế gian.
Đức Giêsu đã cương quyết tuân phục thánh ý Chúa Cha nên đã chiến thắng tất cả các cơn cám dỗ. Khác với Adong-Evà, Đức Giêsu, một Adong mới, đã biết lựa chọn đúng và kết quả là đem lại ơn cứu rỗi và sự sống cho lòai người.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Sống là lựa chọn.
ĐỨC GIÊSU BỊ MA QUỈ CÁM DỖ.
Đức Giêsu vào hoang địa.
Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu được Thánh Thần đưa vào hoang địa. Ở đó sống trong cô tịch, ăn chay 40 đêm ngày, sau đó Ngài cảm thấy đói và nhân cơ hội này quỉ hiện ra cám dỗ Ngài.
Đức Giêsu đi vào trong hoang điïa, xa chốn kinh thành để tĩnh tâm. Hoang địa hay sa mạc là nơi trơ trọi, vắng vẻ, thiếu thốn, khác hẳn với phố thị ồn ào, tiện nghi, nơi mà con người phải đối diện với chính mình và Thiên Chúa. Nếu khám phá và phó thác nơi tình yêu Thiên Chúa, con người lại cảm nhận được tình yêu lớn lao ấy. Do đó, theo quan niệm Thánh Kinh, sa mạc hay hoang địa tiềm ẩn một giá trị thật to lớn vì giúp con người dễ “gặp gỡ Thiên Chúa”. Nhưng cũng là nơi mà con người phải chiến đấu chống các cám dỗ do ma qủi bầy ra để làm ta xiêu lòng.
Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Đây là con số biểu tượng thường được Thánh Kinh dùng để chỉ một khỏang thời gian : 40 ngày lụt đại hồng thủy (St 7,4), 40 năm dân Do thái trong sa mạc (Xh 16,35), Maisen lên úi cầu nguyện 40 đêm ngày (Xh 24,18)… Ở đây muốn nói lên việc phải có thời gian cần thiết để huấn luyện và thử thách trước khi nhận lãnh một sứ mệnh.
Ngài bị ma qủi cám dỗ.
a) Ai tiết lộ việc Đức Giêsu bị cám dỗ ?
Không ai đọc câu chuyện này lại không nhớ rằng nguồn cung cấp duy nhất mọi dữ kiện này phải do từ chính Đức Giêsu. Trong hoang địa Ngài ở một mình, trong cơn chiến đấu không có ai ở bên cạnh Ngài nên không ai biết được; như vậy phải do chính Đức Giêsu kể lại cho các môn đệ Ngài nghe. Từ cuộc chiến đấu cá nhân Ngài đã vén màn để giúp chúng ta trong cuộc chiến đấu của mình.
b) Ý nghĩa chước cám dỗ.
Thông thường cám dỗ có nghĩa xấu, bao giờ cũng bao hàm ý xúi giục làm điều quấy, tìm cách lôi cuốn vào đường tà. Nhưng trong nguyên ngữ “peirazein” có nghĩa là thử nghiệm (khác hẳn với cám dỗ). Một trong những truyện tích vĩ đại nhất của Cựu ước là truyện Abraham súyt phải dâng Isaac là con trai độc nhất làm của lễ :”Khi mọi việc kia đã xong thì Thiên Chúa thử Abraham”(St 22,1). Rõ ràng chữ “thử” ở đây không có nghĩa là dụ dỗ làm điều ác.
Nói rõ hơn, trong tiếng Do thái, chữ “cám dỗ” có nghĩa là “thử thách”, “thử tài”, giống như chữ “đi thi” của chúng ta ngày nay. Cám dỗ là đi thi : ai thắng cám dỗ là thi đậu. Ai sa ngã là thi rớt. Bởi thế cám dỗ là dịp tốt để ta “lấy bằng cấp”. Người qua thử thách mới có giá trị, người chưa qua thử thách chưa hẳn là người đã đứng vững :
Có gió lung mới biết tùng bá cứng,
Có lửa hừng mới biết thức vàng cao.
c) Có người hồ nghi việc Đức Giêsu bị cám dỗ.
Cách cám dỗ diễn ra, có người bảo là không thể tin được. Nhưng xét ra nó rất hợp với tính tình con người. Con Thiên Chúa dám xông pha vào nguy cơ của con người hay gặp nhất để con người nhận thấy rằng Ngài ở bên cạnh mà nâng đỡ, Ngài hiểu rõ người ta khi bị cám dỗ :”Vì Ngài bị cám dỗ, Ngài có thể cứu giúp những ai bị cám dỗ”(Dt 2,18).
Ba chước cám dỗ diễn ra.
Cũng cần nhớ sự khác biệt giữa Cựu ước và Tân ước về cám dỗ. Quan niệm trong Cựu ước là chính Thiên Chúa đã thử thách con người. Tân ước minh định tác nhân cám dỗ con người là ma quỉ. Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Matthêu đã mô tả Đức Giêsu đã phải trải qua ba cơn cám dỗ.
a) Cám dỗ thứ nhất(Mt 4,3-4) “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh”. Qua cám dỗ này, chúng ta thấy ma quỉ không có ý cám dỗ Chúa về sự mê ăn uống mà cám dỗ Ngài làm phép lạ cho đá hóa thành bánh, nghĩa là chúng muốn cám dỗ Ngài dùng sai khả năng, sai mục đích, dùng uy quyền vô lý mà biểu diễn một phép lạ không có lý do chính đáng. Nếu Ngài nghe nó mà làm phép lạ thì Ngài mắc mưu nó vì Ngài không còn tin vào sự quan phòng của Chúa nữa. Ngài đã chiến thắng và dựa vào Kinh Thánh mà bảo nó :”Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Mt 4,4).
b) Cám dỗ thứ hai(Mt 4,5-7). “Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy gieo mình xuống đi”.Trong cơn cám dỗ này, ma quỉ xúi giục Đức Giêsu về sự kiêu ngạo, muốn tôn mình lên. Trong cám dỗ thứ nhất, Đức Giêsu đã dựa vào sự quan phòng che chở của Thiên Chúa để chiến thắng ma quỉ. Trong cơn cám dỗ này, quỉ lại lợi dụng sự che chở ấy để dụ dỗ Đức Giêsu đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp để che chở cho mình (Tv 91,13). Và như vậy, con người áp đặt ý muốn của mình trên Thiên Chúa, muốn Thiên Chúa phải theo ý mình mà thực hiện một phép lạ, tức là thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu đã trả lời cho ma quỉ qua Thánh Kinh :”Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”(Mt 4,7).
c) Cơn cám dỗ thứ ba(Mt 4,8-10). “Nếu ông sấp mình thờ lậy tôi”. Đây là cám dỗ mà xưa kia dân Do thái đã sai phạm. Khi con người ham mê bất cứ thứ gì đến độ lơ là , xem nhẹ bổn phận làm con Chúa là đã sa vào cám dỗ này. Đức Giêsu đã từ chối thờ ngẫu tượng để được vinh quang trần thế. Đối lại, Ngài sẽ chinh phục thế giới không phải bằng cách “sấp mình thờ lạy Satan”, nhưng bằng thập giá. Vì vậy, Ngài đã từ chối bằng câu Thánh kinh :”Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”(Mt 4,10).
Sau cùng, Đức Giêsu đã chiến thắng.
Đức Giêsu đã không thể thắng các cơn cám dỗ nếu Ngài chỉ qui hướng về mình. Ngài sẽ thua ma quỉ nếu Ngài tìm vinh danh mình khi hóa đá thành bánh. Ngài sẽ bị sập bẫy Satan khi nhảy xuống từ nóc cao đền thờ để được khen ngợi tung hô. Ngài sẽ thất bại thảm thương khi quỳ lạy ma quỉ để được vinh hoa thế gian. Nhưng không, không bao giờ Ngài làm thế, vì tinh thần chủ đạo của Ngài, vũ khí sắc bén của Ngài chính là :”Thánh ý Cha”. Ngài suy nghĩ , nói năng, hành động bất cứ điều gì cũng là để theo thánh ý Cha. Chính trong cơn cám dỗ khốc liệt nhất của Ngài trước cái chết, Ngài cũng chỉ thốt lên :”Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha”(Mt 26,39).
CHÚNG TA CŨNG BỊ MA QUỈ CÁM DỖ.
Mọi người đều bị cám dỗ.
Nếu không có bài Tin mừng hôm nay, người ta dễ dàng nghĩ rằng sở dĩ Đức Giêsu hòan tòan vô tội là vì Ngài không hề bị cám dỗ. Nhưng đọan Tin mừng này cho thấy chính Đức Giêsu – dù là Con Thiên Chúa, có bản tính thần linh hòan tòan trong sạch – cũng bị ma quỉ cám dỗ. Thật là một mạc khải bất ngờ, đáng ngạc nhiên và lý thú, đồng thời cũng là điều an ủi chúng ta, tạo động lực cho chúng ta thắng những cơn cám dỗ xẩy đến. Đức Giêsu là Thiên Chúa mà cũng bị cám dỗ, nên chúng ta vốn là người phàm, nếu có bị cám dỗ, dù nặng nề tới đâu, cũng là chuyện dễ hiểu. Điều đó có nghĩa : đã là con người thì đều bị cám dỗ.
Cám dỗ không phải là xấu. Nó có thể giúp người ta nên tốt hơn. Cám dỗ không phải là tội. Nó sẽ giúp thấy rõ hơn sự thánh thiện nơi một con người. Cám dỗ cũng không phải là hình phạt, song nó sẽ là triều thiên vinh quang cho những ai chiến thắng (W. Barclay). Kinh Thánh nói :”Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Có qua cám dỗ mới biết được ai là người thánh thiện, ai là kẻ đê hèn. Waterstone có viết :”Đầu hàng cám dỗ là hành động của thú tính, chiến thắng nó mới là con người”.
Sự cao quí của cám dỗ.
Người Do thái có câu nói :”Hỡi Đấng Thánh, nguyện danh Ngài được chúc tụng, vì Chúa không hề nâng một người nào lên chức vị cao trọng cho đến chừng Ngài đã tra xét và thử nghiệm người ấy và nếu người ấy đứng nổi trong cơn cám dỗ, lúc ấy Ngài sẽ nâng người ấy lên địa vị cao trọng”.
Đây là một chân lý lớn lao và cao quí. Điều chúng ta gọi là cám dỗ không có mục đích khiến ta phạm tội mà để ta vượt thắng tội lỗi. Nó không có mục đích làm ta xấu, mà làm chúng ta trở nên tốt, không nhắm làm ta suy yếu mà để khi ta ra khỏi cơn thử nghiệm sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Chúng ta nên nhớ sự cám dỗ không phải là một hình phạt mà là vinh hiển, nên xem cả biến cố và kinh nghiệm này không phải là sự cám dỗ mà là cuộc thử nghiêm của Đức Giêsu.
Sách lược của cơn cám dỗ.
Sách lược, đường lối và mưu mẹo của ma quỉ phải nói là tinh vi thâm hiểm. Nói khác đi, ma quỉ là lòai thông minh quảng bác hơn hẳn con người nhiều, nên những cách thức dụ khị con người thì thiên hình vạn trạng. Do đó, chúng không bao giờ cám dỗ con người phạm tội ngay vì làm như thế con người dễ phản ứng, nhưng chúng lại rất khôn khéo chỉ xúi giục con người phạm những lỗi nhẹ, cứ thế tăng dần lên cho đến lúc con người dễ dàng phạm tội trọng, tức là sa ngã hòan tòan vào vòng phong tỏa của chúng. Ngòai ra, ma quỉ rất kiên nhẫn chịu khó, thất bại lần này chúng sẽ bầy keo khác, không chỉ cám dỗ đôi ba lần, nhưng mãi mãi, liên tục cho đến khi đánh gục con người mới thôi. Ma quỉ nguy hiểm như thế, ai dám tự hào và coi thuờng ?
Truyện : Từ bước khởi đầu nhỏ.
Hắn giết một cảnh sát viên. Bây giờ hắn phải trả bằng giá hình phạt. Người ta cột buộc hắn vào ghế điện trong nhà tù Sing Sing. Người ta buộc những miếng kim khí vào cái vòng trên đầu hắn và bắp chân hắn. Một lát nữa, dòng điện mạnh sẽ chạy qua thân xác hắn, đủ gây nên một sự mất ý thức ngay lập tức và chết luôn. Viên chức phụ trách hỏi tội nhân bị kết án xem hắn có muốn nói gì cuối cùng không ! Hắn nói buột ra với giọng điệu đau đớn cực độ :”Đây, tất cả đã khởi đầu khi tôi ăn cắp đồng năm xu ở túi áo của mẹ tôi. Rồi tôi ăn cắp hai đồng năm xu. Tôi đã bắt đầu ăn cắp đồ vật ở trường học, ở tiệm tạp hóa, tiệm thuốc. Hai đứa bạn và tôi bắt đầu tập luyện, muốn kiếm được càng ngày càng nhiều hơn. Chúng tôi quyết định cướp ngân hàng, và lần đó tôi đã bắn viên cảnh sát. Đó, tất cả bắt đầu với một đồng năm xu” (A. Tonne, Bài giảng TM Chúa nhật A, tr 39).
Chúng ta sẽ bị cám dỗ, không ai có thể thể thóat được. Khi bị cám dỗ, câu đầu tiên chúng ta phải biết nói ba chữ “không” : không chiều theo đòi hỏi của xác thịt, không chiều theo sự tự tôn tự đại và không đặt mammon lên làm Chúa tể.
Phương pháp chống cám dỗ.
Mùa Chay là mùa dọn mình để chiến đấu với các cơn cám dỗ. Cám dỗ từ ma quỉ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào. Nếu so sánh vũ khí để chiến đấu với cơn cám dỗ là “cung và tên” thì “cung”chính là lòng khiêm tốn nhận mình yếu hèn cần nhờ ơn Chúa, và “tên” chính là ý chí cương quyết nói “không” trước cơn thử thách. Trong các kế sách để thắng cám dỗ có một diệu kế mà chúng ta cần thực hiện : đó là “Đào vi thương sách”. Diệu kế này đặc biệt phải dùng khi bị cám dỗ về đức trong sạch.
Ngòai ra, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, đừng xông pha vào nơi nguy hiểm, nơi dễ dẫn đến dịp tội. Hãy tránh xa những hòan cảnh có thể đưa chúng ta đến phạm tội. Cổ nhân của ta đã từng khuyên :”Cẩn tắc vô ưu” : cẩn thận đề phòng thì bớt phải ưu phiền.
Truyện : Đề phòng sụt lún.
Trên một số bãi biển xứ Bretagne bên Pháp, đặc biệt quanh vùng Mont Saint-Michel, đôi khi xẩy ra những biến cố mà du khách không có kinh nghiệm gặp phải một cái chết rất đáng sợ : đó là sự sa lầy. Nhà đại văn hào Victor Hugo đã từng chứng kiến và đã mô tả lại cảnh tượng ghê rợn đó như sau : “Thủy triều xuống anh ta đi dạo trên cát không xa bờ biển bao nhiêu. Ban đầu chưa cảm thấy gì nên anh ta không để ý lắm, nhưng dần dần đôi chân anh ta dường như càng lúc càng nặng hơn. Bất thình lình anh ta lún xuống, đôi chân ngập sâu trong cát. Anh ta định rút chân quay lại thì càng lún sâu hơn. Cát đến mắt ca,ù rồi đến nửa chân. Mỗi lần cử động là mỗi lần lún xuống. Bấy giờ anh mới nhận ra anh đang bị sa lầy trong bể cát di động. Anh cầu cứu nhưng vô ích. Anh la hét. Anh khóc than. Anh cầu khẩn. Anh khua đôi tay. Càng lúc cát đến ngực, đến vai. Giờ đây chỉ còn lại cái mặt. Anh định mở miệng kêu cứu lần cuối thì cát đã lấp đầy miệng. Chỉ còn im lặng và đôi mắt trợn tròn thao láo, nhưng rồi cát cũng đóng chúng lại : thế là đêm tối và cái chết”(Quê Ngọc).
Cám dỗ với giới trẻ ngày nay.
Xét về mặt đạo đức càng văn minh tiến bộ bao nhiêu thì hình như con người càng gặp lắm thử thách, cám dỗ bấy nhiêu. Đối với giới trẻ ngày nay thì cái từ “cám dỗ” là chuyện cổ lỗ, lỗi thời rồi… Vì cho là nó xưa mãi cái thời bà Evà trao quả cấm cho ông Adong ăn… Thời nay con người văn minh tiến bộ, bận tâm làm chi tới chuyện cám dỗ nữa ? Phải chăng vì nghĩ như thế mà tuổi trẻ hôm nay có khuynh hướng sống bất cần, tùy tiện, theo sở thích riêng – Mà sở thích của tuổi trẻ thì có mấy khi được lâu ?
Thế nên nếu bình tâm suy nghĩ chúng ta sẽ khám phá ra rằng cũng chính vì con người ngày nay “văn minh, tiến bộ” mà các cám dỗ cũng “đa dạng” và “tinh vi” hơn, thậm chí nó được núp bóng dưới các mác “văn hóa”, “nghệ thuật”, “giải trí”, “thời trang”, “vật lý trị liệu”… Trong khi thực chất chỉ vì “tiền” hoặc “các tham vọng bất chính” mà thôi ! Chúng ta chỉ cần phân tích các lọai hàng hóa, văn hóa nghệ thuật… thì chúng ta sẽ thấy nó bị động lực kim tiền khống chế đến độ nào. Mọi yêu cầu, thị hiếu… đều có thể được đáp ứng nếu chịu “chi”.
THÁI ĐỘ SỐNG CỦA CHÚNG TA : PHẢI LỰA CHỌN.
Sống là lựa chọn.
Người ta nói : cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Con vật không có quyền lựa chọn, nó chỉ hành động theo bản năng. Con người chúng ta thì khác, Chúa ban cho chúng ta có lý trí và tự do để hiểu biết, suy tính, đắn đo rồi đi đến quyết định tự do của mình : làm hay không làm, làm thế này hay thế khác…
Lựa chọn có hai yếu tố đi liền nhau : “lựa” và “chọn”. Lựa mới là phân ra từng lọai, từng cái một để dễ so sánh. Còn chọn mới là quyết định nhận hay không nhận, nhận cái này hay cái kia, hay chọn một trong nhiều cái. Chính sự lựa chọn làm cho chúng ta phải băn khoăn, lo âu vì có những sự lựa chọn liên quan đến cả cuộc sống tương lai, ví dụ : có nên dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì hay không, làm Linh mục hay tu sĩ. Có nên lập gia đình hay không hoặc lập gia đình với ai.
Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà lựa chọn là liều lĩnh vì không bao giờ ta nắm được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn để duy nghĩ, cân nhắc như ta có thể rồi, ta có quyền hành động.
Thử thách và lựa chọn.
Bình thường chúng ta nói rằng con người phải được thử thách để nên người hòan thiện, nó có tính cách tích cực, còn cám dỗ xem ra có tính cách tiêu cực. Nhưng trong đạo chúng ta có thể gọi thử thách là “cám dỗ” vì chính cám dỗ làm cho con người nên lành thánh hơn hay xấu xa hơn, phân biệt được ai trung thành, ai phản bội Chúa.
a) Thử thách cần thiết.
Con người chỉ có giá trị khi đã được thử thách đầy đủ. Đứng về phương diện triết học, người ta đánh giá một người : không ai hỏi anh LÀ gì nhưng anh đã LÀM được một cái gì và làm được bao nhiêu. Chính cái LÀM mới đem giá trị đến cho con người chứ không phải cái LÀ. Cho nên thử thách là điều cần thiết để đánh giá con người.
– Kinh Thánh nói :”Lửa thử vàng, gian nan thử đức”.
– Chí sĩ Phan bội Châu cũng nói :
Nếu phải đường đời bằng phẳng hết,
Anh hùng hào kiệt có hơn ai.
– Thi sĩ Nguyễn công Trứ, một thi sĩ của chủ nghĩa anh hùng, một con người đã từng lên voi xuống chó, cuộc đời ông đã trải qua đầy gian nan khốn khó, đã từng nếm mùi thất bại chua cay, nhưng ông đã kiên trì chịu đựng và đã vượt qua, ông đã từng khuyên thanh niên phải sống can trường, vượt qua mọi gian nan thử thách theo châm ngôn “vô họan nạn, bất anh hùng” :
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đấng phi thường đâu đấy tỏ.
b) Ích lợi của thử thách.
Thử thách hay cám dỗ làm cho người ta trưởng thành hơn, nghị lực hơn, làm chủ được con người của mình. Vàng thau chỉ là đống quặng hỗn độn nhưng nhờ lửa thiêu đốt mới chọn ra được thứ vàng ròng. Chưa vượt qua gian nan thử thách, chưa ai được gọi là anh hùng :
Văn vô sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.(Nguyễn công Trứ)
Ông Abraham đã bị Chúa thử thách cực kỳ gây cấn về lòng tin của ông vào Chúa. Bình thường không ai chấp nhận được cuộc thử thách ấy vì nó đi ngược lại với lối suy luận của con người : giết con một duy nhất đi thì làm sao có con nối dõi tông đường ? Nhưng ông đã đặt hết tin tưởng vào Chúa, để cho Chúa lo, còn ông thì cứ thực hiện theo ý Ngài… và ông đã thành công. Vì vậy, Abraham được gọi là tổ phụ của các kẻ tin (Pater credentium).
Phải biết lựa chọn.
Trong thử thách, con người phải biết lựa chọn để đi đến quyết định : tiến hay lùi, tiếp tục hay tháo lui ? Trong thử thách, hễ không tiến là lùi, không thắng thì thua.
Truyện : thần Hercule.
Theo thần thọai Hy lạp, Hercule một lần đứng giữa ngã ba đường và tự hỏi đi về đâu ? Hai người chỉ đường đến với ông. Một người nói :”Hãy theo tôi, đây là con đường thỏai mái, hạnh phúc và lối đi dễ dàng”. Người thứ hai nói :”Đây là con đường cố gắng, nỗ lực, khó khăn. Tuy là đường khó khăn, nhưng đưa tới hạnh phúc”. Hercule đã chọn con đường khó khăn. Và quả thực ông khôn ngoan vì khó khăn đưa tới vinh quang theo châm ngôn của đạo chúng ta “Per crucem ad lucem” : qua thập giá tới vinh quang.
Lựa chọn của chúng ta.
Không ai trong chúng ta là không bị thử thách, không bị cám dỗ. Chúng ta phải biết chọn lựa, thành công hay thất bại là do lựa chọn đúng hay sai. Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đã có một bài học về lựa chọn đúng hay sai : Adong đã lựa chọn sai vì không chọn ý Chúa mà chọn ý mình, nên đã để hậu quả tai hại cho con cháu. Đức Giêsu – một Adong mới – đã chọn lựa đúng vì biết lựa chọn thánh ý Chúa Cha chứ không theo ý mình, nên đã dành được chiến thắng lẫy lừng và đã đem ơn cứu độ đến cho lòai người.
Đức cha L. Daloz, trong cuốn Le Règne des cieux s’est approché” đã viết :”Chúng ta thấy : những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên, chúng ta biết rằng nơi Đấng là Đầu, tòan Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người, mà đến lượt mình, chúng ta có thể thóat được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giêsu dạy ta phải đương đầu như thế : bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đó. Lời Chúa che chở, bảo đảm cho chúng ta khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của lòai người : ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy, Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta”(Fiches dominicales, năm A, tr 172).
Truyện : Ngọn đuốc Vân Trường.
Đời Tam quốc, Quan Vân Trường bị thất thủ thảm bại ở Hạ bì. Thân đơn nhất mã, phò hai người chị dâu (tức vợ của Lưu Bị) qua nương nhờ nhà Tào Tháo. Đêm đến, Tào Tháo cho ba người ngủ chung một phòng, dụng tâm là muốn cho chị em lọan luân, chủ tôi phải thất lễ.
Quan vân Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dục quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng.
Mọi người thấy vậy khen Vân Trường là người chính trực. Từ đó, “Ngọn đuốc Vân Trường” được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vất dục quyến rũ lòng mình (Thiên Phúc).
Con người ai cũng bị vật dục quyến rũ , đấy là một sự kiện hiển nhiên, vấn đề đặt ra là có thắng đuợc nó hay không. Dù thế nào đi nữa, cám dỗ vẫn là số phận của con người ở trần thế. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian. Tuy nhiên thành công hay thất bại cũng tùy thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng các cơn cám dỗ. Số phận đời đời sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cuộc thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.
Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một lựa chọn : hoặc chọn thánh ý Chúa hoặc chọn chính mình. Hãy để cho Lời Chúa hướng dẫn cùng với sự cầu nguyện, ăn chay, hãm mình. Tuy Chúa sẽ hướng dẫn và giúp đỡ, chúng ta cũng phải khôn ngoan tránh những dịp đưa đến cám dỗ, chớ khinh thường vì “Họa mạc đại ư khinh địch” : không có cái hại nào to bằng khinh địch (Đại học).
Chúng ta bắt đầu buớc vào mùa Chay của năm Phụng vụ. Nhưng thật ra, cuộc sống của mỗi người là một mùa chay liên lỉ, bởi vì chúng ta thường xuyên gặp cám dỗ và phải luôn chiến đấu, để sống tinh thần của Chúa Kitô. Chúng ta nhiều lúc phải cam chịu thiếu thốn, đói khát mà không sử dụng tự do, khả năng của mình để tìm thỏa mãn, phụng sự cho chính bản thân mình và sống ích kỷ. Đôi lúc chúng ta bị coi như thất thế, ngu dại và bị giới hạn, yếu đuối bởi vì chúng ta đang tôn thờ và tùng phục đường lối của Thiên Chúa. Và rất nhiều khi chúng ta phải chịu thiệt thòi, từ chối những vui thú và vinh dự của trần gian để trung thành phụng sự Chúa.
—————————————————–
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
SỨC MẠNH CỦA HỒNG ÂN LỜI CHÚA– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Chủ nhật thứ nhất Mùa Chay đặt chúng ta trước một thảm kịch, mà thảm kịch ấy ảnh hưởng đến sự hiện hữu của chúng ta đó là : tội lỗi và hành động của con người nhằm phá vỡ sự hiệp thông với Thiên Chúa.
Trình thuật chương đầu tiên của sách Sáng thế cho thấy nguyên tổ của chúng ta đã khước từ Thiên Chúa. Nguyên nhân này nảy sinh từ “con rắn “, ma quỷ hay còn gọi là Satan. Con rắn muốn thực hiên ý định dụ dỗ Adam tự sức mình, lập luật cho mình và trở nên Thiên Chúa, mà không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Lời nói dối thuần túy ấy đưa con người đến chỗ diệt vong, bóp nghẹt ý muốn hiệp thông với sự sống thần linh của Ađam và cắt đứt mạch sống với Thiên Chúa khi bóp méo Lời Thiên Chúa.
Tin Mừng Matthêu cho thấy Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Nếu như nguyên tổ Ađam và Evà bị Satan ba lần dùng các chiến thuật cám dỗ với mục đích làm cho ông bà nguyên tổ hiểu lầm rằng nó đã làm những điều việc rất tốt cho Ađam và Evà. Nay nó cũng ba lần tấn công vào tương quan tình cha con giữa Chúa Giêsu với Cha Ngài.
Lần thứ nhất, nó đề nghị Chúa Giêsu tách khỏi Chúa Cha, tự khẳng định mình là Thiên Chúa khi nói : ” Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh.” Nhưng Chúa Giêsu đáp lại :” ” Có lời chép rằng : Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4 ). Ngài đã vượt qua thử thách và chiến thắng ma quỷ và tuyên xưng rằng sự sống đích thực chỉ có ở nơi Thiên Chúa, cần phải tin tưởng vào lời hứa của Chúa Cha. Nên Ngài hành động và tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa Cha, vì Ngài biết rằng Chúa Cha là Đấng trung thành. Nơi hoang địa, dân Israel đã chết vì bị cám dỗ sợ thiếu bánh ăn nên tích lũy manna. Dù Thiên Chúa đã yêu cầu không nhặt bánh thừa mỗi ngày. Nhưng họ vẫn nhặt bánh thừa vì nghi ngờ rằng : nếu Thiên không ban cho bánh nữa thì sao? Nếu Thiên Chúa không giữ lời hứa ? Một con chim ở trong tay tốt hơn hai con còn trong bụi rậm. Phần chúng ta, đã bao lần chúng ta bị cám dỗ mất lòng tin vào Thiên Chúa ! Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta rằng Chúa Cha là Đấng luôn trung thành, giữ lời hứa và quyết hối hận vì những gì Người ban tặng cho ta.
Cơn cám dỗ thứ hai, con rắn đẩy Chúa Giêsu vào thế buộc Chúa Cha phải can thiệp cho Ngài : “vì có lời chép rằng : Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với ông“, điều này ngầm thể hiện sự nghi ngờ mối quan hệ hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu đã không làm, Ngài không bắt Chúa Cha thực hiện phép lạ cho Ngài để dạy chúng ta phải khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa. Hậu quả của tội nguyên tổ một lần nữa nghi ngờ rằng Thiên Chúa còn giữ cho mình một cái gì đó mà không ban cho ông bà. Như Thiên Chúa nói với Adam : “Ngươi có thể ăn tất cả các trái cây trong vườn.” Con rắn đã bóp méo lời Thiên Chúa khi nói ngược lại với Evà : “Thiên Chúa nói rằng ngươi không thể ăn tất cả các trái cây trong vườn“. Không, Thiên Chúa không nói thế, vì từ nguyên thủy, Người đã cho chúng ta mọi thứ.
Con rắn đã nói dối, bởi nó phát hiện ra động cơ thực sự, chuyển hướng sang tôn thờ nó thay vì thờ phượng một mình Thiên Chúa như là nguồn gốc mọi điều thiện hảo. Ở đây chúng ta thực sự bị cám dỗ phạm thượng chống lại Thiên Chúa, từ chối Người để theo ma quỷ là kẻ có thể ban sức mạnh cho ta.
Cơn cám dỗ thứ ba : Đỉnh cao của sự cám dỗ này là ngọn núi cao và vương quyền phổ quát của Chúa Kitô. Trên núi này, Chúa Giêsu mạc khải tròn đầy sự từ bỏ trong niềm tin tuyền đối ở tay Cha. Và Chúa Cha đã biểu lộ tình phụ tử viên mãn của mình khi phục sinh Đức Giêsu. Adam mới là Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết và tội lỗi nhờ tin tưởng và phó thác trong tay Chúa Cha. Adam đầu tiên tự cao tự đại, quên đi thân phận thụ tạo của chính mình ” là hình ảnh Thiên Chúa ” có nghĩa là không bình đẳng hoặc đồng bản tính trong tương quan với Thiên Chúa, dẫn đến sự sụp đổ của chính mình. Thay vào đó, Chúa Giêsu Kitô, Adam thứ hai , đã vâng lời Thiên Chúa, hạ mình xuống nên được suy tôn khi phục hổi phẩm giá là con của chúng ta với Cha trên trời (x. Pl 2 : 6-11 ) .
Phụng vụ Chúa nhật đầu tiên của Mùa Chay đưa chúng ta trở lại với căn nguyên của tội lỗi là : ý muốn tự chủ, từ chối Hồng ân Lời của Thiên Chúa là Cha, Đấng là nguồn gốc mọi điều thiện hảo với tình con thảo.
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: đâu là vị trí của Thiên Chúa trong tất cả điều ấy?
Vậy chúng ta hãy chọn Chúa, đứng về phía Chúa, đón nhận Lời Chúa như là một hồng ân để chống lại tội lỗi, đương đầu với trận chiến thiêng liêng chống lại thần dữ, ba thù : Ma Quỷ, thế gian và xác thịt.
Lạy Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse cùng Các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa, xin giúp sức cho chúng con trong suốt Mùa Chay Thánh này. Amen.
———————————————————-
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
DỨT KHOÁT CHỌN LẤY SỰ VÂNG PHỤC – Fiches Dominicales
Chịu ma quỷ cám dỗ, Đức Giêsu đã có lựa chọn của một Người Con, phó thác trọn vẹn thân phận trong tay Cha. Câu chuyện được xem như điển hình cho tất cả những thử thách Người phải chịu cho đến hơi thở sau cùng.
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Trung thành với phép rửa đã nhận, một chọn lựa trước sau như một của Đức Kitô.
Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, và cả ba đều nối kết chặt chẽ câu chuyện này với phép rửa Người đã nhận trong dòng sông Giođan. Thánh sử Máccô viết: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ” (Mc l,12). Thánh Luca kể: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về, và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4,1). Còn thánh sử Matthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu Chúa Giêsu, sau khi đã chịu phép rửa, chịu quỷ cám dỗ, là vì Người được Thần Khí đưa dẫn. Cũng chính Thần Khí ấy đá đáp xuống và ngự trên Người, bên bờ sông Giođan, trong lúc có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.
Câu chuyện Đức Giêsu chịu cám dỗ J.Guillet nhận định theo cả ba Tin Mừng Nhất lãm, gắn liền với câu chuyện Chúa chịu phép rửa. Matthêu viết rõ: “Ngay sau khi ngự trên Đức Giêsu, Thần Khí dẫn Người vào hoang địa chịu quỷ cám dỗ (Mt 4,1). Bài tường thuật về cơn cám dỗ và phép rửa của Chúa làm thành một tập hợp riêng, liên can đến quãng thời gian Đức Giêsu chưa thực sự bắt đầu sứ vụ công khai của Người. Không hoàn toàn lặng lẽ ẩn mình như trong thời thơ ấu, nhưng Chúa có vẻ như để mình bị động từ bên ngoài: Từ Thiên Chúa là Đấng đã lên tiếng phán, từ Thần Khí dẫn Người vào hoang địa, và điều lạ lùng là ngay cả từ ma quỉ, cho nó lân la lại gần, dụ dỗ Người, và hình như có thể điều khiển được cả thân xác Người. Người ta có thể xem lúc này chỉ giai đoạn chuẩn bị. Thực ra đây là một luồng sáng chiếu rọi trước vào suốt lịch sử đang đến: lịch sử của Con Thiên Chúa và lịch sử của cả nhân loại. Toàn thể cuộc đời của Đức Giêsu, diễn ra trong ánh sáng của tiếng Chúa Cha xác nhận: đây là Con yêu dấu của Ta, dù bên cám dỗ cứ tha hồ rên rỉ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa”.
Trong lúc bài tường thuật của Máccô rất ngắn gọn vỏn vẹn chỉ có một câu, thì Matthêu và Luca không ngần ngại dàn dựng cả một câu chuyện đầy tính biểu tượng. Đây là một hình thức văn chương khá quen thuộc đối với những độc giả của các ông, là những người đã thấm nhuần văn hóa Do Thái. Xung quanh ba cơn cám dỗ con số tượng trưng cho sự viên mãn đầy đủ. Câu chuyện muốn tổng hợp tất cả cơn cám dỗ liên lỉ mà Chúa Giêsu phải chịu cho đến giây phút cuối cuộc đời.
Và để cho thấy rõ ràng, Đức Giêsu với tư cách là Môsê mới, đang thực hiện lại cuộc hành trình của Dân Thiên Chúa tiến về Đất hứa, Matthêu và Luca đã cố ý lựa chọn mặc dù khác nhau đôi chút về thứ tự “ba nơi chốn có tính cách biểu tượng của lịch sử Israel, đó là: Hoang địa, là nơi Dân Chúa chịu thử thách đầu tiên; Đền Thờ, là chỗ Dân Chúa tụ họp để tôn thờ sự hiện diện của Thiên Chúa, Núi Cao là nơi Môsê sẽ nhận lệnh Lề luật của Chúa, và núi Nê-bô là địa điểm từ đó ông đã nhìn về Đất Hứa” (J.Potin, Jésus, l’histoire vraie, Centurion, 1994 trang 114).
Giữa hoang địa – Niềm cậy trông tuyệt đối vào Thiên Chúa.
Cơn cám dỗ đầu tiên có khung cảnh là “hoang địa”. Đối với dân tộc Do Thái, đây là nơi chốn tượng trưng cho sự gần gũi Thiên Chúa, đồng thời cho sự thử thách làm sáng tỏ đáy lòng con người (chay tịnh, nhịn đói là nhằm thử lòng mình đối với Thiên Chúa); Hoang địa còn là nơi có tính cách biểu tượng cho mọi khởi đầu: Đức Giêsu ăn chay ở đây suốt bốn mươi đêm ngày, cũng như Môsê ngày xưa trên núi Sinai, trước khi đón nhận luật Giao ước. J.Guillet viết: đối với cư dân miền Palestine, hoang địa vừa là một phong cảnh cụ thể, nhìn thấy được từ đỉnh của dãy núi chính, vừa là một kỷ vật gợi nhớ lại thời các tổ phụ, đồng thời cũng là hình ảnh đầy ý nghĩa về những cách Thiên Chúa đã xử sự với dân Người. Có khi là những tai họa khổ đau Người để dân phải chịu, có khi là niềm an ủi, vỗ về Người dành cho họ. Trong ký ức của người Do thái, hành trình đi qua hoang địa vừa là quãng thời gian thiêng liêng của biến cố núi Sinai, cũng như của việc ban bố Lề luật, vừa là giai đoạn đen tối của thói kêu ca lẩm bẩm và những hành động chống đối của dân chúng, thời gian của Thiên Chúa và cũng là thời gian của ma quỉ, chính Đức Giêsu đã tự ý bước vào đó” (sđd, trang 44-45).
Trong hoang địa, khi chịu cái đói thử thách “để cho biết lòng dạ chúng ra sao” (Nhị Luật 8,2), con cái Israel đã nghi ngờ Thiên Chúa. Họ đã tỏ ra không dám cậy dựa vào một mình Lời Chúa, không dám tin tưởng vào các lời hứa của Người. Họ lẩm bẩm kêu ca: “Thà rằng chúng ta chết bởi tay Thiên Chúa ở đất Ai Cập thời ấy được ăn uống no nê” (Xh 16,3). Và Người đã ban mana xuống cho họ.
Trong hoang địa, Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sự dễ dãi tiện nghi, muốn ‘có tất cả, có liền’. Hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi, tên cám dỗ đã dụ Người.
J.Radermakers giải thích: “Tiếng nói đã mời mọc Đức Giêsu biến đá sỏi sa mạc thành mâm đồ ăn ngon, thành tiếng nói của bản năng và xác thịt loài người luôn có xu hướng bóp nghẹt sự sống của Thiên Chúa” (Au fil de l’Evangile selon saint Matthieu”, trang 67). Nhưng Đức Giêsu đã có lựa chọn của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Đệ Nhị Luật, chương 8 câu 3, liên hệ đến câu chuyện về bánh manna; “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”. Trái với dân Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu hoàn toàn phó thác nơi Chúa Cha, Người chỉ cậy dựa vào một mình Lời của Thiên Chúa. Rồi đây trong suốt cuộc đời hoạt động của Người, Đức Giêsu sẽ trở thành mục tiêu công kích của những, đối thủ. Họ đòi Chúa phải cho họ thấy những dấu chỉ tỏ tường, để minh chứng điều Người tự xưng về mình. “Bấy giờ, có những người thuộc phái Pharisêu là phái Xa-đốc lại gần Đức Giêsu”, Matthêu dùng lại từ ngữ của bài tường thuật Cám Dỗ, và để thử Người, thì xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời” (Mt 16,1). Nhưng cho đến giây phút cuối, Đức Giêsu vẫn muốn là một Đấng Cứu Thế nghèo, nhận lãnh tất cả từ Chúa Cha.
Trên nóc Đền Thờ – Chấp nhận con đường đau khổ.
Cơn cám dỗ thứ hai có khung cảnh là nóc “Đền Thờ”, nơi là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện và che chở Dân của Người.
Trong hoang địa, khi chịu cái khát thử thách, con cái Israel đã phải trải qua đêm tối của đức tin, khiến họ nghi ngờ và chống đối. Thiên Chúa đã dẫn họ vào hoang địa phải chăng để bỏ rơi họ trong cảnh tuyệt vọng “Có thực Thiên Chúa ở với chúng ta hay không? (Xh 17), họ lẩm bẩm với nhau như thế. Họ đã đi đến chỗ “thách thức” Thiên Chúa xem Người: có thể cung cấp nước uống cho họ trong hoang địa, họ “thử thách Người”.
Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về quyền lực. “Gieo mình xuống đi!”, tên cám dỗ xúi Người bằng cách xuyên tạc một câu của thánh vịnh 90: “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.
Một lần nữa, Đức Giêsu đã có chọn lựa của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Nhị Luật, chương 6, câu 16, liên hệ đến chuyện dân Do Thái kêu ca, và Thiên Chúa đã ban cho họ mạch nước tràn trề từ tảng đá: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Khác với Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu không bao giờ tìm cách thử xem Thiên Chúa có hiện diện trong cuộc đời mình hay không. Người bước đi mà không cho dấu chỉ nào, không yêu cầu bằng chứng nào, trong suốt sứ vụ, và nhất là trên thánh giá, vào giờ phút đen tối nhất, khi chính Chúa Cha cũng lặng thinh, Đức Giêsu đã chịu cơn cám dỗ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu lấy mình và xuống khỏi thập giá đi”, những đối thủ của Chúa đã buông lời thách thức, lập lại lời của tên cám dỗ trước kia. Nhưng Đức Giêsu, cho đến cùng vẫn trung thành với chọn lựa là một vị Cứu Thế khiêm cung, hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Cha.
Trên núi cao – chọn lựa một đường lối cứu thế, bằng phục vụ.
Cơn cám dỗ thứ ba, theo Tin Mừng Matthêu, có khung cảnh “một ngọn núi rất cao”. Nghe nói đến địa điểm này, người Do Thái chắc chắn sẽ liên tưởng đến ngọn núi Nê-bô ông Môsê đã lên để nhìn từ biệt Đất Hứa. Trên đó, Thiên Chúa đã chỉ cho ông xem thấy toàn bộ miền đất (Đnl 34,1), và thêm: “Miền đất này, ngươi sẽ chẳng được vào” (Đnl 34,4). Ở đây, Đức Giêsu là Môsê mới, đang chuẩn bị dẫn dắt đoàn dân của Người đến Đất Hứa Nước Trời, Người được tên cám dỗ chỉ cho thấy tất cả các nước thế giới và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy.
Trong hoang địa, con cái Israel bị hoang mang trước tương lai bất định, đã chịu thua cơn cám dỗ. Họ đã bỏ quên Thiên Chúa độc nhất, Đấng đã cứu họ khỏi đất Ai Cập, để chạy theo các thần ngoại khác dễ dãi, dễ sai khiến, dễ chiều theo ý muốn của họ, sẵn sàng bảo đảm cho họ giấc mơ quyền lực và mộng bá chủ: “Hãy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi”, họ yêu cầu ông Aaron (Xh 32,33); và Aaron đã làm cho họ một con bò vàng.
Chính Đức Giêsu cũng đã phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sức mạnh trần thế, dụ dỗ Người theo đuổi một đường lối cứu thế kiểu trần gian, chiều theo những mong đợi và tham vọng loài người. “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi”, tên cám dỗ hứa hẹn với Chúa như thế. Lần thứ ba, Đức Giêsu lại có chọn lựa của “Người Con”. Người đáp lại bằng cách trích dẫn Sách Nhị Luật, chương 8, câu 17-18, hiển nhiên có liên can với câu chuyện bò vàng: “Satan kia, xéo đi! Vì có lời chép rằng: ngươi phải bái lạy Đức Giêsu là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi. Khác xa dân Israel xưa trong hoang địa, Đức Giêsu khước từ mọi thỏa hiệp: Người dứt khoát đi theo con đường cứu thế bằng phục vụ chứ không phải bằng sức mạnh thống trị.
Trong suốt sứ vụ, Đức Giêsu phải thường xuyên đương đầu với cơn cám dỗ ấy. Cơn cám dỗ đến không chỉ từ phía những đối thủ hay đám đông dân chúng đi theo mà thôi, nhưng còn ngay từ những bạn hữu của Người, những kẻ Người sẽ giao trách nhiệm kế tục sứ mạng của Người. “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”, Phêrô đã lên tiếng can ngăn, thay mặt cho cả nhóm không muốn thấy Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, mà phải rơi vào số phận bi đát như thế. Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Và Đức Giêsu đã nghiêm khắc đáp lại, tương tự lời Người đã nói với tên dỗ: “Satan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người (Mt 16,16-23). Cho đến cùng, Đức Giêsu vẫn chọn làm một vị Cứu Thế tôi tớ đau khổ mà các ngôn sứ đã loan báo.
Potin kết luận: “Nếu Đấng được Thiên Chúa chọn đã vẻ vang vượt qua được cơn cám dỗ lần này, thì thử thách thực sự vẫn còn trước mắt. Như thánh sử Luca kết ở cuối câu chuyện: “Sau khi đã xoay hết cách để cám Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ (Lc 4,13). Đâu là khuôn mặt cứu thế mà Đức Giêsu phải đảm nhận. Phải chăng là khuôn mặt của Đavit, người của Thiên Chúa, và cũng là người của những cuộc chinh chiến chống lại quân thù. Phải chăng là khuôn mặt của Người Tôi Tớ Thiên Chúa mà chúng ta sẽ thấy được khắc họa ngày càng rõ nét. Matthêu và Luca có ý cho thấy ngay trước bắt đầu sứ vụ, vừa lãnh phép rửa xong, Đức Giêsu đã chọn lựa. Đấng được Thiên Chúa chọn, là Con Thiên Chúa, đã dứt khoát chọn lấy sự vâng phục trọn vẹn Lời của Thiên Chúa” (Sđd, trang 117).
BÀI ĐỌC THÊM
Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và cám dỗ: (“J.Guillet, “Jésus la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, 1995, trang 46-47).
“Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Đức Giêsu và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Đức Giêsu nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một trai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Đức Giêsu cũng chính là những cám dỗ của Dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố phép rửa và cám dỗ của Đức Giêsu, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn: phép Rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Đức Giêsu đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.
Đối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn mạnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảng khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối hết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau: là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.
Đúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gioan Thánh Giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này: nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thực, chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Đức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, Vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khá phân ly, ánh sáng của Phép Rửa cùng với đêm tối của Cám Dỗ, làm nên đức tin của Đức Giêsu Kitô, mầm mống của đức tin chúng ta.
“Những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay”.
“Chúng ta thấy: những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Đấng là Đầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người mà đến lượt mình chúng ta có thể thoát được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giêsu dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào: bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người? ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta.
——————————————————————
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
LÀM SAO CHIẾN THẮNG CÁM DỖ- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Cuộc sống không thiếu cám dỗ. Cám dỗ chợt đến, chợt đi nhưng nó dũng mãnh như cơn lũ có thể lôi kéo chúng ta lao vào sự dữ. Chỉ một phút mất cảnh giác nó có thể lấy đi nhân phẩm, danh dự của một con người. Nó hiện hữu bên ta như hình với bóng khiến ta lúc nào cũng phải nhớ đến nó. Nó thôi miên chúng ta từng phút giây như nhà văn Tế Xương đã bộc bạch rằng:
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà”.
Cám dỗ hiện hữu khắp nơi, và có mặt khắp chốn. Cám dỗ không cần khua chiêng đánh trống nhưng nó rất tinh vi dẫn dắt ta mê say theo chúng và một khi tỉnh ngộ thì đã quá sa vào sự dữ.
Có một con chuột rơi vào trong lu gạo, số gạo trong lu vẫn còn một nửa, sự cố ngoài ý muốn này khiến nó vui mừng không sao tả được.
Sau khi xác định là không có nguy hiểm gì, nó liền bắt đầu cuộc sống ăn rồi lại ngủ, ngủ rồi lại ăn trong cái lu gạo.
Rất mau, lu gạo sắp cạn kiệt, nhưng nó rốt cuộc vẫn không thoát khỏi sự cám dỗ của những hạt gạo, nên tiếp tục ở lại trong lu. Cuối cùng, gạo đã ăn hết, chuột ta mới phát hiện rằng mình không thể nhảy ra ngoài được nữa, lực bất tòng tâm!
Cuộc đời đôi khi xem ra rất yên bình nhưng thật ra khắp nơi đều đầy rẫy sự dữ chỉ cần một chút mất cảnh giác sẽ bị ma quỷ cướp mất linh hồn chúng ta.
Vậy đứng trước cám dỗ phạm tội vô luân, chúng ta nên phản ứng thế nào? Kinh Thánh cho biết câu trả lời: “Ý muốn của Đức Chúa Trời là anh em phải nên thánh và tránh khỏi sự gian dâm. Mỗi người trong anh em nên biết kiềm giữ thân thể mình thế nào cho thanh sạch và đáng trọng trước mắt Ngài” (1 Thess 4:3, 4).
Khởi đầu mùa chay Giáo Hội cho chúng ta học hỏi cách chiến thắng cám dỗ nơi Chúa Giê-su. Ngài đã chiến thắng cám dỗ nhờ luôn biết chọn vâng phục Chúa Cha hơn là nhu cầu bản thân.
Phúc âm ghi lại ma qủy năm xưa đã cám dỗ Chúa Giê-su bằng những thứ rất hấp dẫn về danh lợi thú. Nó đã mời mọc Chúa ăn đi để quay lưng lại với Chúa Cha như A-đam đã làm năm xưa. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy và còn hứa hẹn cho Chúa nắm gọn trong tay cả và dân thiên hạ. Có kẻ hầu người hạ. Có cơ hội hưởng dùng mọi vinh hoa phú quý trần gian.
Nhưng Chúa Giê-su đã chiến thắng cám dỗ. Ngài luôn chọn theo thánh ý Chúa Cha và vâng phục Chúa Cha. Ngài luôn tìm kiếm thực thi ý Chúa Cha hơn là những phù hoa trần gian. Ngài đến trần gian không phải vì những thứ ấy mà là vì muốn ý Chúa Cha nên trọn. Những cám dỗ ấy dù được bày ra thật hấp dẫn nhưng chỉ là sản phẩm của ma quỷ nên thường là giả tạo và mau qua. Chỉ có Thiên Chúa mới là thật, mới trường tồn qua mọi thời gian nếu con người biết vâng nghe lời Thiên Chúa.
Cuộc đời chúng ta chỉ hạnh phúc khi có tự do. Tự do không bị ràng buộc bởi dục vọng và đam mê. Tự do sống thanh thoát khỏi những tham vọng mù quáng. Tự do không để ma quỷ cám dỗ vào đường tội lỗi. Thế nên, chúng ta cần phải tỉnh thức trước cám dỗ để đừng vì đam mê lầm lạc mà mất tự do trở thành nô lệ ma quỷ.
Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng sự dữ nâng đỡ và giúp chúng ta chiến thắng những cám dỗ đang đeo đuổi và ràng buộc chúng ta. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết thanh luyện chính mình để mỗi ngày nên hoàn thiện như Cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Amen
————————————————————-
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
LỜI CHÚA LÀ MỘT HỒNG ÂN- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Mùa Chay trải dài 40 ngày.Thời gian này nhắc lại 40 năm của dân Israel trong sa mạc trước khi đến Đất hứa, 40 ngày ngôn sứ Êlia ở trên núi Horeb, 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện trong hoang địa.Thời gian 40 ngày là con số tượng trưng nói lên thời gian thử thách và thanh luyện.Trên con đường về Nước Trời, chúng ta trải qua những thử thách và thanh luyện.Thời gian 40 ngày chay tịnh thật quí giá để mỗi người nhìn lại bản thân, đánh giá lại chính mình để sám hối canh tân.
Hàng năm, Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Chay đều nói về cám dỗ. Chúa Giêsu vào hoang địa. Sau 40 đêm ngày ăn chay và cầu nguyện, Satan xuất hiện và cám dỗ. Chúa Giêsu đã chiến thắng Satan.
Chịu cám dỗ
Làm người ở đời là chấp nhận thân phận chịu cám dỗ. Thánh Kinh đã ghi nhận, từ buổi đầu sáng tạo đã có cám dỗ. Thụ tạo đầu tiên trong hàng các thiên thần đối diện với cám dỗ là Lucifer, một thiên thần sáng láng đã không vượt qua được cơn cám dỗ, và đã trở thành Satan tăm tối. Tiếp đến, thụ tạo đầu tiên trong con người là Adong và Evà cũng đã nếm mùi cám dỗ. Nguyên Tổ đã gục ngã thảm thương trước cám dỗ cho nên đau khổ sự chết đã tràn vào thế gian.Trong hành trình về Đất Hứa, dân Israel đi trong sa mạc và đã gặp nhiều cám dỗ: cám dỗ trở lại Ai cập để có bánh ăn; cám dỗ thờ tượng con bê vàng; cám dỗ thử thách Thiên Chúa.Vua Đavit sa ngã trước cám dỗ sắc dục nên đã phạm tội cướp vợ của Uria và đã giết chết người anh em này.Giuđa Iscariốt chỉ vì tham tiền nên đã phản bội Thầy và bán Thầy giá 30 đồng bạc bằng nụ hôn giả dối…Các chước cám dỗ của Satan đều chung quy về ba mục tiêu: danh, lợi, thú.
Thiên Chúa cho phép ma qủy cám dỗ để thử thách xem con người ta có trung tín hay không, và để cho con người có cơ hội lập công phúc, để họ có thể chứng minh đức tin của mình.
Thiên Chúa cho có sự cám dỗ để cho con người phấn đấu thanh luyện mình, và đồng thời, khi Ngài cho phép như thế, ma qủy cũng lợi dụng triệt để mà cám dỗ con người. Mỗi ngày, chúng bày ra những chước độc mưu thâm, mỗi lúc một tinh vi xảo quyệt, lắt léo khôn khéo để cám dỗ người ta.
Thiên Chúa ban ơn thêm sức để con người chúng ta có thể chống lại những cơn cám dỗ ấy. Không khi nào Chúa để con người phải chịu những cơn cám dỗ qúa sức mình chịu đựng được. Như vậy, chúng ta phải chiến đấu với những cơn cám dỗ. Điều cần thiết là chúng ta phải phân định được ma qủy với những hành động cám dỗ xấu xa của nó để chống trả và xa lánh.
Ma qủy thường cám dỗ như thế nào ?
Ma qủy lừa dối con người.Ai cũng có trí khôn, biết phân biệt điều nào là xấu, là nguy hại và chẳng nên làm. Nhưng ma qủy lừa dối cho rằng việc làm đó là có lợi, là cần thiết nên người ta mới dấn sâu vào. Khi cám dỗ Evà, ma qủy không nói rằng ăn trái cấm đó là chống lại Thiên Chúa, nó chỉ nói rằng ăn trái này thì Bà sẽ được trở nên thông minh như Thiên Chúa. Có nhiều người bước vào nghiện ngập bằng những phút giây sảng khoái thăng hoa lừa dối. Nếu người ta biết sự xấu xa của tội thì có lẽ không ai lại đi phạm tội, nhưng người ta tưởng lầm, hoặc bị cám dỗ coi đó là hạnh phúc. Nếu người ta nhìn thấy những hình khổ nơi hỏa ngục thì chằng ai dám phạm tội. Ma qủy khiến người ta phạm tội bằng cách dẫn người ta một cách từ từ. Không khi nào có ai có thể phạm tội trọng ngay tức khắc, tội trọng chỉ bắt đầu bằng những tội nhẹ. Người ta thường nói, khi còn bé ăn trộm một qủa trứng, rồi khi lớn lên sẽ ăn trộm cả một con bò. Những tội trọng bắt đầu từ những nết xấu hay những tội nho nhỏ. Ma qủy cũng vậy, nó dẫn dắt người ta từ chỗ tưởng chừng vấp phạm những điều nhỏ tới phạm những điều lớn. Không ai nghiện thuốc ngay từ điếu hút đầu tiên, không ai nghiện rượu ngay khi uống chén đầu tiên. Nhưng dần dần nếu lập đi lập lại nhiều lần sẽ dẫn đến chỗ nghiện ngập (x. Buồn vui cùng kiếp người, ĐTGM Ngô Quang Kiệt, trang 33).
Chuyện kể rằng : khi ông Nôe trồng nho, Satan lấy làm lạ nên tiến lại gần hỏi :
– Ông đang trồng cây gì thế ?
– Cây nho.
– Nó có lợi gì không ?
– Có chứ. Trái nó vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng. Từ trái nho ta còn có thể làm ra rượu giúp lòng người hưng phấn nữa.
– Vậy thì để tôi giúp ông.
Satan liền giết một con chiên, một con sư tử, một con lừa và một con heo. Lấy máu của chúng tưới gốc cây nho. Thế là cây nho lớn nhanh. Nôe lấy trái nho làm rượu.
Từ đó trở đi khi người ta uống một chút rượu vào thì sẽ vui vẻ dễ thương như con chiên; uống thêm chút nữa thì mạnh bạo như sư tử; nếu uống thêm thì sẽ ngu như lừa; nếu uống nữa thì… hoàn toàn như con heo vậy. (Truyện cổ Nước Pháp).
Ma qủy luôn lừa dối con người. Chúng ta phải luôn cảnh giác.
Phương thế chiến thắng cám dỗ.
Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta phải biết chống cự lại những cơn cám dỗ. Muốn chống lại, phải có những phương thế để có thể chiến thắng.
Lời Chúa.
Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu từ những điều thường nhất là cơm bánh hàng ngày. Chúa nhịn ăn 40 đêm ngày, đói thì cần ăn, đó là điều rất đổi bình thường.Ma qủy lợi dụng điều đó để cám dỗ, sau đó mới cám dỗ những những điều mạnh hơn là thử thách Thiên Chúa và chống lại Ngài. Chúa Giêsu dùng Lời Chúa để chiến thắng.
Gương của Chúa Giêsu được Tin Mừng Thánh Luca kể rõ: mỗi lần ma qủy đưa ra một chước cám dỗ thì Ngài lại lấy một lời của Kinh Thánh mà đẩy lui chước cám dỗ ấy:
– Có lời chép rằng: người ta không sống bằng cơm bánh mà còn bằng lời của Thiên Chúa nữa.(Lc 4,5)
– Có lời chép rằng:ngươi phải thờ lạy Chuá là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người.(Lc 4,8)
– Có lời chép rằng: ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi.(Lc 4, 11).
“Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ“. Satan tạm lánh vào bóng tối, khi có thời cơ thuận tiện sẽ quay lại tiếp tục tấn công. Có lần, Satan dùng miệng lưỡi của Phêrô để cám dỗ Chúa đừng lên Giêrusalem chịu khổ nạn. Chúa quay lại quát nạt: “Satan, hãy lui ra đằng sau, đừng gây cớ cho Ta vấp phạm”. Thời cơ ma quỷ chờ đợi chính là lúc Chúa Giêsu trải qua cuộc Khổ Nạn. Trong vườn Giêtsêmani, khi đối diện với cái chết đang cận kề, Chúa Giêsu không khỏi sợ hãi đến nổi “mồ hôi đổ ra như máu”. Người đã thân thưa cùng Chúa Cha đến hai lần: “ Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha ” (Mt 26, 39b); “ Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha ” (Mt 26, 42b). Cao điểm là khi Chúa bị treo trên thập giá, Satan dùng miệng lưỡi kẻ qua người lại để cám dỗ Chúa xuống khỏi thập giá: “Ông Kitô vua Israel, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi để chúng ta thấy và tin”. Trong suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đã phải chiến đấu chống lại nhiều cơn cám dỗ. Người thực sự là Thiên Chúa nhưng đồng thời Người cũng hoàn toàn là con người nên “Người cũng phải chịu trăm chiều thử thách y như ta” (Dt 4,15). Chúa Giêsu đã chiến thắng tất cả. Không một cám dỗ, không một thách thức nào có thể khiến Người lùi bước.
Lời Chúa là sức mạnh tâm linh, là lẽ sống thần linh và là lời ban sự sống. “Lời Chúa thì sống động và mạnh mẽ, có khả năng biến đổi những cõi lòng và đưa chúng trở về với Chúa.” (Sứ điệp mùa Chay 2017). “Lời Chúa là một hồng ân”, đọc và suy gẫm Lời Chúa sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng tội lỗi.
Ăn chay cầu nguyện.
Ăn chay cầu nguyện giúp con người chế ngự bản thân.Tội lỗi của con người là do không biết chế ngự bản thân. Ăn chay cầu nguyện giúp chúng ta biết thanh luyện con người mình, chế ngự bản thân, hãm dẹp dục vọng. 40 ngày Mùa Chay nhắc nhớ về 40 ngày đêm chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa, nhắc lại 40 năm dân Do thái lưu đày trong sa mạc chuẩn bị về Đất hứa. Mùa Chay là mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng, giúp chúng ta trở nên người thiện chiến, biết chế ngự và làm chủ bản thân.
Cầu nguyện là nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Khi vào hoang địa, khi bị ma quỷ cám dỗ, Chúa Giêsu cần đến sự nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Người đã dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và đã chiến thắng cám dỗ.
Khi chúng ta lâm vào những cuộc thử thách, phải đối diện với những mưu chước của ma quỷ, rất cần ơn Chúa Thánh Thần trợ lực. Chúa Giêsu mà còn cần đến Chúa Thánh Thần nữa, thì huống hồ là chúng ta !
Cần phải cầu nguyện (Lc 22,40; Cv 2,42; GLGH #2612,2742). Nhờ cầu nguyện, Chúa Giêsu đã không cô đơn một mình, nhưng “được Thánh Thần hướng dẫn” (Mt 4,1). Nhờ cầu nguyện, chúng ta được liên kết với sức mạnh của Thánh Thần và với Các Thánh trên trời.Vai trò của Chúa Thánh Thần thật quan trọng trong đời sống của chúng ta. Những lúc bị cám dỗ, những khi sống trong cô đơn, buồn chán và thất vọng…hãy cậy trông và khẩn cầu với Chúa Thánh Thần xin ơn phù trợ. Chính Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy các con mọi điều” (Ga 14,26).
Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều cám dỗ. Một xã hội đầy dẫy các tệ nạn và có nhiều lối sống buông thả. Đó là môi trường là cơ hội thuận tiện cho ma quỷ ẩn núp và tấn công. Cám dỗ ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi dưới muôn hình dáng vẻ. Vì thế, lời dặn dò của Chúa Giêsu ngày càng khẩn thiết: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ“. Cơn cám dỗ độc hại nhất mà con người cần phải luôn tỉnh thức canh phòng và trường kỳ chiến đấu bằng mọi cách, chính là lòng ích kỷ, quan niệm sống hẹp hòi, thiển cận của chính mình, chỉ biết có mình mà quên kẻ khác, chỉ biết thu vén lợi ích cho riêng mình mà quên quyền lợi kẻ khác.
Để tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta cần sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và ánh sáng soi dẫn của Lời Chúa, thực thi những việc đạo đức của Mùa Chay.
Chúa Giêsu đã từng căn dặn các Tông Đồ: “Hãy tỉnh thức”. Tỉnh thức để nhận ra mưu mô của ma quỷ, tỉnh thức trước những lôi cuốn của thế gian, tỉnh thức trước những yếu đuối của con người xác thịt.
Mùa Chay là thời gian đặc biệt để sám hối canh tân bản thân dưới ánh sáng Lời Chúa và thực hành ăn chay cầu nguyện theo gương Chúa Giêsu, nhờ đó mỗi người chúng ta sống đẹp lòng Thiên Chúa hàng ngày như lời mời gọi của Đức Thánh Cha “Anh chị em thân mến, Mùa Chay là mùa thuận lợi để đổi mới cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Kitô, Đấng đang sống trong lời của Người, trong các bí tích và nơi người thân cận của chúng ta. Chúa là Đấng đã chiến thắng sự lừa dối của Tên Cám Dỗ trong bốn mươi ngày ở sa mạc, sẽ chỉ cho chúng ta con đường chúng ta phải đi. Nguyện xin Chúa Thánh Thần dẫn đưa chúng ta vào một cuộc hành trình thực sự của hoán cải, để chúng ta có thể tái khám phá hồng ân lời Chúa, được thanh tẩy khỏi tội lỗi đã làm cho chúng ta ra mù loà, và phục vụ Chúa Kitô hiện diện trong những anh chị em của chúng ta đang túng thiếu”. (Sứ điệp mùa Chay 2017).
—————————————————-
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG- Trích Logos A
Một ngày kia, tại nhà tù Sing Sing nổi tiếng nước Mỹ, người ta đưa một thanh niên lên ghế điện. Anh ta can tội cướp của giết người.
Người ta cột anh ta vào chiếc ghế điện cùng với những miếng kim khí dẫn điện quanh đầu và bắp chân. Lát nữa đây, dòng điện trên 1000 volt sẽ chạy qua thân xác anh ta, làm tê liệt toàn thân và anh ta sẽ chết ngay sau nửa phút đồng hồ.
Trước khi đóng cầu dao điện, người phụ trách hành hình hỏi anh ta có muốn nói gì trước khi chết không. Anh ta đã nói với một giọng điệu đau đớn cực độ :
– Đây, tất cả mọi chuyện đã bắt đầu khi tôi ăn cắp một đồng 5 xu trong túi áo mẹ tôi. Rồi tôi ăn cắp 2 đồng 5 xu. Sau đó, tôi bắt đầu ăn cắp đồ vật ở trường học, ở tiệm tạp hóa, ở nhà hàng. Tôi có thêm những đứa bạn tiếp tay và chúng tôi lún sâu vào con đường tội lỗi. Chúng tôi quyết định cướp ngân hàng và lần đó, tôi đã bắn chết một viên cảnh sát. Vâng, tất cả mọi chuyện đã bắt đầu với một đồng 5 xu !
Đó là câu chuyện thường tình của tội ác, là câu chuyện đơn giản của những lỗi lầm. Nó thường khởi đầu bằng một “chuyện nhỏ” : một đồng 5 xu, một ly rượu, một lá bài, một tư tưởng xấu, một lời nói thiếu suy nghĩ … Từ những cám dỗ thật nhỏ mọn, người ta thua cuộc một cách dễ dàng và thế là thảm kịch đã xảy ra !
Bài trích sách Sáng Thế hôm nay đã thuật lại sự sa ngã của ông bà Nguyên Tổ Adam và Eva trong vườn Địa Đàng. Đây chính là vở bi kịch của nhân loại khởi đầu bằng một “trái táo nhỏ”. Trái táo ấy là biểu tượng của những cám dỗ gây ra tội lỗi cho con người.
Sau khi được Thiên Chúa tạo dựng, con người hưởng hạnh phúc muôn thuở trong vườn Địa đàng. Nhưng Thiên Chúa đã cho mọc lên ở giữa vườn cây “biết thiện ác” trổ sinh “trái cấm” thơm ngon.
Qua lời dụ dỗ của con rắn, ông bà Nguyên Tổ đã giơ tay hái lấy trái cây ấy và ghé răng cắn vào để được thông minh, sáng suốt như thần thánh.
Thế rồi, thảm kịch đã xảy đến ! Con người bị Thiên Chúa tuyên án phạt. Khu vườn hạnh phúc đã đóng lại. Tất cả chỉ vì một “trái táo nhỏ”.
Ngày nay, vở bi kịch ấy vẫn tái diễn trong cuộc sống con người. “Trái táo nhỏ” vẫn xuất hiện trong cuộc sống như những lời mời gọi ngọt ngào nhất. Những “trái táo nhỏ” mang nhiều tên gọi và nhãn hiệu : sắc đẹp, tình yêu, danh vọng, tiền bạc, thú vui …
Có điều đáng nói là những “trái táo nhỏ” ấy luôn xuất hiện trong tầm tay với của chúng ta, luôn có những sắc màu quyến rũ và thường ẩn mình trong lớp vỏ rực rỡ. Quan trọng và nguy hiểm hơn, những trái táo ấy luôn “thu mình” lại để trở thành những “chuyện nhỏ” trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Thật trớ trêu thay ! Dù biết rõ tường tận những cám dỗ cuộc đời, chúng ta vẫn rơi vào cạm bẫy của cái ác. Nguyên nhân của sự thất bại trước những cơn cám dỗ : chúng ta chưa chiến đấu tích cực để chiến thắng.
Cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu trong hoang địa.
Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu thuật lại cuộc chiến đấu và chiến thắng của Chúa Giêsu trước những cơn cám dỗ của Satan trong hoang địa. Cũng vậy, những cơn cám dỗ ấy cũng bắt đầu bằng những “chuyện nhỏ” trong nhu cầu bình thường của con người. Cuộc chiến đấu của Chúa trải qua 3 bước :
Cơm bánh : sau khi Chúa Giêsu ăn chay 40 đêm ngày, Ngài cảm thấy đói. Đói luôn là cảm giác thông thường của con người. Cơm bánh cũng là nhu cầu tất nhiên của thân xác. Vì thế, người ta ăn khi cảm thấy đói. Đó là một việc thật đơn giản và thường tình trong cuộc sống.
Satan đã bắt đầu bằng một việc thông thường như vậy để dẫn Chúa Giêsu vào cơn cám dỗ biến đá thành bánh, thỏa mãn dục vọng thể xác. Người ta nói con người “sống không phải để ăn, nhưng ăn để sống”. Chúa còn chiến đấu để chiến thắng ở mức độ cao hơn khi dựa vào lời Thiên Chúa : “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”.
Quyền lực : Satan đưa Chúa vào một cuộc chiến khốc liệt hơn : chiến đấu với cơn cám dỗ quyền lực. Ma quỷ cám dỗ Chúa nhảy từ Đền Thờ xuống để chứng tỏ quyền năng phi thường. Đồng thời cũng chứng tỏ quyền lực trên các thiên thần, khi ra lệnh cho các thiên thần đưa tay nâng đỡ Chúa.
Quyền lực luôn là “miếng mồi” ngon ngọt trước mắt con người. Vì say mê quyền lực, con người đã lao mình xuống vực thẳm tội lỗi. Vì đam mê quyền lực, con người cũng xô đẩy nhau xuống hố sâu của sự bất hạnh.
Chúa Giêsu đã chiến đấu một cách tích cực hơn, khi dựa vào lời Thiên Chúa : “Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi”.
Vinh quang : Satan đưa Chúa vào cuộc chiến cuối cùng, một cuộc chiến đấu thật cam go khi đứng trước cơn cám dỗ của “bả” vinh quang phù phiếm.
Ma quỷ đưa Ngài lên núi cao, chỉ cho Ngài thấy vinh quang thế tục và cám dỗ Ngài tôn thờ những thế lực sự dữ. Chúa đã cương quyết chiến đấu không khoan nhượng để chiến thắng vẻ vang.
Vinh quang trần thế thường làm lóa mắt những kẻ nhiều tham vọng. Vì mờ mắt trước ánh hào quang của danh, lợi, thú, con người sẵn sàng đánh mất chính mình, để tôn thờ những thần tượng thế gian, sẵn sàng làm nô lệ để đổi lấy một chút hư danh.
Chúa Giêsu đã vượt lên trên hấp lực của vinh quang giả tạo và chiến thắng chính mình khi dựa vào lời Thiên Chúa : “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng sự một mình Người”.
Cuộc chiến thắng của Chúa dựa trên nền tảng vững chắc là lời Thiên Chúa. Đó chính là vũ khí sắc bén trong tay Chúa để chiến đấu. Điều đó cho thấy Chúa luôn tuân phục thánh ý Thiên Chúa thể hiện qua lời của Người. Đúng như lời thánh Phaolô trong thư Rôma : “Chỉ vì một người không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người bị liệt vào hàng tội nhân, thì nhờ một người đã vâng lời Thiên Chúa mà muôn người sẽ được kể là công chính”.
Ngày kia, có người hỏi một thầy dòng ẩn tu :
– Trong một ngày, thầy làm những gì ?
Thầy dòng trả lời :
– Tôi cầu nguyện cùng Thiên Chúa, làm việc bác ái và lao động. Ngoài ra, tôi còn phải thuần hóa những con thú của tôi nữa.
Người kia nhìn chung quanh không thấy con thú nào cả, mới hỏi :
– Tôi có thấy con thú nào đâu mà thầy thuần hóa ?
– Có đấy ! Tôi có một con hổ, một con gấu, một con chim ưng và một con rắn phải huấn luyện hằng ngày. Này nhé, con hổ với những móng vuốt sắc nhọn tham mồi được biểu lộ qua đôi tay tham lam của tôi. Tôi cũng đang mang trái tim hung dữ của con gấu, cần phải làm cho hiền dịu lại. Tôi còn mang đôi mắt chim ưng chuyên rình mò, xét nét người khác, mang cái lưỡi như con rắn hay phê phán, vu oan, nói xấu người khác.
Tất cả những con thú đó luôn muốn trỗi dậy trong con người tôi. Vì thế, mỗi ngày tôi phải rèn luyện và thuần hóa chúng, để tôi luôn luôn là “một con người”.
Hôm nay, sống trong mùa chay, chúng ta hãy luôn luôn chiến đấu với những thói hư tật xấu, những đam mê thấp hèn, để chiến thắng những “con thú” đang ẩn mình trong chúng ta.
————————————————————-
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY- NĂM A
CÁM DỖ- Lm Phêrô Trần Thanh Sơn
Hôm nay, bước vào Nhà Thờ, có lẽ mỗi người chúng ta thấy bầu khí phụng vụ có sự thay đổi. Lễ phục trong phụng vụ đã chuyển sang màu Tím. Các bình hoa đã được cất bớt đi. Tiếng đàn cũng không còn rộn ràng như những ngày vừa qua… Tất cả những điều đó như muốn nhắc mỗi người chúng ta rằng: phụng vụ đã bắt đầu bước vào Mùa Chay. Khi nói đến “mùa Chay”, chắc hẳn gợi lên trong tâm trí của từng người chúng ta việc sám hối. Chúng ta cần sám hối vì trong cuộc sống của mình, chúng ta đã không thiếu những lần lầm lỡ, không thiếu những lần làm những điều mà mình không muốn.
Do đó, để giúp con cái mình nhận thức rõ hơn điều này, ngay trong Chúa Nhật I Mùa Chay này, mẹ Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta theo bước Đức Giêsu vào hoang địa, để nhận mặt lại tên cám dỗ và những mưu kế của nó, để rồi theo gương Đức Giêsu, và nhờ sự trợ lực của Ngài, chúng ta cũng có thể chiến thắng nó.
Khuôn mặt tên cám dỗ:
Cám dỗ I: Biến đá thành bánh.
Tin mừng thuật lại: Khởi đầu cho sứ vụ công khai của mình, ngay sau khi chịu phép Rửa bởi Gioan, Đức Giêsu “được Thánh Thần dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ”. Tại đây, Đức Giêsu đã “nhịn ăn bốn mươi đêm ngày” và sau đó “Người cảm thấy đói”. Và ngay lập tức tên cám dỗ ra tay hành động. Nó nói với Đức Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá nầy biến thành bánh”.
Đây là một cám dỗ rất dễ gặp trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Nó cũng rất tế nhị, vì gắn liền với bản năng tự nhiên của con người: bản năng sinh tồn. Hơn nữa, nhìn qua bên ngoài, nó còn có vẻ hợp lý với suy nghĩ tự nhiên của con người: đói thì ăn, khát thì uống. Cơn cám dỗ này hôm nay vẫn tồn tại dưới dạng một hình thức khác, chẳng hạn như lý luận: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là đặt ưu tiên cho “cái bụng, cái trước mắt” trước lãnh vực “siêu nhiên, đời sống tinh thần”. Hay nói theo cách nói của thánh Phaolô: “Họ lấy cái bụng làm Thiên Chúa” (Pl 2, 19). Thế rồi dựa vào lý luận này, chúng ta cứ tự biện minh cho sự khô khan, nguội lạnh của mình. Và thế là ừng bước một, tên cám dỗ dẫn chúng ta đi xa dần Thiên Chúa.
Cám dỗ II: Nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa.
Kế đó, tên cám dỗ đã đưa Đức Giêsu lên góc tường của Đền Thờ rồi nói với Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các thiên thần đến với ông, và chư vị đó sẽ ngâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá”. Đây là một cám dỗ nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa. Cám dỗ này rất dễ gặp, nhất là những khi chúng ta gặp thử thách, gian nan: Tin và sống công chính thì được lợi lộc gì? Nó còn là một thách thức trong đời sống đức tin khi phải đối diện với mầu nhiệm về sự dữ: Tại sao người sống bất công vẫn gặp may?
Mặt khác, cám dỗ này vẫn còn mang tính thời sự của nó mỗi khi chúng ta đặt mình trong dịp tội. Mỗi lần đi bia ôm, karaokê ôm, uống café ôm, hay bạn bè với những người xấu, ngồi coi đánh bạc, nhậu nhẹt, xem film sex … phải chăng là những lần chúng ta đang thử thách Thiên Chúa? Cám dỗ này còn là cám dỗ đòi những sự kiện giật gân bên ngoài, đòi những phép lạ. Chính Chúa Giêsu, trong suốt hành trình sứ vụ vẫn tiếp tục đối diện với cơn cám dỗ này. Đám đông dân chúng đi theo Ngài vẫn luôn đòi một dấu lạ (x. Mt 16, 1-4). Nhất là khi bị treo trên thập giá, Đức Giêsu cũng đã gặp lại thử thách này. Đám đông đứng dưới chân thập giá đã lớn tiếng thánh thức Đức Giêsu: “Nếu mày là Con Thiên Chúa! Hãy xuống khỏi thập giá đi nào!” (Mt 27, 40).
Cám dỗ III: Thờ ngẫu tượng
Thất bại trong hai cám dỗ đầu tiên, giờ đây, tên cám dỗ đã đưa ra trước mắt Đức Giêsu mọi vinh quang trần thế để lôi kéo Ngài quay lưng trở lại với Thiên Chúa. Đây cũng là một cơn cám dỗ rất dễ gặp trong đời thường vì nó gắn liền với những lợi lộc vật chất thấy ngay trước mắt: tiền bạc, danh vọng, quyền thế … Nó đánh ngay vào cái gọi là sự đam mê quyền lực của mỗi người chúng ta. Ngay trong vườn Địa Đàng, ông bà Nguyên Tổ đã không thể đứng vững cơn cám dỗ này, khi nghe con rắn nói: “Ngày nào các ngươi ăn trái ấy,… các ngươi sẽ biết thiện ác như thần thánh”. Ông bà đã lập tức hái và ăn trái cây Thiên Chúa cấm. Và con người hôm nay cũng thế. Đã có biết bao nhiêu người không ngần ngại dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả việc “giết người, phản thầy, hại bạn” để đoạt cho được quyền lực về trong tay mình.
Đây là cám dỗ đặt quyền lực và vinh quang trần thế vượt trên tất cả. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Philip đã nhận xét về những người này như sau: “Họ lấy cái bụng làm Thiên Chúa, vinh quang đặt nơi điều đáng phải xấu hổ, họ chỉ biết nghĩ đến những điều dưới đất” (Pl 3, 19).
Qua một vài điểm tìm hiểu như thế, chúng ta thấy tên cám dỗ không chỉ có vào thời Đức Giêsu, nhưng vẫn đang tiếp tục tấn công mỗi người chúng ta hôm nay. Đó là cơn cám dỗ về của ăn, cám dỗ chúng ta ngã lòng khi nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa, hoặc là sự lôi kéo chúng ta đặt mình trong dịp tội; đó còn là cám dỗ về lòng khao khát quyền lực và vinh quang trần thế trong mỗi người chúng ta
Và cuối cùng, mặc dù ranh ma, nhưng cuối cùng tên cám dỗ đã phải thất bại ê chề. Nó đã phải rút lui trong nhục nhã trước lòng tin, sự cậy trông và lòng mến sắt son của Đức Giêsu nơi Thiên Chúa Cha.
Phương thế vượt thắng cơn cám dỗ:
Nhìn lại cuộc chiến thắng của Đức Giêsu, chúng ta có thể rút ra các bài học như sau:
Thứ nhất, Đức Giêsu đã có một thái độ dứt khoát về sự chọn lựa của mình. Sự chọn lựa này không chỉ trong tư tưởng mà thể hiện ra ngay bên ngoài. Ngài nói với tên cám dỗ: “Xéo đi! Sa tan! Vì có lời chép: Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng sự một mình Ngài”. Đây quả là một lời mạnh mẽ, rõ ràng nói lên chọn lựa kiên quyết của Đức Giêsu đối với chương trình của Chúa Cha. Đối với Đức Giêsu: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Và để sống trọn vẹn sự chọn lựa này, Đức Giêsu đã dành trọn cuộc đời mình để thi hành ý muốn của Chúa Cha. Đối với Đức Giêsu, Thánh Ý Chúa Cha là trên hết. Nó vượt trên cả bánh ăn cho thân xác, và trên cả mọi vinh quang trần thế. Đức Giêsu đã luôn thi hành điều này một cách tuyệt đối trong suốt cuộc đời của mình, Ngài đã từng nói với các môn đệ bên bờ giếng Giacóp: “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta” (Ga 4, 34a; x. Lc 22, 42; Pl 2, 8).
Kế đó, là việc sống gắn bó và sự cậy dựa vào ơn Chúa. Trở lại với các bài đọc, chúng ta thấy trong vườn Địa Đàng, ông bà Nguyên tổ đã dùng lý luận của mình để đối thoại với tên cám dỗ, nên đã thất bại cách thảm hại. Còn trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đã hoàn toàn dùng lời Chúa để trả lời cho tên cám dỗ, nên Ngài đã chiến thắng vẻ vang, và “các thiên thần đã đến hầu hạ Ngài”.
Giờ đây, trong những ngày đầu của Mùa Chay, nhờ sự cầu bầu của Mẹ Maria, và nhất là ân sủng của Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể, mỗi người chúng ta hãy quyết tâm chọn Chúa làm cùng đích của cuộc đời mình. Đồng thời, khởi đi từ Mùa Chay thánh này, chúng ta hãy siêng năng đọc và suy gẫm Lời Chúa, nhờ đó, chúng ta sẽ có đủ sự khôn ngoan để nhận ra khuôn mặt của tên cám dỗ, và có đủ nghị lực và sức mạnh để chiến thắng nó. Amen.

































