CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973 2
CỨ ĐỂ NGÀY MAI LO…. – Chú giải của Noel Quesson. 6
TRƯỚC HẾT HÃY TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA- Lm. Inhaxiô Hồ Thông(*) 14
PHÓ THÁC CHO CHÚA QUAN PHÒNG – Lm Fx. Vũ Phan Long, ofm 24
SỐNG TRONG SỰ CHĂM SÓC CỦA CHÚA- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 32
CHỌN THIÊN CHÚA HAY TIỀN CỦA – Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 43
TIỀN KHÔNG THỂ CỨU ĐỘ ĐƯỢC CON NGƯỜI– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 58
AI ĐANG THỐNG TRỊ TÂM HỒN TÔI – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 63
THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 67
ƯU TIÊN TÌM KIẾM NƯỚC TRỜI- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 70
HÃY ĐỂ CHÚA CHĂM SÓC- Trích Logos A.. 83
—————————————————————————————
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973
“Ta sẽ không quên ngươi đâu”.
Bài trích sách Tiên tri Isaia.
Sion nói: “Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi”. Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 61, 2-3. 6-7. 8-9ab.
Ðáp: Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui (c. 2a).
1) Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui; do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.
2) Duy nơi Thiên Chúa linh hồn tôi hãy nghỉ an, vì do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.
3) Vinh dự và an toàn của tôi ở nơi Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa, tôi có Ðá Tảng kiên cố và chỗ dung thân. Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc, hãy đổ dốc niềm tâm sự trước nhan Người.
BÀI ÐỌC II: 1 Cr 4, 1-5
“Chúa sẽ phơi bày những ý định của tâm hồn”.
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, như vậy người ta coi chúng tôi như những thừa tác viên của Ðức Kitô, và những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Do đó, người ta đòi hỏi nơi những người phân phát các mầu nhiệm là mỗi người phải trung tín. Phần tôi, tôi không lấy làm quan trọng khi bị anh em hay toà án nhân loại đoán xét; nhưng tôi cũng không đoán xét chính mình tôi. Vì chưng, mặc dầu lương tâm không trách cứ tôi điều gì, nhưng không phải vì thế mà tôi đã được công chính hoá. Ðấng đoán xét tôi chính là Chúa. Vì thế, anh em đừng đoán xét trước thời gian cho đến khi Chúa đến, Người sẽ đưa ra ánh sáng những điều giấu kín trong bóng tối và phơi bày những ý định của tâm hồn; và bấy giờ Thiên Chúa sẽ ban khen tương xứng cho mỗi người.
Ðó là lời Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23
All. All. – Chúa phán: “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy”. – All.
PHÚC ÂM: Mt 6, 24-34
“Các con chớ áy náy về ngày mai”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mátthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được. Vì thế Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin. Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy”.
Ðó là lời Chúa.
———————————————————————
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
CỨ ĐỂ NGÀY MAI LO…. – Chú giải của Noel Quesson
Ngày nay, một cách đọc Tin Mừng hời hợi thật ra sẽ có hại. Đức Giêsu có lên án tiền bạc không? Người có khuyên người ta vô lo và lười viếng không? Đức Giêsu có thể có lý khi khuyên một người cha trong gia đình đang thất nghiệp đừng lo lắng cho ngày mai không? Khi cho ví dụ “chim trời không gieo, không gặt”, Đức Giêsu có bảo các bà mẹ. Trong gia đình đừng chuẩn bị các bữa ăn, đừng mua lương thực không? Có thật là Người bảo những người nghèo đôi khi thiếu cá nhưng nhu cần thiết phải chờ một phép lạ của sự quan phòng để không chết đói. Từ đó, Đức Giêsu chẳng phải là một con người hiền lành mơ mộng mà ngôn ngữ mang chất thi ca là một thứ trò chơi không có thật, không thể nào phù hợp với thực tế khắc nghiệt của kinh tế và những vấn đề nghiêm túc của việc phân chia các tài nguyên hay sao?
Hẳn ở đây phải có một ngộ nhận. Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu những lời của Chúa.
“Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dễ chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được…”.
Thật là tai hại khi những dịch giả đã không dám giữ lại ở đây một chữ, quả thật là huyền bí mà Đức Giêsu chắc chắn đã sử dụng. “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Mam-mon…”. Từ ngữ này bằng ngôn ngữ A-ram đã được Matthêu giữ lại trong bản văn Hy-lạp bởi vì chắc đúng là do chính Đức Giêsu nói ra bằng tiếng mẹ đẻ của Người là tiếng Aram. Trong ngôn ngữ này; “Mam-mon” có nghĩa cụ thể là “tiền bạc”, “thu hoạch”, “lợi nhuận”, “sự giàu có”. Khi đặt “Thiên Chúa” đối lập với “Tiền Của”, Đức Giêsu dường nhu muốn nhân cách hóa tiền bạc… làm nó thành một thứ ngẫu tượng. Người ta có cảm tưởng rằng Đức Giêsu nghĩ đến “Tiền Của” như đó là đối thủ của Thiên Chúa, một cách diễn tả cụ thể về Xa-tan, “Ông Hoàng của thế gian này” bắt con người làm nô lệ và cố gắng đoạt chỗ của Thiên Chúa…Để hiểu rõ tư tưởng của Đức Giêsu, chúng ta cũng ghi nhận ở đây hai từ quan trọng. Người nói về “chủ”.. về “làm tôi”… Từ “chữ” dịch từ “kurios” thường có nghĩa là “Đức Chúa”. Từ “làm tôi” dịch từ “douleuô”‘ có nghĩa là “làm nô lệ”. Những nhận xét ấy làm chúng ta phải nghĩ rằng Đức Giêsu không chống lại tiền của một cách ngây thơ và không thực tế. Ở Nagiaret, Người đã có một nghề nghiệp: Người đã trải ” qua kinh nghiệm kiếm sống đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Và cũng như hai mươi gia đình tạo thành ngôi làng nhỏ miền quê ấy; “Người cũng phải sở hữu ít đồng ruộng và một vài gia súc. Đức Giêsu hoàn toàn biết rằng tiền bạc có ích trong các giao dịch thương mại. Người không có phản ứng sơ đẳng chống lại các ngân hàng,. hoặc các đồng tiền hoặc tiền thuế hoặc những người thu thuế! Điều này là một phần của đời sống Người và chúng ta các dụ ngôn..của Người: “Đưa đồng tiền nộp thuế cho tôi coi “. Người bảo họ: “Thế thì của Xêda, trả về Xêda” (Mt 22,19). Trong dụ ngôn những nén bạc và của cải chôn giấu Đức Giêsu còn khuyên những kẻ nghe Người nói “đem số tiền của họ gởi vào ngân hàng?. Đức Giêsu luôn tự đo đối với mọi ý thức (Matthêu 25,27).
Không, Đức Giêsu không lên án tiền của tự thân, trong việc sử dụng bình thường của tiền của. Trái lại, không có từ ngữ nào đủ mạnh để lên án “sự nô lệ cho tiền của”: Anh em không thể làm tôi Mam-mon! anh em không có quyền làm mình trở thành nô lệ của ông chủ đáng sợ đó. “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có!” (Luca 6,24). “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất: vì kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó” (Matthêu 6,19). “Hãy đi bán tài sản của mình” (Mt 19,21). Những lời ấy rất mạnh mẽ, những không lỗi thời và cổ lỗ: sự nô lệ cho tiền của là một bệnh “ung thư” thật sự của xã hội chúng ta. Nhắc lại như thế là việc tầm thường. Nền văn minh Phương Tây đang tự phá huỷ chính mình dưới nhịp độ dữ dội mà cuộc chạy đua đuổi theo cái “tiện nghi”, cái “xa hoa”, những đồ dùng lạ mắt bắt ép nền văn minh ấy. Chính con người trở thành nền văn minh của ‘đồ bỏ đi ấy của Xa-tan’: tiện nghi, xa hoa, những đồ dùng lạ mắt bắt ép nền văn minh ấy. Chính con người trở thành nạn nhân của “đồ bỏ đi ấy của Xa-tan” như cách gọi của tác giả người Ý, Papini. Biết bao nhiêu nhà doanh nghiệp có một cuốn lịch đen ghi các cuộc hẹn gặp nhưng không bao giờ còn sống chung với vợ và con cái của họ nữa? Càng không còn sống với Thiên Chúa! Còn nói gì về sự “phung phí” các nguồn tài nguyên của hành tinh này có nguy cơ làm ghẹt thở nhân loại của thế kỷ XXI? Còn nói gì về sự “cướp bóc” các nước thuộc thế giới thứ ba bởi các nước giàu có?
Không, tiền của không có mùi thơm. Đó là một quyền lực của cái ác đáng sợ khi nó “nô lệ hóa” Một người nào. Giá một chiếc xe tăng đủ để mua lương thực cho hàng trăm ngàn người đói khát!!! Và chúng ta không hề xấu hổ. Một máy bay siêu thanh khu trục và ném bom có giá bằng 40.000 nhà thuốc tây ở các làng mạc để cứu sống những em nhỏ!!! Và chúng ta không hay biết. Tiền của lẽ ra phải là một “đầy tớ” tuyệt vời, hiện đang là một “ông chủ” xấu.
“Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn, cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?”.
Công thức “đừng lo” sẽ trở lại bốn lần trong một vài hàng. Quả thật, sự “lo lắng” là một trong những hình thức nô lệ mà của cải kéo theo nó. Theo thống kê, thế giới Phương Tây hiện đại rất dễ bị tổn thương bởi chúng nhồi máu cơ tim và trầm uất thần kinh hơn phần còn lại của thế giới. Dường như Đức Giêsu muốn nói: Hãy nắm lấy đời sống ở khía cạnh tốt đẹp. Anh em hãy sống, nhưng hãy sống đi! Anh em dùng thời gian của mình để chạy, để lúc nào cũng có được nhiều tiền hơn: thỉnh thoảng anh em hãy dùng thời gian để sống! Và Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta trật tự rõ ràng của các giá trị. Lương thực, quần áo dù rất cần thiết… cũng chỉ để phục vụ sự sống! Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II, trong một thông điệp của ngài đã nhắc lại những nguyên tắc ấy về sự khôn ngoan của Tin Mừng: “Ý nghĩa nền tảng sự thống trì của con người trên thế giới hữu hình…. chủ yếu là sự ưu tiên
Của luân lý (đạo đức) trên kỹ thuật, vị trí hàng đầu của con người trên đồ vật, sự ưu việt của tinh thần trên vật chất… Điều quan trọng là sự phát triển của con người chứ không chỉ là sự tăng bội của các đồ vật… Thà có ít hơn để hiện hữu nhiều hơn”.
“Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vùa Sa-lô-môn, đủ vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế thì huống hồ là anh em, Ôi những kẻ kém tin?”.
Những hình ảnh này không thể nào quên được. Nhưng chúng quá ấn tượng nên người ta có thể hiểu sai. Các bạn hãy đọc lại những lời ấy. Đức Giêsu không bao giờ nói rằng không nên làm việc. Đức Giêsu không bao giờ khuyến khích người nghèo đi xin xỏ hoặc nằm chờ sung rụng. Người không đề cao sự vô lo hoặc thói lười biếng. Thật là quá đáng. Có một thu “tôi mặc kệ”. nào đó làm cho chính những người khác phải mang lấy những lo lắng vì chúng ta vô lo, chúng ta chất lên đầu họ. Trái lại, có những lo lắng, do lòng thương yêu người khác, những người mà chúng ta có trách nhiệm: Tin Mừng bảo chúng ta nhận lấy những lo láng này trên vai chúng ta như người ta vác một cây thập giá. Vả lại, nếu Đức Giêsu nói: “Anh em chớ làm gì cả, cư vô tích sự đi…” thì tại sao trong toàn bộ Kinh Thánh ngay từ đầu, Chúa đã nói điều ngược lại. Chương đầu tiên của sách Sáng Thế cho chúng ta lệnh truyền “hãy thống trị đất và bắt nó phục tùng”. Thật ra Đức Giêsu khẳng định: “Vì thợ đáng được nuôi ăn” (Matthêu 10,10). Điều này được hiểu ngầm rằng người nào không làm việc, người đó không có quyền ăn như lời Thánh Phaolô đã kết luận (2 Thê-xa-lô-ni-ca 3,10). Và cũng phải đọc lại lời lên án nghiêm khắc của..người đã không làm sinh lợi nén bạc mà người đó đã nhận (Matthêu. 25,14-30). “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài”.
Vậy Đức Giêsu muốn nói điều gì? Khi Người nói “lo lắng mà làm gì?”.
Thế thì người nói một điều thật sự rất tốt cho mỗi người-chúng ta: Người bảo chúng ta phải thư giãn một chút phải chống lại sự căng thẳng thần kinh thái quá…
Người bảo chúng ta phải làm việc như “chim trời và hoa cỏ ngoài đồng”: Các bạn hãy nhìn kỹ chúng… hãy nhìn hoạt động và các sự khéo léo mà chúng sử dụng để sống, để nuôi thân, để có nới trú ẩn? Và rồi Đức Giêsu nói với chúng ta nhiều nhất về Chúa Cha: anh em còn đáng giá hơn tất cả những tạo vật khác, vậy mà Người đã chăm lo cho chúng với sự chính xác.
“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: Ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó dân ngoài vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.
Tất cả lập luận của Đức Giêsu nhằm mời gọi chúng ta chớ quá lo lắng dựa trên một sự tin chắc của đức tin: Cha anh em “biết”? Trước đó, Người đã nói về sự cầu nguyện: “anh em đừng lải nhải như dân ngoại, vì Cha anh em đã “biết” rõ anh em cần gì (Matthêu 6,8). Hai quan niệm về Thiên Chúa đối lập nhau: Thiên Chúa ma thuật của những dân ngoại… và Thiên Chúa là Cha yêu thương con cái Người. Con người theo Đức Giêsu không hề là một người “vô lo”… mà chính là con người đã thay đổi mối lo! Người ấy đã trở nên say mê Nước Thiên Chúa: “Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa!”.
Làm tôi tớ cho Mam-mon trên thực tế là chỉ lo cho chính mình. Còn phục vụ cho Thiên Chúa là bắt đầu phục vụ tình yêu, là được tự do…
“Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ đề ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ về ngày ấy”.
Một câu châm ngôn bình dân. Đức Giêsu biết mình nói về điều gì. Cả cuộc đời, Người đã sống như thế. Đúng vậy Tại s ao lại thêm vào những lo lắng của hôm nay những lo lắng của ngày mai? Như thế, người ta sống mỗi ngày với nỗi sợ hãi những bất hạnh là có lẽ sẽ không đến. Chỉ cần sống những lo lắng mỗi ngày… ngày mai rồi sẽ biết! Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa.
————————————————————–
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
TRƯỚC HẾT HÃY TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA- Lm. Inhaxiô Hồ Thông(*)
Chúa Nhật VIII Thường Niên này nói về ơn quan phòng của Thiên Chúa, gợi lên tấm lòng trìu mến yêu thương của Thiên Chúa.
Is 49,14-15
Qua vị ngôn sứ của Ngài, Thiên Chúa khẳng định cho dân Ngài rằng Ngài ân cần chăm sóc họ như tấm lòng của người mẹ đối với con thơ bé bỏng của bà.
Mt 6,24-34
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu miêu tả Thiên Chúa ân cần chăm sóc con người như một người cha hằng quan tâm đến những nhu cầu của con cái mình, và còn quan tâm đặc biệt hơn đối với những ai đặt quyền ưu tiên cho việc tìm kiếm Nước Trời và cho những đòi hỏi của sự thánh thiện như điều kiện của Nước Trời.
1Cr 4, 1-5
Bài đọc II không cho thấy những mối liên hệ với hai bài đọc kia: nó là đoạn trích sau cùng từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô như một lời kết luận. Thánh Phao-lô công bố rằng thánh nhân thực hiện sứ mạng của mình như một người quản lý trung thành của những mầu nhiệm Thiên Chúa. Các tín hữu Cô-rin-tô không có quyền tranh cãi về phẩm chất sứ điệp của thánh nhân. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền phán xét.
BÀI ĐỌC I (Is 49,14-15)
Tin Mừng Chúa Nhật này trình bày Thiên Chúa như một người cha, quan tâm đến những nhu cầu của con cái mình. Bản văn Cựu Ước trình bày cho chúng ta Thiên Chúa như một người mẹ, đầy trìu mến yêu thương đứa con thơ của mình.
Tác giả ca tụng tình mẫu tử của Thiên Chúa đối với dân Ngài là ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Ông thi hành sứ vụ của mình bên cạnh những kẻ lưu đày ở Ba-by-lon. Tác phẩm của ông xứng đáng với nhan đề “Sách An Ủi” (40-55): ông hứa với những người bất hạnh này cuộc giải phóng gần kề và cuộc hồi hương sắp đến rồi. Trong những chương cuối cùng, từ chương 48 đến chương 55, vị ngôn sứ nhấn mạnh những viễn cảnh về một Giê-ru-sa-lem được hồi sinh từ hoang tàn đổ nát, sẽ gặp lại cảnh huy hoàng thịnh vượng như xưa, vì Đức Chúa không quên Thành Thánh Xi-on, đại diện toàn thể đất nước.
1- Lời phàn nàn của Giê-ru-sa-lem:
“Xi-on từng nói: ‘Đức Chúa đã bỏ rơi tôi, Chúa Thượng đã quên tôi rồi'”.
Lời phàn nàn của Giê-ru-sa-lem này mở ra phần thứ hai tác phẩm của vị ngôn sứ. Phần thứ nhất được thống trị bởi lời phàn nàn của những người lưu đày, họ nghĩ rằng Thiên Chúa không còn bận lòng đến số phận của họ: “Hỡi Gia-cóp, sao ngươi nói, hỡi Ít-ra-en, sao ngươi bảo: ‘Đường tôi đi, Đức Chúa không nhìn thấy, quyền lợi của tôi, Thiên Chúa chẳng đoái hoài?'” (40: 27). Đức Chúa đã nhắc nhở cho họ rằng Ngài là Đấng sáng tạo toàn cõi đất và là Đấng làm chủ mọi biến cố: Ngài có thể lật đổ kẻ áp bức, cho sa mạc nở hoa, vân vân.
Thành Thánh hoang tàn đổ nát và thưa thớt dân cư: biểu thị dân Thiên Chúa bất hạnh, than thân trách phận như một người vợ bị Thiên Chúa dứt tình đoạn nghĩa (hình ảnh đến từ các ngôn sứ, đặc biệt ngôn sứ Hô-sê). Thiên Chúa trả lời khi công bố rằng Ngài yêu thương dân Ngài bằng trọn cả một tấm lòng, một tình yêu sắc son, không tì vết, như người mẹ hiền tận tình yêu thương đứa con thơ bé bỏng của mình.
2- Tình mẫu tử của Thiên Chúa:
Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã thường diễn tả tấm lòng của Thiên Chúa đối với dân Ngài bằng động từ “thương” mà ngữ căn của nó có cùng một ngữ căn của từ “réhem” chỉ “dạ mẹ” (Isaiah 49:10,15; 55:7). Ngôn sứ I-sai-a đệ tam lấy lại động từ này từ thầy mình khi ông viết: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dẫu nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ”. Chắc chắn đây là cách diễn tả tình yêu Thiên Chúa gây xúc động nhất mà chúng ta gặp thấy trong Kinh Thánh.
Thật ra, hai thế kỷ trước đó, trong vương quốc phương Bắc, ngôn sứ Hô-sê đã ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Ngài, được sánh ví với tình yêu rất mực thủy chung của người chồng đối với vợ của mình hay của hôn phu đối với vị hôn thê của mình. Tuy nhiên, ông không phải là không biết những khía cạnh khác của tình yêu Thiên Chúa đối với dân Ngài: “Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó….Ta đã tập đi cho Ép-ra-im, đã đỡ cánh tay nó…Ta xử với chúng như nguwofi nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (Hosea 11:1-4). Sau này, vài thập niên trước ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã đặt trên môi miệng Đức Chúa những lời đầy cảm xúc này: “Ép-ra-im có phải là đứa con Ta yêu dấu, một đứa con Ta rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương nó, thương nó rất nhiều” (Gr 31: 20).
Chúng ta lưu ý rằng để diễn tả tấm lòng của Đức Giêsu, các thánh ký sẽ lấy lại cùng hình ảnh khi sử dụng một động từ Hy-lạp: “chạnh lòng thương” có cùng ngữ căn: “lòng dạ”, có nghĩa “mối cảm xúc dâng lên tận tâm can”. Đức Giêsu chạnh lòng thương trước nỗi đau của người đàn bà góa khóc thương đứa con trai một của mình, trước nỗi khốn khổ của đám đông dân chúng hay nỗi khốn cùng của những người bệnh hoạn tật nguyền.
Và nếu Đức Giêsu về phương diện thể lý mặc lấy nam tính, phải chăng Ngài đã không đảm nhận theo một cách nào đó nét đặc trưng của nữ tính khi sinh hạ một nhân loại mới trong đau đớn sao?: “Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian” (Ga 16: 21).
BÀI ĐỌC II (1Cr 4, 1-5)
Với bản văn này, chúng ta hoàn tất phần thứ nhất thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô. Thánh nhân cố hàn gắn lại những bất đồng chia rẽ giữa những tín hữu Cô-rin-tô; thánh nhân lại càng nhiệt tâm hơn vì Giáo Đoàn này là công trình của ngài.
1- Người quản lý trung thành của các mầu nhiệm Thiên Chúa:
Vả lại, những chia rẽ này đụng chạm trực tiếp đến thánh nhân, bởi vì có “một phe nhóm thuộc về ông Phao-lô”. Tuy nhiên, thánh Phao-lô rất nhạy bén. Thánh nhân đã bị thương tổn, không ở nơi tình cảm riêng tư của ngài, nhưng ở nơi lý tưởng tông đồ của ngài. Cảm thấy mình bị bình phẩm hay bị nghi ngờ theo những tiêu chuẩn phàm nhân (có thể về thể chất của ngài, lập luận của ngài, ngôn từ của ngài, dáng điệu cử chỉ của ngài, vân vân), thế nên chỉ sứ điệp phải truyền đạt mới là điều quan trọng. Đây thật sự là một sự thử thách đối với vị sứ đồ hiến dâng bản thân mình cho sứ mạng của mình. Từ đó, thánh nhân thốt lên: “Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Ki-tô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa”.
2.- Phải trả lẽ với lương tâm của mình:
Thánh nhân không là một siêu sao, nhưng chỉ là người quản lý trung thành của các mầu nhiệm Thiên Chúa. Đó là tiêu chuẩn duy nhất theo đó vị sứ đồ chịu quyền xét xử.
Thánh nhân phải trả lẽ với ai? Không với những Ki-tô hữu Cô-rin-tô. Những người này không có thẩm quyền phán xét lòng trung thành của thánh nhân. Cũng không tòa đời (chắc chắn thánh nhân nghĩ đến việc ngài bị điệu ra trước quan tổng trấn Rô-ma là Gallion ở Cô-rin-tô).
Phải chăng thánh nhân phải trả lẽ cho lương tâm của mình? Vâng, tất nhiên. Thánh Phao-lô diễn đạt ngay liền một cách tinh tế: “tôi chẳng thấy lương tâm áy náy điều gì”. Người duy nhất có thẩm quyền xét xử thánh nhân là chính Thiên Chúa, chứ không một ai khác.
Chúng ta thấy thánh Phao-lô nâng cao dần dần cuộc tranh luận như thế nào. Thánh nhân đưa ra một định nghĩa rất đẹp về sứ vụ tông đồ và dẫn đưa lập luận của mình cho đến khi gợi lên cuộc phán xét chung cuộc, ở đó những ý định ẩn kín trong thâm tâm con người được phơi bày ra và ở đó những khen thưởng xứng về những công việc của mình.
TIN MỪNG (Mt 6,24-34)
Bản văn này còn thuộc “Bài Giảng Trên Núi”, ở đó thánh Mát-thêu đã quy tụ những lời dạy khác nhau của Chúa Ki-tô. Cung giọng của đoạn văn này gần với văn chương minh triết của Cựu Ước ở đó những châm ngôn, thành ngữ, dụ ngôn quen thuộc, hình ảnh thi vị, được tô điểm với những lời khuyên xử thế thực tiển. Nhưng bên kia sự giống nhau này xuất hiện một ghi nhận mới, cao vời: bài diễn từ mặc khải về Chúa Cha và sự ân cần chăm lo không ngừng của Ngài. Đức Giêsu vừa mới dạy cho các môn đệ Kinh Lạy Cha; Ngài vừa mới đòi hỏi các ông phải có đức ái không giới hạn theo hình ảnh đức ái của Cha trên trời. Bây giờ Ngài tiếp tục khi gợi lên đại gia đình tình yêu: tình phụ tử của Đấng đã sáng tạo hoa đồng cỏ nội, chim trời và con người. Đây là một trong những trang Tin Mừng rất đẹp về tấm lòng nhân ái của Thiên Chúa.
1.- Thiên Chúa và tiền của:
Trước tiên Chúa Giêsu nhắc lại sự đòi hỏi mà Ngài đã phát biểu từ mối phúc đầu tiên: tinh thần siêu thoát khỏi những của cải trần thế. Ngài dựa trên câu châm ngôn thịnh hành: “Không ai có thể làm tôi hai chủ” mà Ngài áp dụng đặc biệt bằng cách đối lập Thiên Chúa với tiền của. Bản văn Hy-lạp đã gìn giữ từ A-ram “mammon”, nguyên nghĩa là của cải vật chất hay tài sản. Chắc chắn Chúa Giêsu đã muốn nhân cách hóa của cải vật chất để chỉ nó như một ông chủ.
Việc tôn thờ tiền của không xứng hợp với sự phụng sự Thiên Chúa. Những người quá lo lắng trích trử của cải tiền của tức tự mình làm nô lệ cho của cải và do đó không thể được tự do để thờ phượng Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã nói trước đó: “Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó”. Hơn nữa, Thiên Chúa muốn một tình yêu trọn vẹn, không phân chia đối với Ngài. Việc từ chối của cải là điều kiện tiên quyết cho trọn một đời dâng hiến mà Ngài đòi hỏi.
2-. Đừng lo lắng thái quá:
Chúa Giêsu không đòi hỏi phải từ bỏ những của cải thiết yếu, nhưng đừng quá cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn (6: 25-30), cho thân thể: lấy gì mà mặc (6: 31-33) và về ngày mai (6: 34). Những môn đệ Ngài sẽ có kinh nghiệm về lời khuyên này. Ở Tiệc Ly, Chúa Giêsu sẽ nhắc lại cho họ điều đó: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Các ông đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).
Cũng như cô Mác-ta tất bật lo toan nhiều việc để đón tiếp Ngài cho thật chu đáo trong khi cô em Ma-ri-a ngồi dưới chân Chúa lắng nghe Lời Ngài. Chúa Giêsu đánh giá rằng cô Ma-ri-a chọn phần tốt nhất. Chúa Giêsu thiết lập thứ bậc về hai cách thế bận lòng. Vào thời thiên sai, nỗi bận lòng ưu tiên phải là của cải tinh thần.
3.- Tin tưởng vào Chúa quan phòng:
Việc Đấng Tạo Hóa ân cần chăm lo cho các loài thọ tạo của mình là một chủ đề Kinh Thánh, được khẳng định trong nhiều bản văn. Các Thánh Vịnh ca ngợi: “Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa đợi chờ Ngài đến bữa ăn” (Tv 104, 27, 145, 15; 136, 25; 147, 9).
Giữa những thọ tạo khiêm hạ nhất, Chúa Giêsu đưa ra hai ví dụ: chim trời và hoa đồng cỏ nội để mời gọi con người phải sống trong sự tin tưởng và phó thác trọn vẹn vào Người. Người đã ban cho chim trời có thức ăn hằng ngày, mặc dù chúng không nhọc công gieo vãi, không gặt hái và không trích trử lúa thóc vào kho lẫm. Người cũng sẵn sàng trang điểm hoa đồng cỏ nội nay còn mai mất một tấm áo sắc màu tuyệt vời hơn cả một cẩm bào của vua Sa-lô-mon.
“Hoa huệ”, từ ngữ chỉ không chỉ hoa huệ nhưng nhiều loại hoa đồng cỏ nội. Vào mùa xuân, miền Ga-li-lê nở rộ những hoa đồng cỏ nội này. “Nay còn, mai đã quăng vào lò”. Chúa Giêsu biết điểm xuyết những dụ ngôn của Ngài bằng chi tiết cụ thể: hoa đồng cỏ nội, bị héo khô, được các nông dân Ga-li-lê thu lượm lại, không chỉ dùng làm cỏ khô để nuôi gia súc, nhưng còn làm chất đốt để nướng bánh.
Từ những tạo vật hèn mọn như chim trời hay hoa đồng cỏ nội, Chúa Giêsu đề cập đến phẩm chất cao cả của con người. Con người là một tạo vật cao vời khôn sánh đối với chim trời hay hoa đồng cỏ nội. Ý thức về sự cao cả của mình phải cho giúp người Ki-tô hữu có một thái độ hoàn toàn khác với thái độ lương dân. Người môn đệ của Chúa Ki-tô phải tín thác trọn vẹn vào ơn quan phòng của Thiên Chúa, Cha chúng ta ở trên trời.
4.- Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa:
“Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người”. Từ “công chính” phải được hiểu theo nghĩa kinh thánh: “sự thánh thiện”. Tìm kiếm sự công chính, tức là nổ lực nên thánh và thực thi thánh ý Thiên Chúa.
“Còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”, tức là những điều Ngài vừa mới đề cập đến: thức ăn, áo mặc, đây là những căn nguyên lo lắng đối với dân ngoại, nhưng không đối với con cái Thiên Chúa. Đức Giêsu không hứa với “những người công chính” là sẽ ban cho họ dư đầy của cải trần thế, nhưng đơn giản là đảm bảo cho họ nhu cầu cần thiết hằng ngày, như trong lời kinh mà Ngài vừa mới dạy: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. “Anh em đừng lo lắng về ngày mai”. Đừng bận lòng này mai là một thái độ tin tưởng và một sự biểu lộ tinh thần nghèo khó: “Chúa là hạnh phúc và tình yêu đời con, vì ngoài Chúa ra con tìm đâu thấy tình yêu và hạnh phúc đời đời”.
(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt
——————————————————————–
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
PHÓ THÁC CHO CHÚA QUAN PHÒNG – Lm Fx. Vũ Phan Long, ofm
- Ngữ cảnh
Chúng ta có thể theo dàn bài của cha Marcel Dumais, mà cho rằng: phân đoạn Mt 5,17–7,12 của Bài Giảng trên núi có nhan đề “Sự công chính của Nước Trời hay là Sống như con cái của Chúa Cha” với bố cục như sau:
: hoàn tất Luật và các ngôn sứ (5,17-19).
1.- Đức công chính dồi dào (5,20-48) [ x. “dồi dào” từ 5,20-47]:
1) Lời công bố tổng quát về đức công chính (5,20),
2) Sáu áp dụng (5,21-48).
2.- Đức công chính được thực hiện nơi bí ẩn trước nhan Chúa Cha (6,1-18):
1) Lời công bố tổng quát về đức công chính (6,1),
2) Ba áp dụng (6,2-18).
3.- Đức công chính phải ra sức tìm cho có và không lo lắng (6,19-34):
1) Tích trữ của cải bằng cách phụng sự Thiên Chúa chứ không phụng sự Mammôn (6,19-24),
2) Tìm đức công chính của Nước Trời không lo lắng (6,25-34).
4.- Những câu được quy tụ lại (7,1-11):
1) Đừng xét đoán anh em (7,1-5),
2) Đừng quăng của thánh cho chó (7,6),
3) Hãy xin, thì Chúa Cha sẽ ban cho (7,7-11).
Kết : Đây là Luật và các ngôn sứ (7,12).
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Câu chuyển tiếp: Thiên Chúa và tiền bạc (6,24);
2) Tin tưởng vào Chúa quan phòng (6,25-34): Ba phần với câu “Đừng lo lắng”
- a) Đừng lo lắng về mạng sống (cc. 25-30),
- b) Đừng lo lắng về ăn mặc (cc. 31-33),
- c) Đừng lo lắng về ngày mai (c. 34).
3.- Vài điểm chú giải
– Ghét (24): Ý nghĩa Sê-mít của động từ miseô này là “không yêu thương; yêu thương ít” (so sánh với Lc 14,26 và Mt 10,37); và ý nghĩa của động từ “khinh dể” là “trở nên lãnh đạm với”.
– Mamônas (24): Từ ngữ A-ram (mâmônâ’) này không có trong Cựu Ước, mà chỉ xuất hiện ở đây và ở Lc 16,9.11. Nền văn chương Do-thái giáo thường dùng từ này để nhân cách hóa tiền bạc, và của cải trần thế.
– Mạng sống (25): Psychê ở đây không có nghĩa là “linh hồn”, mà hiểu theo nghĩa Sê-mít là “mạng sống”, bởi vì nó ăn và uống được.
– Lo lắng (25): “Lo lắng”, merimnaô, là xu hướng tìm cách bảo đảm cho cuộc sống của mình ở trần gian này.
– bông huệ (28): Chúng ta không biết đây là loại “huệ” nào; nhưng krinon cũng có thể có nghĩa chung là “bông hoa”.
– những kẻ kém tin (30): Theo truyền thống kinh sư cổ xưa, “những kẻ kém tin” là những người Israel đã muốn lượm man-na và chim cút vào ngày sa-bát trong hoang địa (x. Xh 16,4.19.27; Ds 11,32).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Câu chuyển tiếp: Thiên Chúa và tiền bạc (24)
Câu chuyển tiếp này đi từ một kinh nghiệm: “Không ai có thể làm tôi hai chủ”, để dạy rằng không thể phục vụ Thiên Chúa với một con tim chia sẻ, hoặc nói tích cực, cần phải lấy một quyết định căn bản là yêu mến Thiên Chúa trên mọi sự và chỉ chấp nhận mọi sự khi chúng hòa hợp với tình yêu căn bản này. Vị “chủ” kình địch có thể là bất cứ vật gì hoặc bất cứ người nào, nhưng đến cuối câu, bản văn đưa ra một ví dụ, “mâmônâ’”, một từ Sê-mít để chỉ tiền bạc của cải.
* Tin tưởng vào Chúa quan phòng (25-34): Ba phần với câu “Đừng lo lắng”
Bài này là một bài giáo lý hoặc khuyến thiện Kitô giáo. Cũng rất có thể vào lúc đầu, bài này là một lời khuyên ban cho các nhà thừa sai, song song với Mt 10,8-10.
Lệnh truyền tiêu cực “đừng lo lắng” (mê merimnate) là chìa khóa giúp đi sâu vào bản văn này. Nó xuất hiện ở đầu, ở giữa và ở cuối bản văn (x. cc. 25.31.34). Cũng động từ ấy được lặp đi lặp lại ba lần trong bản văn (cc. 27.28.34). Đây là một nỗi ưu tư khắc khoải, phát xuất từ tình trạng thiếu đức tin (c. 30), đưa tới chỗ đặt những câu hỏi đầy lo âu (c. 31). Ta hiểu lệnh truyền này hơn khi đặt nó đối lập với lệnh truyền tích cực thứ hai: “Trước hết hãy tìm kiếm…” (c. 33). Nỗi lo lắng khắc khoải sẽ biến mất khi ta thực sự tìm kiếm (zêteô) Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.
Bản văn này có vẻ như nối tiếp Bài Tám Mối Phúc: những người nghèo, những người đói, sầu khổ, bị bách hại, được tha thiết mời gọi đừng để mất sự thanh thản và tin tưởng cho dù phải thiếu những của cải căn bản. Đức Giêsu không gợi ý cho người ta những cách thức để thoát khỏi sự cùng quẫn, nhưng để chận đứng, để làm im tiếng sự khắc khoải. Câu 25 giới thiệu chủ đề của bản văn: đừng lo lắng về đời sống, về những nhu cầu của thân xác, tập trung vào cái ăn cái mặc. Động từ merimnaô, “lo lắng” được nói đến 6 lần trong bản văn (cc. 25.27.28.31.34), cho thấy chủ ý của bài giảng. Họ hãy nhớ đến Thiên Chúa tốt lành và quảng đại. Luận chứng khiến họ phải tin tưởng vào Chúa Quan phòng dựa trên những ân hệ Thiên Chúa đã ban rộng rãi và còn ban rộng rãi cho loài người. Ai đã ban chuyện lớn, chuyện cao hơn (đời sống và thân xác) thì cũng có thể ban chuyện nhỏ hơn (thực phẩm và y phục). Ngay về phương diện khôn ngoan tự nhiên, có ích gì nếu cứ lo lắng triền miên?
Đức Giêsu vận dụng hai ví dụ trong thiên nhiên: Thiên Chúa săn sóc (a) loài chim (c. 26), (b) các bông huệ và cỏ (cc. 28.30), là những thọ tạo không đáng kể. Đây phải là chuyện văn chương, mà là chuyện mỗi ngày và mọi giờ. Chắc chắn tác giả không muốn bảo họ sống vô vi và vô trách nhiệm, ăn bám; ngài chỉ muốn bảo họ rằng tất cả những gì họ được kêu gọi và bị buộc phải thực hiện để giải quyết các khát vọng căn bản thì phải làm với sự thanh thản và tin tưởng. Đó là lý do khiến tác giả đã để xen vào giữa hai ví dụ một câu mang tính minh triết và bi quan: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (c. 27). Không một người nào có thể thay đổi mức độ Thiên Chúa đã đặt định cho mình! Sau đó, cc. 31-32 tóm kết lời khuyên bằng cách nhắc lại lời đưa vào Kinh Lạy Cha (x. 6,7t). Những câu sau phải được hiểu dưới ánh sáng của niềm tin của cộng đoàn cầu nguyện; Cha trên trời biết rõ họ cần gì ngay trước khi họ xin.
Câu 33 minh họa ý nghĩa của khẳng định trước. Vấn đề không phải là xoá đi một điểm trong chương trình (dấn thân trần thế) để đề cao một điểm khác (Nước Thiên Chúa), nhưng là thiết lập giữa chúng một sự ưu tiên đúng đắn. Câu “Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” có nghĩa là: sự công chính là một lối sống phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, nghĩa là phù hợp với các đòi hỏi và luật lệ của Nước ấy. Tác giả muốn làm sáng tỏ điều này là việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa không phải là một sự chờ đợi tiêu cực, không chỉ là một thái độ tôn giáo nội tâm, nhưng là một lối thực hành đức công chính thấy được, như Bài Giảng trên núi trình bày (x. lời lưu ý 5,20).
Câu cuối cùng (c. 34) nhắc lại tầm mức của bản văn. Thật không khôn ngoan chút nào nếu muốn gánh vác gánh nặng của ngày mai. Ưu tư khắc khoải ngày hôm nay để được sống yên hàn ngày mai, trong khi ngày mai tự nó là không chắc chắn, không thể tiên liệu và không nắm chắc được, thì không phải là cách xử sự của những người thông minh.
+ Kết luận
Đoạn này không phải là một lời mời gọi đừng lo xa, và càng không phải là một lời khuyến khích đừng làm việc. Đây là một lời kêu gọi tin tưởng vào Cha trên trời: Ngài không thể bỏ rơi con người khi mà họ có giá trị hơn loài chim. Câu 32 nêu “dân ngoại” ra như một điển hình tiêu cực (anti-modèle): họ khắc khoải lo lắng tìm kiếm tất cả những thứ này. Ta nhớ rằng dân ngoại không ngỏ lời với Thiên Chúa với thái độ tin tưởng, bởi vì họ không xem nhưng là một Người Cha biết các nhu cầu của họ (x. 6,7-8 // 6,32). Còn người môn đệ “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài”. Đây là một mối bận tâm, nhưng không khắc khoải. Tiếng “trước hết” không loại trừ, nhưng đúng hơn bao hàm một tiếng “kế đó”, nghĩa là một mối quan tâm hợp lý (không khắc khoải) đến những nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
5.- Gợi ý suy niệm
- Tác giả Mtcó trước mắt tình cảnh tuyệt vọng của những người đói khát và nỗi lo lắng của đám đông những người nghèo túng. Ngài nhắc cho họ nhớ đến lòng nhân lành, lòng quảng đại của Đấng Tạo hóa. Tuy nhiên, tác giả không cổ võ sự biếng nhác, ăn bám, ươn lười, nhưng là sự năng nổ, khi nhớ rằng Thiên Chúa đã ký thác vũ trụ cho con người làm chủ (x. St1,27-28).
- Nhiệm vụ trần thế phát xuất từ Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì không miễn chuẩn cho con người khỏi phải tìm kiếm, khỏi phải mệt nhọc, băn khoăn nhằm giải phóng đất đai khỏi sỏi đá gai góc và làm cho nó nên phì nhiêu mà sinh hoa kết quả (St2–3). Tìm ra những cách thức tốt mà làm việc có thể là dấu chỉ về tình yêu đối với Thiên Chúa và người anh em rõ ràng hơn là sự “tách biệt khỏi các sự vật”, bởi vì người ta đang đưa đến chỗ hoàn tất công trình mà Đấng Tạo hóa đã ký thác cho loài người.
- Khi bảo chúng ta chọn Thiên Chúa làm chủ nhân duy nhất, Đức Giêsu không hề có ý nói là Thiên Chúa cần chúng ta, hoặc Thiên Chúa muốn dùng chúng ta làm gì cho Ngài. Lý do duy nhất, đó là chúng ta không thể tìm được hạnh phúc ở bên ngoài Thiên Chúa. Ngài là của cải vô biên, còn chúng ta là sự nghèo nàn vô biên. Do đó, đòi hỏi này cuối cùng lại là một cách Thiên Chúa tỏ bày tình yêu đối với chúng ta. Thiên Chúa đoái thương nghiêng mình xuống trên chúng ta là thọ tạo của Ngai, và dùng tiếng nói của Đức Giêsu mà nhắc lại cho chúng ta nhớ định mệnh đích thực của chúng ta.
- Hội Thánh hôm nay phải đặt mình trước đòi hỏi sống niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, rồi tự hỏi: sự nghèo khó, việc sống ơn gọi, hoặc sự từ bỏ việc làm có thể có ý nghĩa gì trong việc phụng sự Nước Thiên Chúa. Bản văn không cung cấp một giải pháp, nhưng cho những hướng phải theo và mở chúng ta ra với những chọn lựa mà chính chúng ta phải cân nhắc để đi đến quyết định.
———————————————————–
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
SỐNG TRONG SỰ CHĂM SÓC CỦA CHÚA- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Trong Thánh lễ hôm nay, Lời Chúa sẽ cho chúng ta biết rằng Ngài rất yêu thương chúng ta, Ngài biết rõ chúng ta cần gì ngay trước khi chúng ta mở miệng xin Ngài, Ngài hằng chăm sóc chúng ta từng phút từng giây, và ngay cả khi chúng ta quên Ngài thì Ngài vẫn không quên chúng ta.
Vậy chúng ta hãy dâng Thánh lễ trong tâm tình tạ ơn, và hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta luôn sống phó thác trong sự chăm sóc của Ngài.
GỢI Ý SÁM HỐI
– Chúng ta quá lo lắng về những nhu cầu của cuộc sống vật chất đến nỗi quên phó thác vào Chúa.
– Chúng ta bỏ nhiều thời giờ và công sức để tìm kiếm của cải vật chất, mà không ưu tiên tìm biết để thi hành Thánh ý Chúa.
– Chúng ta hay xét đoán và lên án người khác.
Vì phải sống kiếp lưu đày bên Babylon, chịu biết bao khổ cực, cay đắng, dân Israel nản lòng, đức tin yếu đi. Họ than “Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi”.
Đoạn sách này là phần thứ hai của sách mang tên ngôn sứ Isaia, còn được gọi là “Sách an ủi”. Tác giả, một đồ đệ của Isaia, khẳng định với dân : Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên họ, bởi vì họ là con của Ngài. “Nào người mẹ có thể quên con mình sao ? Cho dù có người mẹ nào quên con thì Ta, Ta sẽ không quên con đâu”.
Tv này nối tiếp ý tưởng của Đệ nhị Isaia : Bởi vì Chúa không bao giờ quên chúng ta là con cái của Ngài, cho nên chúng ta hãy vững tin rằng lúc nào cũng có thể tìm được nơi Ngài sự nghỉ ngơi, ơn cứu độ và sự che chở : “Duy nơi Thiên Chúa mà thôi, linh hồn tôi mới nghỉ ngơi yên hàn”.
Khởi đầu đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu bảo chúng ta hãy chọn lựa một là phụng sự Thiên Chúa, hai là phụng sự tiền của, bởi vì “không ai có thể làm tôi hai chủ được”.
Phụng sự Thiên Chúa là ưu tiên tìm Nước Thiên Chúa – nghĩa là cố gắng sống theo Hiến chương Nước Trời – và tìm sự công chính của Ngài – nghĩa là tìm biết và thi hành thánh ý Chúa.
Ngài còn bảo đảm : tất cả mọi như cầu khác về cuộc sống vật chất, như của ăn, áo mặc, sức khoẻ v.v. Ngài sẽ lo hết cho chúng ta.
Tín hữu Côrintô có rất nhiều tính xấu. Chúng ta đã thấy một số tính xấu trong những đoạn thư được trích đọc trong các Chúa nhựt trước, như óc bè phái, tính hay tranh cãi, tính tự kiêu v.v. Hôm nay ta thấy thêm một tính xấu khác, đó là hay xét đoán.
Thánh Phaolô lưu ý họ một chân lý nền tảng : Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền xét đoán, bởi vì duy có Ngài là biết rõ mọi sự trong đầu và trong tim mỗi người. Còn chúng ta là người phàm không biết rõ thì đừng bao giờ xét đoán ai.
GỢI Ý GIẢNG
“Có người mẹ nào quên con mình được không ?”
Tại Dublin có một người mẹ hết sức đau khổ vì bà có một đứa con trai hư đốn. Nó không chịu học hành mà cũng chẳng chịu làm ăn. Suốt ngày chỉ biết ăn uống nhậu nhẹt và kết bạn với những tên lưu manh. Tiền bạc và đồ đạc gì có giá trị của bà hể hở ra thì bị nó ăn cắp. Nhiều lần Bà hết khuyên dạy đến năn nỉ nó sửa mình, nhưng chẳng bao giờ nó nghe theo. Cuối cùng nó bị bắt giam trong tù. Nhiều người nghĩ rằng bây giờ bà có thể nhẹ gánh khỏi phải lo cho nó nữa. Nhưng không, tuần nào bà cũng đều đặn vào tù thăm nó với một túi xách đầy những thứ nó cần.
Một hôm khi Bà đang trên đường vào tù thăm con thì gặp Cha Xứ. Cha nói :
– Thằng con của Bà đã phá hỏng tất cả hạnh phúc của đời Bà. Thôi từ này về sau đừng thèm nghĩ tới nó nữa.
Nhưng Cha rất đỗi ngạc nhiên khi Bà đáp lại :
– Dù nó đã gây biết bao tội lỗi và dù con không hề thích những tội lỗi của nó, nhưng dù sao nó vẫn luôn là con của con, con không thể bỏ nó được.
Lời bà mẹ này nói cũng chính là lời Chúa nói qua miệng ngôn sứ Isaia trong bài đọc I hôm nay : “Có người mẹ nào quên con mình được chăng ? Và cho dù có người mẹ nào như thế, thì Ta, Ta sẽ chẳng bao giờ quên ngươi đâu”.
Quả thật không có tình yêu nào bao la và bền vững như tình mẹ,ï tình cha, và trên cả tình mẹ cha là tình yêu Thiên Chúa.
Chính vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta với một tình yêu bao là bền vững như thế cho nên trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mới khuyên chúng ta hãy phó thác tất cả nơi tình yêu của Ngài : Đừng lo chi đến cái ăn, cái mặc, cũng đừng lo đến mạng sống và tuổi thọ. Hãy chỉ lo một điều duy nhất mà thôi là lo tím kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.
Hãy xem chim trời và cỏ hoa đồng nội
Những người lớn quá bận rộn nên không còn thời giờ làm một việc mà hồi nhỏ rất thường làm, đó là ngắm nhìn thiên nhiên. Hôm nay, chúng ta hãy tạm gác qua một bên mọi bận rộn của người lớn để tìm lại thú vui thời con nít.
Hãy ngắm chim trời : mặt trời mọc lên, chim thức giấc với những tiếng hót líu lo, bắt đầu một ngày cách rất lạc quan. Rồi chim mẹ đi kiếm ăn. Xem ra ngay cả việc kiếm ăn này dù cực khổ nhưng cũng rất lạc quan : chim bay đi bay lại trong bầu trời cao rộng, lượn lờ trên những khóm cây, vừa bay lượn vừa tíu tít ca hót. Tìm được một chút thức ăn, chim vui mừng mang về tổ cho con, chim còn vui mừng hơn nữa khi thấy đám con vui sướng với những miếng mồi nhỏ xíu mình mang về… Cứ thế cho đến khi mặt trời sắp gác bóng, chim tìm về tổ ấm, cả gia đình chim cùng nhau đi vào giấc ngủ thảnh thơi, không cần lo lắng gì cho ngày mai…
Hãy ngắm hoa cỏ ngoài đồng : chúng đẹp rực rỡ, “ngay cả Salomon trong tất cả vinh hoa của ông cũng không trang phục được bằng một trong những đóa hoa đó”. Có đóa màu vàng tươi sáng, có đóa màu hồng êm dịu, có đóa màu trắng khiết trinh, rồi màu tím, màu đỏ, màu xanh… Thật là muôn màu muôn sắc. Nhưng thử hỏi hoa làm gì để có những màu sắc tuyệt vời ấy ? Ta có hỏi hoa thì hoa cũng chẳng biết trả lời. Hoa chỉ nói : “Em chỉ biết sống trong thiên nhiên thôi, em hứng lấy sương trời, em tiếp nhận nhựa sống từ thân cây, em vui đùa trong ánh nắng. Em không biết tại sao từ một chiếc búp rồi tới ngày em hé nhụy, cánh em nở ra, sắc màu em tươi thắm”. Nếu hoa biết suy nghĩ thì hoa sẽ nói thêm : “Chúa làm đó !”
Chim và hoa chỉ biết làm theo những gì mà thiên nhiên hướng dẫn chúng làm. Ngoài ra, chúng chẳng lo lắng gì cả. Mọi kết quả tốt đẹp rực rỡ đều là thiên nhiên làm cho chúng. Mà “thiên nhiên” là gì ? Thưa là Tạo Hoá, là Thiên Chúa. “Tiên vàn các con hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Còn tất cả những điều khác Người sẽ ban thêm cho các con”.
Suy nghĩ về sự lo lắng
Theo kết quả thống kê, người Mỹ thường lo lắng về những điều sau đây :
– Lo về tiền bạc : 45 %
– Lo về người khác : 39 %
– Lo về sức khoẻ bản thân : 32 %
– Lo về học hành thi cử : 20 %
– Lo mất công ăn việc làm : 15 %
Thực ra biết lo không phải là vô ích, vì nhờ biết lo xa nên người ta mới thoát khỏi những tình trạng bối rối (như chuyện ngụ ngôn Con Ve và Con Kiến của Lafontaine). Nhưng sự lo lắng thái quá rất có hại.
Chính vì thế, Đức Giêsu không bảo ta đừng lo gì hết. Ngài dạy chúng ta cách giảm bớt sự lo lắng : một mặt là tin tưởng và phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa là Cha, mặt khác là hãy tập trung lo điều chủ yếu quan trọng nhất mà thôi, tức là lo làm theo ý Chúa (ý nghĩa của kiểu nói “Tìm Nước Thiên Chúa và Sự công chính của Ngài”).
Thánh Augustinô chia xẻ cho chúng ta một cách sống hồn nhiên và vô tư như sau : “Phó thác quá khứ cho lòng Thương xót của Chúa, hiện tại cho Tình yêu của Ngài, và tương lai cho sự Quan phòng của Ngài”.
Làm tôi tiền của
“Làm tôi tiền của”, một câu nói quá nặng ! Chắc không ai chịu nhận rằng mình đang làm tôi mọi cho tiền của. Tuy nhiên, ta hãy bình tĩnh để làm hai bảng trắc nghiệm.
A/ Bảng trắc nghiệm thứ nhất :
– Tôi vừa khai trương quán ăn. Mấy bữa trước khách đến lưa thưa. Hôm nay Chúa nhựt chắc chắn sẽ đông từ sáng tới chiều. Tiếc quá, tôi phải đến nhà thờ dự lễ. Không có tôi thì ai đón khách ? ai coi chừng tủ tiền ? rủi có chuyện gì xảy đến thì ai có thể xử lý ? Tôi nên bỏ lễ không ?
– Con của thằng em tôi bệnh nặng phải đưa vào bệnh viện. Nó túng quá đến mượn tiền tôi. Mà tôi thì đang để dành tiền để sắm một chiếc Wave. Tôi sẽ từ chối nó ?
– Khi trả tiền mua một món hàng, cô bán hàng thối lại cho tôi dư một số. Tôi biết cô này thường bán mắc lắm, tôi nghĩ bấy lâu này cô đã lời của tôi hơn số tiền này nhiều. Vậy tôi sẽ làm như không biết gì cả, coi như hôm nay mình hên vậy chăng ?
Đặt mình vào 3 tình huống trên, nếu bạn đều trả lời “Phải” hay “Có” thì bạn đã làm tôi cho tiền của rồi, vì rõ ràng bạn đã coi tiền của trọng hơn Chúa, trọng hơn anh em ruột của mình, thậm chí còn trọng hơn danh dự và lương tâm của mình nữa.
B/ Bảng trắc nghiệm thứ hai :
– Nhà tôi bị trộm, vợ tôi tiếc nên cứ than vắn thở dài mãi. Phần tôi thì nghĩ “Có tiếc thì cũng mất rồi. Thôi từ từ sẽ làm lại”.
– Đồng bào nhiều nơi đang bị lũ lụt. Nhiều tổ chức từ thiện đi quyên góp. Gia đình tôi thì không dư dả gì, nhưng cũng hy sinh góp một ít tiền, vì tôi nghĩ “Mình nhịn ăn nhịn xài một chút, để giúp cho những người đang thiếu thốn những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống”.
– Tôi đang thất nghiệp. Có người bạn chỉ tôi đi buôn lậu, vốn rất ít mà lời rất nhiều. Tôi thà nghèo chứ không thèm đến những đồng tiền bất chính.
Nếu tôi đồng ý với cách những giải quyết trên thì chứng tỏ tôi quả thực không bị nô lệ cho đồng tiền.
Đừng xét đoán
Một thực tế rất rõ ràng là người ta hay xét đoán nhau, chính chúng ta cũng hay xét đoán người khác : Anh đó sai, Cô đó làm vậy là xấu, mấy người ấy thật đáng trách… Thử nhớ lại những cuộc trò chuyện của chúng ta. Có bao nhiêu cuộc trò chuyện mà trong đó không có những lời xét đoán người khác ?
Giả như ai đó vì tín nhiệm chúng ta nên đem một vụ việc đến nhờ chúng ta xét đoán. Muốn xét đoán cho nghiêm túc, chúng ta phải làm gì ? Trước tiên là tìm hiểu vụ việc, không chỉ tìm hiểu một phía mà cả hai, có khi nhiều phía. Rồi tìm bằng chứng hay lý chứng. Rồi suy nghĩ thật kỹ. Sau cùng mới đưa ra kết luận.
Có khi nào chúng ta làm đúng và đủ những việc cần thiết đó không ? Ngay cả các quan tòa làm việc rất nghiêm túc mà cũng có khi đưa ra những xét đoán sai lầm.
Bởi vậy, Thánh Giacôbê hỏi : “Bạn là ai mà dám xét đoán người khác ?”
Còn thánh Phaolô trong bài Thánh thư hôm nay nhắc : “Anh em đừng đoán xét ; Đấng đoán xét chính là Thiên Chúa”.
Chuyện minh họa
Dân chúng ở một thành phố nọ có quá nhiều điều phải lo lắng. Vì thế họ họp nhau bàn cách giải quyết vấn đề này.
Một người đề nghị phải lập một công viên để người ta đến đó giải khuây. Người thứ hai đề nghị làm một sân chơi golf. Người thứ ba đề nghị xây một rạp xinê. Người thứ tư có một đề nghị độc đáo :
– Chúng ta hãy hùn tiền mướn một người gánh hết mọi nỗi lo của chúng ta.
– Nhưng người đó là ai ?
– Là anh thợ vá giày David đó.
– Mướn bao nhiêu ?
– Mỗi tuần 1000 bảng anh.
Tất cả mọi người đồng ý. Họ hỏi David người thợ vá giày :
– Anh có đồng ý với việc làm mới này không ?
David cười rạng rỡ :
– Tại sao không !
Tưởng là mọi việc đã thu xếp ổn thỏa. Nhưng bỗng một người đặt vấn đề :
– Chúng ta mướn David gánh hết mọi nỗi lo. Nhưng mỗi tuần hắn có 1000 bảng anh thì hắn còn gì phải lo nữa ? (Flor McCarthy)\
LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Thiên Chúa quan phòng muốn chúng ta ưu tiên tìm biết để thi hành thánh ý của Người, còn mọi sự khác hãy phó thác để Người lo cho chúng ta. Chúng ta hãy cảm tạ tình thương của Chúa và dâng lên Người những lời cầu xin tha thiết.
1- Sứ mạng của Hội Thánh là hướng dẫn cho mọi người biết thánh ý Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu biết làm theo những hướng dẫn của Hội Thánh.
2- Chúa trao cho những vị lãnh đạo các nước trách nhiệm lo cho dân mình được ấm no hạnh phúc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người cầm quyền / xin Chúa cho các vị biết hết lòng thương dân và lo cho dân.
3- Có nhiều người khổ sở vì thiếu thốn vật chất / nhưng lại có nhiều người khác khổ sở hơn / vì tuy dư thừa về vật chất nhưng lại túng thiếu về tinh thần / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người ấy / biết quan tâm đến những giá trị tinh thần và đạo đức.
4- Ngay cả nhiều người tuy là kitô hữu mà cũng chưa dám phó thác trọn vẹn vào Chúa quan phòng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn xứ đạo chúng ta / xác tín tình thương bao bọc của Chúa / để có thể an tâm ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.
CT : Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con. Cha đã hứa rằng dù có người mẹ nào quên con mình thì Cha cũng không bao giờ quên chúng con. Chúng con thành thật xin lỗi vì biết bao lần không tin tưởng phó thác vào tình thương của Cha. Từ nay chúng con sẽ cố gắng ưu tiên làm theo ý Cha và phó thác mọi sự khác trong tay Cha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô là Chúa chúng con.
—————————————————————
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN – Năm A
CHỌN THIÊN CHÚA HAY TIỀN CỦA – Lm Giuse Đinh lập Liễm
DẪN NHẬP
Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Bất cứ ai đều phải có sự lựa chọn cho đời sống của mình về phương diện tinh thần cũng như vật chất. Trên bình diện tôn giáo, Đức Giêsu đã chỉ dẫn cho chúng ta cách lựa chọn: ”Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được”(Mt 4,24). Và Ngài đã đòi chúng ta một sự lựa chọn dứt khoát: một là Thiên Chúa, hai là Tiền của. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn và phải gánh chịu hậu quả về sự lựa chọn đó.
Chúng ta là những người khôn ngoan đã dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa vì chúng ta là con của Ngài, đã được dựng nên giống hình ảnh Ngài. Một khi đã chọn Thiên chúa, chúng ta phải tuyệt đối yêu mến và tin tưởng vào sự quan phòng của Ngài. Chúa khuyên chúng ta đừng quá lo lắng về cơm ăn áo mặc, hãy nhìn xem chim trời, hoa cỏ đồng nội thì biết. Nhưng chúng ta phải lưu ý: Chúa khuyên chúng ta đừng “lo lắng” nhưng phải biêt “lo liệu”. Lo lắng là dấu chỉ chưa đủ tin tưởng vào Chúa, còn lo liệu là biết khôn ngoan sắp đặt mọi sự trong hiện tại cũng như trong tương lai trong sự yêu mến và tin tưởng phó thác cho Chúa.
Tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng không có nghĩa là ỷ lại, để cho Chúa lo mọi sự, nhưng trái lại, phải có sự cộng tác của chúng ta. Đây là bằng chứng: ngày từ đầu Thiên Chúa đã trao trái đất cho con người coi sóc, Đức Giêsu đã làm nghề thợ mộc tại Nazareth và thánh Phaolô cũng chủ trương ai không làm việc thì không có quyền ăn. Vậy, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cứ làm việc bình thường, đừng bồn chồn lo lắng. Hãy quên đi quá khứ, hăng say làm việc trong hiện tại và đặt tương lai vào trong bàn tay Chúa quan phòng.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Is 49,14-15
Dân Israel bị lưu đày bên Babylon, sống cơ cực dưới sự đè nén của ngoại bang, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Họ cho rằng Thiên Chúa đã quên họ. Họ đã bị bỏ rơi. Niềm tin bị giảm sút.
Nhưng tiên tri Isaia đã khẳng định với dân: Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên họ bởi vì họ là con của Ngài. Ông đưa ra một hình ảnh sống động và cụ thể: có người mẹ nào mà bỏ quên con mình? Cho dù người mẹ có bỏ quên con mình đi nữa thì Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ quên đâu.
+ Bài đọc 2: 1Cr 4,1-5
Tín hữu Corintô có nhiều tinh xấu như óc bè phải, tính kiêu căng, tự phụ. Hôm nay thánh Phaolô nhắc nhở họ phải đề phòng một tính xấu khác, đó là xét đoán.
Thực ra, không ai biết được con tim khối óc của người khác, chỉ là phỏng đoán, duy một mình Thiên Chúa mới biết được chính xác. Vì thế, mọi người hãy dành quyến xét xử cho Thiên Chúa “Đấng thấu suốt lòng mọi người”.
+ Bài Tin Mừng: Mt 6, 24-34
Hôm nay Đức Giêsu nói với cả người giầu lẫn người nghèo phải biết lựa chọn. Chỉ có hai con đường để lựa chọn, đó là phụng sự Thiên Chúa hay phụng sự Tiền của.
Phụng sự Thiên Chúa là sống theo Tin mừng, theo Hiến chương Nước Trời và tìm kiếm sự công chính của Thiên Chúa, nghĩa là tìm biết và thi hành thánh ý Ngài.
Nếu phụng sự Chúa thì phải tin vào Chúa quan phòng. Đành rằng chúng ta phải làm việc để giải quyết đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc… nhưng chúng ta phải dành ưu tiên cho việc tìm kiếm Nước Trời, còn mọi sự khác Ngài sẽ ban cho.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Bắt cá hai tay
Người Việt nam chúng ta thường dùng câu tục ngữ “Bắt cá hai tay” để chỉ những người tham lam, mưu cầu nhiều việc. Ta phải hiểu câu tục ngữ này như thế nào? Nhân dân ta hiểu câu tục ngữ này theo nghĩa đen là: mỗi tay bắt một con, và kết quả là tuột mất hết chẳng bắt được con cá nào. Chẳng thế mà ca dao Việt nam đã từng khuyên nhủ mọi người:
Thôi đừng bắt cá hai tay
Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.
Câu tục ngữ này có thể minh họa một phần nào lời Đức Giêsu nói trong bài Tin mừng hôm nay: ”Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia; hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ kia. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6,24).
PHẢI BIẾT CHỌN LỰA
- Lựa chọn là điều cần thiết
Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là dấn thân, mà dấn thân thì phải lựa chọn. Sống là một chuỗi những lựa chọn. Chính những lựa chọn này sẽ làm cho người ta thành công hay thất bại, trở thành người tốt hay người xấu, được hạnh phúc hay phải đau khổ. Đã chọn lựa điều này thì phải bỏ điều kia. Từ bỏ bao giờ cũng là một giằng co, nuối tiếc.
Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay. Người bắt cá hai tay bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất. Hôm nay phải chọn lựa hoặc Thiên Chúa hoặc Tiền của.
- Phải chọn lựa thế nào?
- a) Thời xa xưa, trong thời vua Achab trị vì, dân Israel đã bỏ Chúa mà đi thờ dân ngoại Baal. Tiên tri Êlia đã hô hào dân chúng hảy trở về với Thiên Chúa, phải dứt khoát lựa chon: ”Các ngươi nhảy khập khiễng hai chân cho tới bao giờ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Baal thì cứ theo nó” (1V 18,21)
- b) Thời nay, Đức Giêsu cũng cảnh báo cho những người tôn thờ tiền của như sau: ”Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6,24)
* Ý nghĩa chữ “Tiền của”
Tiền của ở đây được viết bằng chữ hoa, tiếng Aram là MAMMON, có nghĩa là Tiền của. Nếu tiền được thần hóa như thế, thì sức mạnh thống trị của nó không thể coi thường. Nếu tiền và Thiên Chúa đã được Đức Giêsu đưa lên bàn cân để người ta lựa chọn, thì quyền lực của nó phải là vô song.
* Ý nghĩa chữ “tôi” và “chủ”.
Đối với người xưa “không ai được làm tôi hai chủ” có ý nghĩa hơn đối với chúng ta. Từ ngữ là “tôi” trong nguyên ngữ Hy lạp là “nô lệ”, làm nô lệ cho; còn từ “chủ” để chỉ quyền sở hữu tuyệt đối. Ý nghĩa câu này sẽ rõ hơn nếu chúng ta dịch: không ai có thể làm nô lệ cho hai ông chủ.
Để hiểu ý nghĩa, có hai điều chúng ta cần nhớ về người nô lệ thời xưa. Nô lệ, trong quan điểm luật pháp, không phải là một con người mà là một đồ vật. Nô lệ tuyệt đối không có gì cả, chủ có thể sử dụng nô lệ thế nào cũng được. Đối với luật pháp, nô lệ là một dụng cụ sống, ông chủ có thể bán, đánh đập, quăng ra ngoài hoặc giết đi, vì ông ta sở hữu người nô lệ y như sở hữu một đồ vật. Thứ đến, nô lệ thời xưa không có chút thời giờ nào là của riêng. Mỗi giây phút của đời sống nô lệ đều thuộc về chủ…
Đây chính là mối dây liên hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa, ta không có quyền gì cả. Thiên Chúa là chủ tuyệt đối. Không bao giờ chúng ta được hỏi: tôi muốn làm gì? Nhưng luôn luôn hỏi: Chúa muốn tôi làm gì?
- Nguy hại của thần Mammon.
Thần Mammon hay thần Tiền của có một sức mạnh vạn năng, nó giải quyết phần lớn các nhu cầu của con người, nên tiền của hấp dẫn lạ lùng. Người Vệt nam chúng ta có câu:
Có tiền mua tiên cũng được
Hoặc:
Mạnh về gạo, bạo về tiền
Lắm tiền, nhiều gạo là tiên trên đời.
Ngay cả việc đạo cũng phải có tiền mới xong:
Có thực mới vực được đạo.
Nguyên ngữ Mammon chỉ có nghĩa là của cải vật chất. Nguyên nghĩa của nó không phải là một chữ mang ý nghĩa xấu. Các rabbi Do thái vẫn dạy: ”Hãy quí trọng mammon của người khác như của chính ngươi”, nghĩa là mọi người phải coi tài sản vật chất của người khác quí trọng như tài sản của mình.
Tiền của là như vậy, nhưng tại sao Đức Giêsu lại gay gắt với tiền của như thế? Thật ra, Ngài không lên án tiền của, Ngài chỉ cảnh báo những ai ham mê của cải mà thôi. Hay nói cách khác, Thánh Kinh đã nói: ”Lòng ham tiền của là cội rễ mọi điều ác” (1Tm 6,10).
Và chúng ta phải công nhận rằng tiền của là phương tiện hữu hiệu Chúa ban, để bảo tồn sự sống đời này, và để mua Nước Thiên đàng đời sau. Tự bản chất của tiền là tốt, nó là hồng ân Thiên Chúa tặng ban cho con người.
Tiền của chỉ trở nên xấu khi ta quá tôn thờ nó, như một ông chủ sai khiến hành hạ đời ta, thậm chí lấy luôn mạng sống ta.
Tiền của chỉ trở nên đáng ghét khi ta quá tham lam thu tích nó mà quên đi bổn phận chia sẻ với anh em, như người giầu có xử tệ với Lazarô nghèo khó.
Tiền của chỉ trở nên án phạt khi ta quá ham mê nó mà từ bỏ Thiên Chúa, như Giuđa bán Thầy vì mê 30 đồng bạc.
Tiền của chỉ trở nên cạm bẫy khi ta quá bám víu vào nó mà không còn tin cậy vào Thiên Chúa quan phòng, như người phú hộ ham hưởng khoái lạc không kịp ăn năn.
Vì thế, Đức Giêsu thật có lý khi cấm chúng ta không được làm tôi tiền của. Ngài cảnh báo như thể để mưu cầu hạnh phúc đời đời cho chúng ta.
Truyện: Nô lệ hay tự do
Hôm ấy, trời vừa rạng đông, ông hoàng nói với tên đầy tớ: ”Xem chừng anh mơ ước giầu có lắm. Vậy từ giờ này cho đến lúc mặt trời lặn, anh có sức ngần nào thì cứ chạy. Tất cả những ruộng vườn, ao cá anh chạy vòng quanh được, ta cho anh hết”.
Anh vui sướng quá! Cha chết sống dậy cũng không bằng. Anh liền cắm đầu chạy, chạy vùn vụt như Hạng Vũ trên con ngưa Ô-Truy. Chín mười tiếng đồng hồ qua, chàng làm chủ được mấy cánh đồng bao la bát ngát. Chàng vừa dừng chân, thì một hồ cá mênh mông với mặt nước trong ngần huyền ảo phán chiếu ánh mặt trời đã xế chiều. Chang lại chạy tiếp. Sau cùng, màn đêm buông rơi. Chàng hổn hển quay bước trở về, để làm bậc tỷ phú với “Ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ao hồ mặc sức cá đua”.
Nhưng vừa bước chân vào ngưỡng cửa, chàng ngã lăn xuống bất tỉnh. Vợ con vội vàng thuốc thang săn sóc… Nhưng vô hiệu. Nhà tỷ phú đã trút linh hồn sau một ngày dài lao lực quá mức. Người ta đào cho chàng một chỗ nghỉ trong lòng đất, vừa dài, vừa rộng, nhưng không quá ba tấc đất.
Đó là kết cục của một con người ham mê tiền của, để nó sai khiến như một tên nô lệ, phải vắt cạn kiệt sức lực cho tới chết, mà không được mảy may hưởng dùng.
Sự nô lệ cho tiền của là một bệnh “ung thư” thật sự của xã hội chúng ta. Nhắc lại như thế là việc tầm thường. Nền văn minh Tây phương đang tự phá hủy chính mình dưới nhịp độ dữ dội mà cuộc chạy đua đuổi theo cái “tiện nghi”, cái “xa hoa”, những đồ dùng lạ mắt bắt ép nền văn minh ấy. Chính con người trở thành nạn nhân của “đồ bỏ đi ấy của Satan” như cách gọi của tác giả người Ý, Papini.
TIN VÀO CHÚA QUAN PHÒNG
- “Đừng lo lắng về của ăn áo mặc”
Tiếp theo việc phải chọn lưa giữa Thiên Chúa và Tiền của, Đức Giêsu khuyên chúng ta đừng lo lắng về cơm ăn áo mặc, hãy xem chim trời và hoa đồng nội, chúng sống thế nào!
Chúng ta cần phân biệt giữa “lo lắng” và “lo liệu”. Chúa bảo chúng ta đừng lo lắng chứ không phải đừng lo liệu. Lo lắng vì không tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng. Mọi lo lắng đều liên hệ đến tương lai, mà tương lai là điều chưa có thật. Trái lại, lo liệu là vẫn lo làm việc hôm nay, tiên liệu cho ngày mai, nhưng luôn tin cậy phó thác cho Chúa.
Lo lắng chủ yếu là không tín thác vào Chúa. Sự không tín thác như thế có thể hiểu được nơi người ngoại giáo với tin tưởng vào một thần linh ganh tị, thất thường, không thể đoán trước được, nhưng không thể hiểu được nơi một người đã học gọi Thiên Chúa là Cha. Khi chúng ta đặt chính mình vào đôi tay của Thiên Chúa, chúng ta mở lòng mình để hưởng nhờ ơn Chúa bảo vệ chúng ta. Và chúng ta có thể sống đời sống của mình và cử hành giây phút hiện tại.
- Hãy tin vào Chúa quan phòng
Quan phòng là hành động của Thiên Chúa hướng dẫn con người và thế giới cách nào đó mà ta không ngờ. Nó không phải là định mệnh, hay số mệnh như quan niệm bình dân. Bình dân hiểu: số mệnh, định mệnh là sự ấn định trước cho mỗi người phải chịu một kiếp sống tốt hay xấu, sướng hay khổ, thành hay bại giống như rút thăm, rút số ghi sẵn cái gì thì phải lãnh cái đó.
Quan phòng là việc của người Cha khôn ngoan sáng suốt, đầy tình thương mến, hy sinh tận tụy lo toan cho con, nhưng cũng rất tôn trọng tự do sáng kiến của con, khi con hết lòng yêu mến, kính phục Cha, nó sẽ hết lòng vâng theo lời hay lẽ phải của Cha.
Phụng vụ Chúa nhật hôm nay nhắc nhở cho ta điều mà ta không bao giờ được quên là ta tùy thuộc vào Chúa từng hơi thở. Chúa là Chúa các tạo vật. Ngài nắm quyền ban sự sống và đem lại cái chết. Ngài cầm vận mạng mọi loài trong tay.
Trong bài đọc 1, tiên tri Isaia nhắc nhở cho dân chúng là ngay cả khi họ bị lưu đầy bên Babylon, Chúa vẫn nhớ họ và không bỏ rơi họ. Mặc dầu bị án phạt, Chúa vẫn nhớ họ và giải thoát họ khỏi nô lệ. Sứ điệp của tiên tri Isaia bảo ta là phải đặt tin tưởng phó thác vào Chúa, ngay cả trong những ngày đen tối, bởi vì Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người. Isaia còn đưa ra hình ảnh người mẹ với đứa con, không bao giờ người mẹ bỏ quên con, và giả như người mẹ có quên con đi chằng nữa thì Thiên Chúa cũng không bao giờ bỏ ta là con Ngài.
Tin mừng cũng nói lên một sứ điệp tương tự Lời Chúa vang dội bên tai ta như là lời an ủi vỗ về: ”Các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: chúng ta sẽ ăn gì, uống gì hoặc sẽ lấy gì mà mặc… Cha trên trời biết rõ chúng con cần những sự đó” (Mt 6,31-32).
Truyện: Người mẹ không quên con
Một phụ nữ nghèo nàn ở trong một giáo xứ tại Dublin có một đứa con trai và đứa con này làm tan nát đời bà.
Anh ta không chịu làm việc mà dùng thời giờ để uống rượu và la cà với những kẻ phá rối. Anh lấy trộm hết những vật có giá trị của bà trong nhà. Bao nhiêu lần, bà đã cầu xin anh thay đổi đời sống, nhưng anh từ chối không làm. Anh làm cho trái tim mẹ anh tan nát và đời sống bà trở nên khốn khổ.
Có lúc anh ta phải vào tù. Hẳn là bà bỏ mặc anh ta? Không đời nào. Bà đến nhà tù thăm anh ta không bỏ tuần nào, mỗi lần đều mang theo thuốc lá và những đồ dùng khác cho anh ta trong một cái bao nhỏ. Một ngày nọ, một linh mục trong giáo xứ gặp bà lúc bà đang trên đường đến nhà tù.
“Đứa con trai này làm đời bà tan nát” vị linh mục nói. “Nó sẽ không bao giờ thay đổi. Tại sao bà không quên nó đi”?
“Làm sao tôi có thể quên nó được”? bà đáp lại. “Tôi không thích việc nó làm nhưng nó vẫn là con tôi”.
Bạn có thể nói rằng người mẹ ấy điên. Tuy nhiên bà chỉ làm điều mà bất cứ bà mẹ nào đúng nghĩa một bà mẹ không thể không làm, đó là yêu thương con của mình dù ở hoàn cảnh nào. Một bà mẹ không bao giờ bỏ cuộc. Đối với hầu hết chúng ta, tình thương của bà mẹ là một tình yêu của con người đáng tin cậy nhất. Nên không lạ gì khi Kinh Thánh dùng tình yêu của bà mẹ như một hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa (McCarthy).
- Quan phòng và hành động.
Tin vào Chúa quan phòng không phải là trao hết mọi việc vào tay Chúa rồi sống ỷ lại với tư tưởng: ”Trời sinh voi, trời sinh cỏ” rồi “ngồi há miệng chờ sung rụng”. Tin Chúa quan phòng không được mang tính cách thụ động, không phải thái độ vô vi, yếm thế, buông trôi. Đức tin chân chính phải thể hiện bằng việc làm, càng tin, càng phải đem hết sức mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa: biết xây dựng trần thế tốt đẹp như khi Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp.
Nếu Đức Giêsu nói: ”Các con không phải làm gì cả, cứ tin vào Chúa quan phòng” thì tại sao trong toàn bộ Thánh Kinh, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nói điều ngược lại? Chương đầu tiên của sách Sáng thế đã cho chúng ta lệnh truyền: ”Hãy thống trị đất và bắt nó pục tùng”.
Thật ra, Đức Giêsu khẳng định: ”Vì thợ đáng được nuôi ăn”(Mt 10,10). Điều này được hiểu ngầm rằng người nào không làm việc, người đó không có quyền ăn như thánh Phaolô kết luận (2Tx 3,10). Và cũng phải đọc lại lời lên án nghiêm khắc của người đã không làm sinh lợi nén bạc mà người đó đã lãnh nhận (Mt 25,14-30). “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài”.
Vả lại, Ở Nazareth, Đức Giêsu đã có một nghề nghiệp: Ngài đã trải qua kinh nghiệm sống đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Và cũng như 20 gia đình tạo thành ngôi làng nhỏ miền quê ấy, Ngài cũng phải sở hữu ít đồng ruộng và một vài gia súc. Đức Giêsu hoàn toàn biết rằng tiền bạc có ích và cần thiết cho cuộc sống.
Nhà nho cũng hiểu điều đó khi nói: ”Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”: trời hành động kiên cường thế nào thì quân tử cũng phải tự cường, hết sức làm như thế, không ngưng nghỉ. Quân tử là con trời, con vua, là hiền nhân, minh triết, phải biết tri thiên mệnh: biết ý trời, biết mệnh lệnh của trời để làm theo. Tin có thiên mệnh, tin cáo đạo Trời, chính là tin Thiên Chúa quan phòng sắp xếp mọi trật tự cho muôn loài trong trời đất.
Nhà nho chân chính Nguyễn công Trứ luôn luôn kiên cường hành đạo không mỏi mệt, không vụ danh lợi, dù làm tướng, làm quan hay làm lính “vẫn ra tay buồm lái với cuồng phong”. Nhờ thế, ông đã biến biển cả thành nương dâu, đồng ruộng Kim Sơn, Tiền Hải cho nhân dân ấm no. Nhất là ông đã biến những con người yếm thế thành những nam nhi anh hùng: ”Chí những toan xẻ núi lấp sông”, biến những tâm hồn tham danh lợi thành trong sáng thanh tao: ”Chẳng lợi danh gì lại hóa hay”. Một con người đầy chí khí không cầu thành công danh lợi, chỉ cầu thành nhân mưu ích cho đời: ”Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
Đức Giêsu đâu có thành công lúc sinh thời, nhưng đã thành Đấng Cứu Độ của muôn dân.
III. TÌM CÁI ƯU TIÊN CHO CUỘC SỐNG
Trong tất cả các tạo tạo vật nơi vũ trụ và tất cả các sinh vật trên mặt đất, mối quan tâm trước tiên của Chúa là con người, vì con người là một tuyệt tác phẩm của Thiên Chúa. Nếu Chúa quan tâm đến chim trời, đến hoa đồng cỏ nội, thì Chúa còn quan tâm hơn gấp bội đến con người, được tạo dựng giống hình ảnh của Chúa.
Nhưng chúng ta phải đặt vấn đề và giải quyết: Tại sao với đủ mọi thứ bảo hiểm cho thân xác mà ta vẫn cảm thấy bồn chồn lo lắng, chưa có hạnh phúc? Thưa, vì ta thiếu bảo hiểm cho tâm hồn. Khi mà chủ thể, cùng đích và lẽ sống của ta không phải là Chúa nhưng là thứ gì khác, và khi thứ khác đó bị mất đi, ta sẽ ngã gục, vì không còn gì để bám víu. Chúa không muốn ta để cho những hoàn cảnh hay trạng huống của cuộc sống điều khiển và chi phối. Chúa muốn ta sống thế nào để có thể cảm nghiệm được tình yêu và quan phòng của Chúa từ lúc này qua lúc khác, từ ngày nọ qua ngày kia. Để được như vậy, ta cần chiêm niệm Lời Chúa: ”Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác, Người sẽ ban cho”(Mt 6,33).
Truyện: Nguyên tắc sinh tồn
Một giáo sư thực vật học, tay cầm một hạt giống nhỏ mầu nâu và nói với cả lớp rằng:
– Tôi biết rõ hợp chất của hạt giống này. Nó gồm Hydro, carbon và nitro. Tôi biết đúng tỉ lệ và có thể tạo ra một hạt giống khác trông y như hạt giống này.
Một học sinh đứng lên hỏi:
– Thưa thầy, nếu đem hạt giống thầy chế tạo đó mà gieo xuống đất, nó có thể mọc lên không ạ?
Giáo sư trả lời:
– Với hạt giống của tôi, điều đó không thể được. Nhưng nếu tôi đem hạt giống mà Thiên Chúa đã làm ra, nó sẽ mọc lên thành cây, vì nó chứa đựng nguyên tắc mầu nhiệm mà chúng ta gọi là nguyên tắc sinh tồn.
Hạt giống là một cái gì chứa đựng sự sống. Con người, có thể với sự tài giỏi của khoa học, tạo ra những hạt giống tương tự hoặc tạo ra những người máy robot, song không thể tạo ra được sự sống được. Quyến sống chết chỉ duy nhất ở trong tay Thiên Chúa thôi.
Nếu Chúa đã nói: ”Các con đừng lo lắng về ngay mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó”(Mt 6,34) thì chúng ta phải hiểu là: quá khứ đã qua đi rồi, hãy quên nó đi; hiện tại đang nằm trong tay, phải chu toàn nó; tương lai là của Chúa, hãy phó thác cho Ngài và sống trong an bình thư thái.
———————————————————-
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
TIỀN KHÔNG THỂ CỨU ĐỘ ĐƯỢC CON NGƯỜI– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
“Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được” (Mt 6,25) là lời khẳng định của Chúa Giêsu sau khi Người tuyên bố : “Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia” (Mt 6,25) khiến chúng ta phải suy nghĩ.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cập đến một thứ rất quen thuộc và được sử dụng hàng ngày trong cuộc sống đó là “tiền”. Chẳng ai muốn nói tới tiền, vì đó là một chủ đề cấm kỵ. Tiền vừa là thứ được yêu thích, và cũng là thứ gây mặc cảm.
Tiền chỉ là một mảnh giấy, một vật làm bằng kim loại vô tri vô giác, nhưng nó đã đuợc chọn làm tương giao đổi chác, chi phối chúng ta quá nhiều. Tiền giữ một vị trí quan trọng, khiến nhiều bậc thang có giá trị bị đảo lộn, nhiều người có cùng quan điểm “có tiền là có tất cả”. Tiền
Là tiên là phật
Là sức bật của tuổi trẻ
Là sức khỏe của tuổi già
Là cái đà của danh vọng
Là cái lọng che thân
Là cái cân công lý
Hoặc: Đồng bạc xé toạc công lý !
Tiền là anh bạn xấu
Ở đời, người ta vẫn nói với nhau rằng, mỗi người thương có ba bạn. Người bạn thứ nhất và thứ hai thì rất thân, còn người bạn thứ ba thì không thân lắm.
Người bạn thân thứ nhất trong đời ta là tiền bạc. Đồng tiền gắn liền khúc ruột, thân hơn cả vợ con, đi đâu vợ con thì không, nhưng tiền là mang theo. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta đến người khác ngay lập tức không có au revoir, good-bye gì hết.
Người bạn thân thứ hai trong đời ta là cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè. Khi ta chết, họ khóc lóc, nhưng cũng chỉ đưa ta đến cửa huyệt rồi về. Có ông chồng trước khi chết hỏi vợ:
- Tôi chết, bà làm gì cho tôi?
- Tôi sẽ chôn ông trong chiếc hòm thật đắt tiền.
- Tôi biết gì đâu ?
- Tôi sẽ khóc thương ông thảm thiết, nước mắt thấm vào xác ông.
- Tôi biết gì đâu?
- Cái chết đáng sợ thế à ?
- Nó chỉ đáng sợ với người không biết nó, không nghĩ tới nó và không chuẩn bị cho nó!
Người bạn thứ ba, mà trong đời sống ta thường ít ưa thích, là việc lành, đạo đức. Các việc đạo đức này sẽ theo ta đến tòa Chúa phán xét, biện hộ cho ta và làm cho ta được Chúa thưởng vào Thiên đàng.
Đành rằng, tiền bạc luôn là nhu cầu tối cần thiết của con người, là công cụ đắc lực, phục vụ con người cả vật chất lẫn tinh thần. Người có đạo cũng thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Nhưng nhân cách, phẩm giá và đạo đức con người bị đặt xuống dưới đồng tiền là điều không thể chấp nhận được.
Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây ra tội lỗi, nhưng thánh Phaolô nhấn mạnh rằng : “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham thích tiền bạc” (1Tm 6,10). Tiền là chỗ dựa không vững chắc, là thước đo lường sai và với sự hấp dẫn của nó, con người có nguy cơ bị tiền chế ngự. Thần Tiền tạo ra ảo giác rằng khi có tiền, tôi có thể có được mọi thứ, mọi ước muốn sẽ được thoả mãn, và qua đó, tiền làm cho chúng ta thành nô lệ. Câu chuyện minh họa ba người bạn trên chứng tỏ tiền là anh bạn phản bội xấu xa.
Chọn Chúa và tin vào Chúa
Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phục thực sự. Ngài muốn chúng ta đi vào Giao Ước, chứ không phải là Bò vàng, Mammon, một giá trị biểu trưng sự an toàn tuyệt đối. Nếu không muốn trở thành nô lệ, cách thức duy nhất là chọn làm tôi Chúa và phục vụ Ngài. Chỉ có Thiên Chúa mới giải thoát được chúng ta.
Trong Mười Điều Răn, không có điều răn nào nói về tiền bạc. Tuy nhiên, chúng ta có thể lỗi phạm điều thứ nhất, nếu chúng ta hành động vì tiền. Đó là tội thờ ngẫu tượng. Vì tiền trở nên thần tượng để chúng ta tôn thờ. Ma quỷ luôn cám dỗ người ta về: sự giàu có, thỏa mãn; tự phụ, cảm thấy mình quan trọng ; và kiêu ngạo. Và cuối cùng, tiền tạo ra sự tôn thờ ngẫu tượng.
Chúa Giêsu dạy: “Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng : Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì lấy gì mà mạc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều ấy” (Mt 6, 31-32). Và Người mời gọi chúng ta hãy đặt lên hàng đầu việc “tìm kiếm nước của Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban them cho” (Mt 6, 33). Tin vào Chúa quan phòng không thế chỗ cho những nỗ lực chiến đấu để hướng đến một cuộc sống đúng với phẩm giá con người, nhưng giải phóng chúng ta khỏi những nỗi bận tâm về của cải và những nỗi sợ hãi trong tương lai. Sau cùng phải khẳng định :
Tiền có thể cứu độ được con người không ?
Giảng trong thánh lễ sáng thứ Sáu 20 tháng 9 năm 2013, Đức Phanxicô nhắc lại rằng : “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được” bởi vì “một khi người ta dành tình yêu cho tiền và hướng về, thì tiền lôi kéo người ta xa rời Thiên Chúa”. Ngài kết luận : “Không ai có thể được cứu độ bằng tiền”. Vậy, phải chọn lựa, chúng ta không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của được. Chúng ta không thể. Hoặc là Thiên Chúa hoặc là tiền của.
Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới mà đồng tiền thống trị và điều khiển mọi sự. Con người bị chi phối và nghiêng chiều về nó, sẵn lòng phàm hóa mọi sự, bỏ Chúa ra khỏi đời sống, chẳng tin tưởng vào Thiên Chúa nữa. Lời Chúa mời gọi chúng ta chọn Chúa, thờ phượng Chúa, và vững tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa tình yêu. Vì Thiên Chúa phán : “Cho dù người mẹ có quên, nhưng Ta sẽ không quên người đâu” (Is 49, 14- 15). Ðó là lời mời gọi tin tưởng vào tình yêu không bao giờ phôi phai của Thiên Chúa. Tiền chẳng bỏ rơi chúng ta và chẳng bao giờ cứu độ được chúng ta, nhưng Thiên Chúa thì luôn trung thành và Ngài sẽ cứu độ chúng ta.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con khỏi rơi vào cái bẫy của thần tượng bạc tiền và chọn Chúa, vì chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con. Amen.
——————————————————————————
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
AI ĐANG THỐNG TRỊ TÂM HỒN TÔI – Lm. Ignatiô Trần Ngà
Ai đang điều khiển bản thân ta? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời.
Khi vừa mới nghe qua câu hỏi nầy, nhiều người sẽ vội đáp: Tất nhiên là lương tri tôi, lý trí tôi đang điều khiển tôi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là không hẳn như thế.
Có nhiều thứ quyền lực đang thống trị và điều khiển bản thân ta mà chính ta cũng không hay biết.
Nơi người nầy, có thể là những ham muốn nhục dục đang thống trị; nơi người kia, có thể là sự khao khát danh vọng đang nắm quyền chỉ huy…
Nhưng có lẽ quyền lực lớn lao và mạnh mẽ hơn hết đang thống trị nhiều người là lòng tham lam.
Khi lòng tham đã lên ngôi, đã nắm quyền thống trị ai, thì lý trí, lương tri của người đó mất hết quyền chỉ huy bản thân mình.
Một số bác sĩ thừa biết thế nào là “lương y như từ mẫu”, nhưng lòng tham đang ngự trị trong tâm hồn đã thôi thúc các vị từ chối cấp cứu những nạn nhân nghèo không có tiền bạc, khiến họ phải chết cách oan ức.
Không ít thầy cô thừa biết thế nào là đạo đức nhà giáo, nhưng lòng tham đang thống trị trong lòng đã chỉ đạo cho họ bắt học sinh phải học thêm liên tục, để tăng thêm thu nhập cho mình, bất chấp các em phải học ngày học đêm, vừa cạn kiệt túi tiền, vừa khiến cho đầu óc tê liệt, thân xác rã rời!
Một số vị lãnh đạo thừa biết rằng tham ô là quốc nạn, là tội ác đối với dân tộc, nhưng lòng tham đang ngự trị trong tâm hồn sai khiến họ vơ vét không ngừng tài sản quốc gia.
Nói chung, lòng tham đang thống trị trong tâm hồn con người đã xui khiến, xô đẩy người ta thực hành đủ mọi hình thức tham ô, chiếm đoạt, sản xuất thực phẩm độc hại, lường gạt, giết người cướp của, mại dâm, buôn người… để thu lợi về cho mình, bất chấp thiệt thòi, mất mát, đau thương, khốn cùng… của bao nhiêu người khác.
Điều đáng sợ là trong xã hội ngày nay, lòng tham ngày càng thắng thế. Lòng tham từng bước truất phế lương tri, lý trí, lòng đạo đức nơi rất nhiều người để chiếm lấy vị trí thống trị trong tâm hồn và đời sống của họ; và điều đáng sợ hơn nữa là hầu như không có một quyền lực nào – ngoại trừ quyền lực của Tin mừng, của điều thiện – có thể lật đổ, truất phế lòng tham để cho lòng đạo đức và lương tri được lên ngôi.
Qua trích đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cảnh báo rằng nếu chúng ta để cho lòng tham thống trị là chúng ta truất phế Chúa ra khỏi tâm hồn và khỏi cuộc đời mình. Ngài nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.” (Mat-thêu 6,24)
Một khi đã truất phế Thiên Chúa, lật đổ chân thiện mỹ, để cho lòng tham lên ngôi, thì cuộc sống con người sẽ sa đoạ và đau thương.
Chúa Giê-su kêu gọi truất phế lòng tham
Chúa Giê-su dạy chúng ta đừng mê tham của cải vật chất khi Ngài tuyên bố: “Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3) và đừng tích trữ “kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm cho hư nát, nơi kẻ trộm khoét vách lấy đi, nhưng hãy tích trữ cho mình kho tàng trên trời…” (Mt 6, 19).
Chúa Giê-su hô hào chúng ta lật đổ, truất phế sự thống trị của lòng tham khi Ngài răn dạy: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam…” (Lc 12, 15); khi Ngài cảnh báo những người giàu có chỉ biết lo tích luỹ của cải đời nầy mà không biết chia sẻ cho tha nhân rằng: “Đồ ngốc! Nội đêm nay ta đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi tích trữ sẽ về tay ai?” (Lc 12,20).
Chúa Giê-su hô hào mọi người lật đổ, truất phế sự thống trị của lòng tham khi Ngài kết án những người sống xa hoa như ông nhà giàu chỉ biết vui hưởng của cải dư dật của mình mà không chia sớt cho La-da-rô nghèo khổ thì sẽ phải chịu cực hình đời đời trong hoả ngục (Luca 16, 19-26).
Và đặc biệt, Chúa Giê-su kêu mời mọi người hãy đánh đổi của cải tạm thời để chiếm lấy kho tàng vĩnh cửu bằng cách chia sớt tài sản đời nầy cho người nghèo khổ để mai sau được vui hưởng hạnh phúc thiên đàng, Ngài nói: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình những những túi tiền, những kho tàng bất hoại trên trời…” (Lc 12,33).
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con kiên quyết lật đổ lòng tham, không để nó thống trị tâm hồn và cuộc sống chúng con và dứt khoát tôn Chúa lên làm vua thống trị đời mình, biết vâng lời Chúa dạy để tích luỹ kho tàng trên trời bằng cách rộng tay chia sẻ những gì mình có với anh chị em chung quanh.
—————————————————————-
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Anh em đừng lo lắng về ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó (Mt 6,34)
Suy niệm:
Phân tích
Bài Tin Mừng này có hai ý lớn:
1- Không ai có thể làm tôi hai chủ. Vậy phải chọn làm tôi Thiên Chúa hay làm tôi tiền của.
2- Đừng quá lo lắng về những nhu cầu của cuộc sống thể xác: của ăn, áo mặc, tuổi thọ; vì đã có Chúa lo cho ta những thứ đó. Điều cần lo trước hết là tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.
Suy gẫm
1- Trong câu Chúa Giêsu cảnh cáo về việc làm tôi tiền của, chữ “Tiền Của” được viết hoa, ngụ ý đó là một thứ tà thần. Thật vậy, tiền của có sức ám người ta tất mạnh, và có sức phá hoại mọi thứ đạo đức. Đừng bao giờ coi thường nguy hiểm của nó.
2- Một ông già trúng số độc đắc 100 triệu, ông bị bệnh tim, gia đình lo sợ tin vui sẽ giết mất ông. Vì thế họ đến gặp một mục sư, xin ngài đến thăm dò và hỏi xem ông cụ sẽ làm gì nếu có 100 triệu. Ông nói: “Tôi sẽ cho ngài và cho nhà thờ một nửa” mục sư té xỉu.
3- Sở dĩ con người lo lắng thái quá và từ đó không còn được hạnh phúc trong cuộc sống, là vì con người không tin ở sự hiện diện và quan phòng của Thiên Chúa. Chim trời không gieo vãi mà vẫn có ăn, hoa cỏ đồng nội không canh cửi mà vẫn xinh đẹp rực rỡ. Tin ở tình yêu quan phòng của Thiên Chúa có nghĩa là đón nhận từng giây phút hiện tại sống sung mãn từng khoảnh khắc cuộc sống. Tin ở tình yêu quan phòng của Thiên Chúa cũng có nghĩa là chấp nhận các khuyết điểm của mình, khoan dung đối với những giới hạn của người khác, và nhìn mỗi thất bại như một cơ may mới.
4- “Anh em đừng lo lắng về ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6,34).
Cuộc sống hiện tại với bao nhiêu mới mẻ, hấp dẫn khiến mình phải chạy đua với thời gian, với model của thời đại và ước muốn hoàn thiện bản thân. Mà muốn thành công trong một lĩnh vực nào đó, là cả một quá trình. Vậy mà mình muốn đạt được ngay. Thế là cứ lo nghĩ, dự định với kế hoạch mà không đủ can đảm thực hiện nó trong giây phút hiện tại và như thế ngày nào cũng bận tâm lo nghĩ về tương lai chỉ thêm chán nản.
Cuộc sống luôn đòi hỏi mỗi người chúng ta ở việc học, cách sống, sự an toàn, sự chia sẻ, sự cảm thông, khả năng yêu thương đối với tha nhân. Tại sao mình không chịu bắt tay vào những công việc đó ngay trong những giây phút này? Như thế có tốt hơn chăng hay cứ hoài lo âu nghĩ ngợi!
Lạy Chúa, mải loay hoay với những tính toán cho tương lai mà con quên mất mình đang sống ở đâu và phải làm gì. Xin Chúa cho con can đảm sống tốt giây phút hiện tại với Chúa, với anh em và chính bản thân con.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin chọn Chúa là gia nghiệp đời con. Vì chỉ nơi Chúa mà chúng con mới có sự sống đời đời. Xin Mình Thánh Chúa nâng đỡ những yếu đuối, nhẹ dạ nơi bản tính loài người chúng con. Xin giúp chúng con vượt thắng những cạm bẫy của thế gian để hồn xác chúng con mãi mãi thuộc trọn về Chúa.
Nhưng Chúa ơi! Ở đời người ta cần công danh. Ở đời người ta chuộng sự giàu có. Chúng con cũng nhiều lần chạy theo những danh lợi thú trần gian. Chúng con đã để tâm tìm kiếm của phù hoa mà quên đi hạnh phúc thiên đàng. Chúng con tin Chúa nhưng lại chưa thờ Chúa trên hết mọi sự. Chúng con chưa thực sự phó thác đời mình cho Chúa. Chúng con còn lắm bon chen để tìm kiếm danh lợi thú trần gian. Chúng con thích tích góp của cải hơn là tích đức đời sau. Chúng con lao tâm khổ trí vì của ăn mau hư nát hơn là giá trị vĩnh cửu Nước Trời.
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, xin giúp chúng con biết yêu mến Chúa hơn mọi sự trần gian. Xin loại trừ nơi chúng con những quyến luyến của đam mê tội lỗi, lầm lạc. Xin cho chúng con luôn được trung thành phụng sự Chúa hết cuộc đời. Amen
———————————————————————————–
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
ƯU TIÊN TÌM KIẾM NƯỚC TRỜI- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô suy niệm câu chuyện Phúc âm ‘ ông nhà giàu và Lazarô’: “Chúng ta hãy để câu chuyện đầy ý nghĩa này gợi hứng cho chúng ta, vì nó cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu chúng ta cần phải làm gì để có được hạnh phúc thật và được sống đời đời. Dụ ngôn ấy khuyên chúng ta thành tâm hoán cải”.
Thánh Tông đồ Phaolô nói với chúng ta rằng “lòng ham mê tiền bạc là cội rễ sinh ra mọi điều ác” (1 Tim 6,10). Đây là nguyên nhân chính của sự đồi bại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và nghi ngờ. Đồng tiền có thể đi đến thống trị chúng ta, đến mức trở thành một thần tượng độc tài (x. Evangelii Gaudium, 55). Thay vì là một công cụ giúp chúng ta làm điều thiện và bày tỏ tình liên đới với người khác, tiền bạc lại có thể trói buộc chúng ta và cả thế giới vào một thứ luận lý ích kỷ chẳng còn chỗ cho tình yêu và cản trở hoà bình…
Đối với những kẻ bị thói ham mê của cải làm cho sa đọa, ngoài cái tôi của họ ra, chẳng có gì tồn tại. Những người xung quanh họ ở ngoài tầm mắt của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền bạc là một thứ mù lòa. Người giàu có không nhìn thấy người nghèo, người đói khát, người bị thương, người nằm ở cửa nhà mình. Nhìn vào nhân vật này, chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm quyết liệt lên án thói ham mê tiền bạc: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc ghét chủ này và yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này và khinh chê chủ nọ. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc được” (Mt 6,24). (Sứ điệp số 2).
Sức mạnh của tiền bạc thật là khủng khiếp. Chúa Giêsu so sánh nó như một ông chủ có khả năng cạnh tranh với chính Thiên Chúa: “Không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16, 13). Việc tôn thờ tiền bạc không xứng hợp với việc phụng sự Thiên Chúa vì “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng trí anh ở đó”.
Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”. Lời dạy của Chúa Giêsu thật hợp lý. Nếu chúng ta chọn Thiên Chúa, mặc nhiên, Thiên Chúa là chủ của mình, còn chúng ta chọn tiền của, thì mặc nhiên tiền của là chủ của chúng ta. Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu, còn tiền bạc chỉ là phù vân tạm bợ. Phải lựa chọn một trong hai. Không được bắt cá hai tay. Tiền bạc luôn luôn là ông chủ xấu nhưng có thể là một người tôi tớ tốt. Nhưng bằng cách nào ta có thể bắt nó làm tôi tớ mình được?
1.-Giáo huấn của Chúa Giêsu đối với tiền của.
Chúa Giêsu không phi bác tiền của, không phê phán sự giàu sang, cũng không bác bỏ người giàu. Ngài chỉ nhắc nhở thái độ phải có đối với tiền của và cảnh cáo, phê phán những người giàu trong việc sử dụng tiền của.
Tiền của tự nó không xấu. Xấu hay tốt là tuỳ ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Chúa Giêsu lên án sự ham mê tiền của, coi đó như tất cả cuộc sống, đến nỗi dành hết sức lực, thời gian, trí tuệ để cố chiếm hữu thật nhiều; thậm chí bán rẻ cả lương tri, phẩm giá con người. Tiền của trở thành thần tượng và chiếm chỗ độc tôn trong lòng người. Ngài kết án những người vì đồng tiền mà sống bất công, lừa thầy phản bạn, coi thường mạng sống và danh phẩm người khác. Ngài còn phê phán chỉ trích những người giàu sang chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc và sống ích kỷ hưởng thụ.
Tiền của là phương tiện tốt nếu được dùng để làm điều thiện, giúp đỡ người thiếu thốn, phục vụ khoa học vì những mục đích tốt. Chỉ có cách đó mới làm cho người ta không làm tôi của cải. Lòng tham lam, việc tích trữ của cải là mối nguy hiểm lớn cản trở con đường tìm kiếm Nước Trời và đưa ta xa rời Thiên Chúa. Người thanh niên giàu có được mời gọi bán tất cả của cải tài sản để đi theo Chúa đã buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh: “Người giàu có vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Vì thế không lạ gì thái độ cương quyết của Chúa Giêsu là đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát: “Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của”.
Chúa Giêsu luôn đứng về phía người nghèo và bênh vực kẻ cô thế. Ngài sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo. Ngài chọn các môn đệ giữa số những người nghèo. Ngài hằng quan tâm, yêu thương vỗ về những người nghèo và tuyên bố mối phúc đầu trong bát phúc: “Phúc cho những người nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Lc 6,20; Mt 5,3). Yêu người nghèo, nhưng Chúa Giêsu không hề kết án người giàu và tẩy chay sự giàu có. Ngài ân cần tiếp đón và đối thoại với người giàu, sẵn sàng đến dùng bữa với họ khi được mời; Ngài để cho những phụ nữ giàu có đi theo giúp đỡ trong hành trình sứ vụ. Tuy nhiên, Ngài nặng lời chỉ trích những người giàu chỉ biết bám víu vào tiền của, sống ích kỷ hưởng thụ bỏ mặc người nghèo đói cơ cực (x. Lc 16,19-31), làm giàu cách bất lương, ỷ vào tiền của mà khinh dễ kẻ khác.
2.- Ưu tiên tìm kiếm Nước Trời
“Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đời sống công chính như Người đòi hỏi”.
Ưu tiên hàng đầu của người môn đệ Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa. Mọi sự khác cũng cần thiết nhưng không được đặt lên trên Nước Thiên Chúa. Phải dành ưu tiên cho Nước Thiên Chúa, rồi mới đến các thứ khác. Đây là vấn đề giá trị khi chọn lựa. Thế gian thường lấy của cải vật chất làm ưu tiên số một và cho rằng của cải giàu sang sẽ giải quyết được mọi vấn đề của xã hội và của con người. Con cái Chúa thì sẵn sàng từ bỏ tất cả để tìm kiếm Chúa và phụng sự một mình Chúa. Có Chúa là có tất cả; khi không còn gì nhưng còn có Chúa là còn tất cả vì Ngài là lẽ sống. Khi đã chọn Chúa, ắt sẽ biết sử dụng tiền của và tất cả những gì Chúa ban để phụng sự Ngài và Giáo hội qua việc phục vụ anh em đồng loại. Sống theo ưu tiên đó, người Kitô hữu sẽ không nô lệ vật chất, sẽ không bán rẻ lương tâm vì tiền của, sẽ coi trọng con người hơn của cải và đặt các giá trị luân lý đạo đức lên trên các giá trị vật chất. Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa yêu thương cùng lo cho họ và với họ, và chỉ có Ngài mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước.
3.- Tin tưởng vào ơn Quan Phòng của Thiên Chúa
Đấng Tạo Hóa ân cần chăm lo cho các loài thụ tạo đã được khẳng định trong nhiều bản văn Thánh kinh. Chúa Giêsu dùng ba ví dụ rất nên thơ gợi cảm nói về sự quan phòng. Chim trời không gieo, không gặt nhưng chúng vẫn được Cha trên trời nuôi sống; cuộc đời của mỗi người có một quảng thời gian nhất định sống ở trần gian này, điều đó ta không thay đổi được, dù có lo lắng cũng chẳng kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc; hoa huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà dù vua Salomon vinh hoa tột bậc cũng không mặc đẹp bằng nó. Kết luận của ba ví dụ là: nếu như Thiên Chúa quan tâm nuôi sống chim trời và ban áo mặc cho hoa đồng cỏ nội, thì lẽ nào Chúa lại không lo lắng cho con người hơn gấp bội sao? Kết thúc bài giảng, Chúa Giêsu tuyên bố: “Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó“. Tin cậy vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ được hưởng những quan tâm của Cha trên trời.
Thiên Chúa ban cho con người của cải vật chất để sống, thăng tiến, phát triển và phục vụ tha nhân. Giá trị tiền của hệ tại con người biết sử dụng cách đúng đắn như phương tiện phục vụ anh em để đạt tới Nước Trời là hạnh phúc đích thực.
Xã hội càng phát triển thì sẽ có những người làm ăn giỏi và giàu lên. Họ phải đóng góp phúc lợi cộng đồng nhiều hơn. Những người làm giàu bằng con đường lương thiện, chân chính không có gì đáng phải chê bai hay công kích họ, đôi khi còn phải cảm phục ý chí, tài năng của họ. Nhất là khi họ không phải là quan chức (xã hội càng bất ổn các quan càng dễ làm giàu) mà họ làm giàu được trong thời buổi kinh tế suy thoái, với xã hội nhiễu nhương, bất ổn này thì càng đáng nể hơn. Và nếu họ minh bạch hóa được sự giàu có của mình thì cả xã hội sẽ “tâm phục, khẩu phục” tài năng của họ, thật sự kính trọng họ.
Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm 6,17-18).
Tiền của chỉ là việc nhỏ sánh với việc lớn là Nước Trời. Tiền của giàu sang nơi trần gian chỉ là tạm bợ, không thể tạo hạnh phúc đích thực cho con người; ngược lại nó làm con người vong thân khi bị nó chiếm hữu, và lúc ấy nó sẽ là chủ nhân ông và con người sẽ biến thành tôi tớ. Vậy nếu ở đời này, con người biết sử dụng tiền của tạm bợ cách tốt đẹp, họ sẽ được trao phó của cải vĩnh cửu trên trời.
Tiền của có thể trở thành phương tiện giúp đạt tới đích là Nước Trời, nhưng cũng có nguy cơ đẩy người ta ra xa Chúa để tìm kiếm những sự thuộc thế gian. Do đó, điều quan trọng là phải biết sử dụng tiền của như phương thế đạt Nước Trời. Chúa Giêsu muốn các môn đệ phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay. Người bắt cá hai tay bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất.
Lạy Chúa, xin cho con biết chọn Chúa là đối tượng duy nhất của lòng trí con. Amen. Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô suy niệm câu chuyện Phúc âm ‘ ông nhà giàu và Lazarô’: “Chúng ta hãy để câu chuyện đầy ý nghĩa này gợi hứng cho chúng ta, vì nó cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu chúng ta cần phải làm gì để có được hạnh phúc thật và được sống đời đời. Dụ ngôn ấy khuyên chúng ta thành tâm hoán cải”.
Thánh Tông đồ Phaolô nói với chúng ta rằng “lòng ham mê tiền bạc là cội rễ sinh ra mọi điều ác” (1 Tim 6,10). Đây là nguyên nhân chính của sự đồi bại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và nghi ngờ. Đồng tiền có thể đi đến thống trị chúng ta, đến mức trở thành một thần tượng độc tài (x. Evangelii Gaudium, 55). Thay vì là một công cụ giúp chúng ta làm điều thiện và bày tỏ tình liên đới với người khác, tiền bạc lại có thể trói buộc chúng ta và cả thế giới vào một thứ luận lý ích kỷ chẳng còn chỗ cho tình yêu và cản trở hoà bình…
Đối với những kẻ bị thói ham mê của cải làm cho sa đọa, ngoài cái tôi của họ ra, chẳng có gì tồn tại. Những người xung quanh họ ở ngoài tầm mắt của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền bạc là một thứ mù lòa. Người giàu có không nhìn thấy người nghèo, người đói khát, người bị thương, người nằm ở cửa nhà mình. Nhìn vào nhân vật này, chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm quyết liệt lên án thói ham mê tiền bạc: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc ghét chủ này và yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này và khinh chê chủ nọ. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc được” (Mt 6,24). (Sứ điệp số 2).
Sức mạnh của tiền bạc thật là khủng khiếp. Chúa Giêsu so sánh nó như một ông chủ có khả năng cạnh tranh với chính Thiên Chúa: “Không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16, 13). Việc tôn thờ tiền bạc không xứng hợp với việc phụng sự Thiên Chúa vì “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng trí anh ở đó”.
Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”. Lời dạy của Chúa Giêsu thật hợp lý. Nếu chúng ta chọn Thiên Chúa, mặc nhiên, Thiên Chúa là chủ của mình, còn chúng ta chọn tiền của, thì mặc nhiên tiền của là chủ của chúng ta. Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu, còn tiền bạc chỉ là phù vân tạm bợ. Phải lựa chọn một trong hai. Không được bắt cá hai tay. Tiền bạc luôn luôn là ông chủ xấu nhưng có thể là một người tôi tớ tốt. Nhưng bằng cách nào ta có thể bắt nó làm tôi tớ mình được?
Giáo huấn của Chúa Giêsu đối với tiền của.
Chúa Giêsu không phi bác tiền của, không phê phán sự giàu sang, cũng không bác bỏ người giàu. Ngài chỉ nhắc nhở thái độ phải có đối với tiền của và cảnh cáo, phê phán những người giàu trong việc sử dụng tiền của.
Tiền của tự nó không xấu. Xấu hay tốt là tuỳ ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Chúa Giêsu lên án sự ham mê tiền của, coi đó như tất cả cuộc sống, đến nỗi dành hết sức lực, thời gian, trí tuệ để cố chiếm hữu thật nhiều; thậm chí bán rẻ cả lương tri, phẩm giá con người. Tiền của trở thành thần tượng và chiếm chỗ độc tôn trong lòng người. Ngài kết án những người vì đồng tiền mà sống bất công, lừa thầy phản bạn, coi thường mạng sống và danh phẩm người khác. Ngài còn phê phán chỉ trích những người giàu sang chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc và sống ích kỷ hưởng thụ.
Tiền của là phương tiện tốt nếu được dùng để làm điều thiện, giúp đỡ người thiếu thốn, phục vụ khoa học vì những mục đích tốt. Chỉ có cách đó mới làm cho người ta không làm tôi của cải. Lòng tham lam, việc tích trữ của cải là mối nguy hiểm lớn cản trở con đường tìm kiếm Nước Trời và đưa ta xa rời Thiên Chúa. Người thanh niên giàu có được mời gọi bán tất cả của cải tài sản để đi theo Chúa đã buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh: “Người giàu có vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Vì thế không lạ gì thái độ cương quyết của Chúa Giêsu là đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát: “Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của”.
Chúa Giêsu luôn đứng về phía người nghèo và bênh vực kẻ cô thế. Ngài sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo. Ngài chọn các môn đệ giữa số những người nghèo. Ngài hằng quan tâm, yêu thương vỗ về những người nghèo và tuyên bố mối phúc đầu trong bát phúc: “Phúc cho những người nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Lc 6,20; Mt 5,3). Yêu người nghèo, nhưng Chúa Giêsu không hề kết án người giàu và tẩy chay sự giàu có. Ngài ân cần tiếp đón và đối thoại với người giàu, sẵn sàng đến dùng bữa với họ khi được mời; Ngài để cho những phụ nữ giàu có đi theo giúp đỡ trong hành trình sứ vụ. Tuy nhiên, Ngài nặng lời chỉ trích những người giàu chỉ biết bám víu vào tiền của, sống ích kỷ hưởng thụ bỏ mặc người nghèo đói cơ cực (x. Lc 16,19-31), làm giàu cách bất lương, ỷ vào tiền của mà khinh dễ kẻ khác.
Ưu tiên tìm kiếm Nước Trời
“Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đời sống công chính như Người đòi hỏi”.
Ưu tiên hàng đầu của người môn đệ Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa. Mọi sự khác cũng cần thiết nhưng không được đặt lên trên Nước Thiên Chúa. Phải dành ưu tiên cho Nước Thiên Chúa, rồi mới đến các thứ khác. Đây là vấn đề giá trị khi chọn lựa. Thế gian thường lấy của cải vật chất làm ưu tiên số một và cho rằng của cải giàu sang sẽ giải quyết được mọi vấn đề của xã hội và của con người. Con cái Chúa thì sẵn sàng từ bỏ tất cả để tìm kiếm Chúa và phụng sự một mình Chúa. Có Chúa là có tất cả; khi không còn gì nhưng còn có Chúa là còn tất cả vì Ngài là lẽ sống. Khi đã chọn Chúa, ắt sẽ biết sử dụng tiền của và tất cả những gì Chúa ban để phụng sự Ngài và Giáo hội qua việc phục vụ anh em đồng loại. Sống theo ưu tiên đó, người Kitô hữu sẽ không nô lệ vật chất, sẽ không bán rẻ lương tâm vì tiền của, sẽ coi trọng con người hơn của cải và đặt các giá trị luân lý đạo đức lên trên các giá trị vật chất. Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa yêu thương cùng lo cho họ và với họ, và chỉ có Ngài mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước.
Tin tưởng vào ơn Quan Phòng của Thiên Chúa
Đấng Tạo Hóa ân cần chăm lo cho các loài thụ tạo đã được khẳng định trong nhiều bản văn Thánh kinh. Chúa Giêsu dùng ba ví dụ rất nên thơ gợi cảm nói về sự quan phòng. Chim trời không gieo, không gặt nhưng chúng vẫn được Cha trên trời nuôi sống; cuộc đời của mỗi người có một quảng thời gian nhất định sống ở trần gian này, điều đó ta không thay đổi được, dù có lo lắng cũng chẳng kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc; hoa huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà dù vua Salomon vinh hoa tột bậc cũng không mặc đẹp bằng nó. Kết luận của ba ví dụ là: nếu như Thiên Chúa quan tâm nuôi sống chim trời và ban áo mặc cho hoa đồng cỏ nội, thì lẽ nào Chúa lại không lo lắng cho con người hơn gấp bội sao? Kết thúc bài giảng, Chúa Giêsu tuyên bố: “Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó“. Tin cậy vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ được hưởng những quan tâm của Cha trên trời.
Thiên Chúa ban cho con người của cải vật chất để sống, thăng tiến, phát triển và phục vụ tha nhân. Giá trị tiền của hệ tại con người biết sử dụng cách đúng đắn như phương tiện phục vụ anh em để đạt tới Nước Trời là hạnh phúc đích thực.
Xã hội càng phát triển thì sẽ có những người làm ăn giỏi và giàu lên. Họ phải đóng góp phúc lợi cộng đồng nhiều hơn. Những người làm giàu bằng con đường lương thiện, chân chính không có gì đáng phải chê bai hay công kích họ, đôi khi còn phải cảm phục ý chí, tài năng của họ. Nhất là khi họ không phải là quan chức (xã hội càng bất ổn các quan càng dễ làm giàu) mà họ làm giàu được trong thời buổi kinh tế suy thoái, với xã hội nhiễu nhương, bất ổn này thì càng đáng nể hơn. Và nếu họ minh bạch hóa được sự giàu có của mình thì cả xã hội sẽ “tâm phục, khẩu phục” tài năng của họ, thật sự kính trọng họ.
Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm 6,17-18).
Tiền của chỉ là việc nhỏ sánh với việc lớn là Nước Trời. Tiền của giàu sang nơi trần gian chỉ là tạm bợ, không thể tạo hạnh phúc đích thực cho con người; ngược lại nó làm con người vong thân khi bị nó chiếm hữu, và lúc ấy nó sẽ là chủ nhân ông và con người sẽ biến thành tôi tớ. Vậy nếu ở đời này, con người biết sử dụng tiền của tạm bợ cách tốt đẹp, họ sẽ được trao phó của cải vĩnh cửu trên trời.
Tiền của có thể trở thành phương tiện giúp đạt tới đích là Nước Trời, nhưng cũng có nguy cơ đẩy người ta ra xa Chúa để tìm kiếm những sự thuộc thế gian. Do đó, điều quan trọng là phải biết sử dụng tiền của như phương thế đạt Nước Trời. Chúa Giêsu muốn các môn đệ phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay. Người bắt cá hai tay bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất.
Lạy Chúa, xin cho con biết chọn Chúa là đối tượng duy nhất của lòng trí con. Amen.
————————————————————-
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN- NĂM A
HÃY ĐỂ CHÚA CHĂM SÓC- Trích Logos A
Có một câu chuyện diễn tả tình mẹ thương con như sau: một bà mẹ kia có một đứa con hư hỏng. Nó hư hỏng từ bé, chẳng chịu học hành, chỉ phá làng phá xóm. Lớn lên, nó chẳng có nghề nghiệp gì trong tay, tối ngày lêu lổng, lại thêm tật uống rượu say sưa. Ăn chơi quá sinh ra thói trộm cắp đến độ trong nhà mọi đồ vật có chút giá trị đều lần lượt không cánh mà bay. Cuối cùng, nó bị bắt sau một vụ trộm cướp. Hàng xóm nhẹ nhõm từ ngày nó vào tù. Thế nhưng, bà mẹ lại thêm khổ vì hàng tuần, bà đều đi thăm nuôi con, nhịn ăn nhịn mặc để có tiền nuôi con trong tù. Hàng xóm thấy vậy nói : “Nó đã làm khổ bà suốt đời, bà còn thăm nó làm gì, để nó khổ cho sáng mắt nó ra !”. Bà ngậm ngùi trả lời : “Nó làm khổ tôi thật, nhưng nó là con tôi, làm sao tôi bỏ nó được !”.
Mẹ cha đời này mà còn không thể bỏ con thì Thiên Chúa là Đấng dựng nên tình phụ tử – mẫu tử làm sao có thể bỏ loài người do yêu thương Chúa đã dựng nên. Vậy, ta hãy để Chúa được thỏa lòng chăm sóc cho ta.
Trong mọi hoàn cảnh, ta luôn cần Chúa chăm sóc.
Dù khỏe mạnh hay đau ốm, ta luôn cần Chúa chăm sóc. Người khỏe mà không được Chúa dìu dắt, dễ sinh ra thái độ nhẫn tâm trước kẻ đau ốm. Người khỏe mà không được Chúa uốn nắn dễ thành kẻ lạm dụng sức khỏe mà làm chuyện hại người, bắt nạt kẻ yếu, hống hách tàn ác. Người ốm đau mà không được Chúa an ủi dễ sinh ra thất vọng, mặc cảm. Kẻ tật nguyền mà không được Chúa hướng dẫn dễ sinh ra khó tính, khó nết, cuộc đời trở nên khốn khổ và làm khổ người khác. Dù mạnh khỏe hay ốm đau, ta hãy để Chúa chăm sóc cho.
Dù giầu có hay khó nghèo, ta luôn cần Chúa chăm sóc. Giầu có mà không có tinh thần khó nghèo của Chúa sẽ sinh ra ích kỷ, hống hách, kiêu căng. Người nghèo mà không cậy trông vào Chúa sẽ dễ gian tham trộm cắp. Nghèo vật chất dẫn đến nghèo tinh thần, nghèo lòng tự trọng, nghèo đức hiếu thảo, mất tình nghĩa anh em. Dù giầu có hay khó nghèo, ta hãy để Chúa chăm sóc cho.
Dù đứng vững hay đang sa ngã, ta luôn cần Chúa chăm sóc. Người đang sống tử tế vẫn cần được chăm sóc. Chín mươi chín con chiên không bị lạc vẫn cần được người mục tử quan tâm để mắt từng giây. Ma quỷ như đàn sói tinh khôn rình rập, chỉ cần rời xa mục tử, nguy cơ sẽ ập đến ngay. Rồi khi lỡ lầm sa ngã, hơn bao giờ hết ta cần Chúa đỡ nâng vực dậy bằng các bí tích, bổ sức bằng Lời Chúa và Thánh Thể. Bất cứ trong tình trạng nào, ta hãy để Chúa chăm sóc, vì cám dỗ chẳng bỏ sót một ai.
Khi đầy đủ, ta dễ cảm thấy an toàn và không cần Chúa nữa.
Tại các nước văn minh tiên tiến, sự dư thừa về vật chất, sự an toàn trần gian dễ làm cho con người gạt Chúa ra khỏi cuộc sống. Trong Tin Mừng có dụ ngôn nhà phú hộ giầu có. Sau khi xây những kho lẫm lớn để cất chứa hoa mầu dư dật, ông cảm thấy an tâm. Của cải nhiều năm tiêu xài không hết, chẳng phải lo lắng gì nữa, ông dự tính nghỉ ngơi an hưởng của cải cho sướng. Chúa kết luận ông ta đúng là đồ ngốc ! Ngốc vì sự an toàn giả tạo đó dẫn ông ta đến thái độ thiển cận (x Lc 12, 16 – 21). Cuộc sống đâu chỉ có 100 năm nhưng kéo dài đến vĩnh cửu. Thiện hảo đời này là của cải, sức khỏe, tài năng … như cái bẫy : nó làm con người mờ mắt không trông xa tới vĩnh cửu ; nó như tiết ra một độc tố làm tê liệt đời sống tinh thần của người đang sở hữu nó.
Cuộc đời của Thánh Phanxicô Xaviê đã minh họa cho điều này. Danh – lợi – thú đời này đang trong tay, Phanxicô Xaviê cảm thấy thỏa lòng và ngày càng lao theo nó như là cùng đích đời mình. May mà có Inhaxiô, ông bạn già tốt bụng mà đạo đức đã kéo Phanxicô Xaviê ra khỏi cái bẫy trần gian đó bằng Lời Chúa : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì”. Chúa vẫn chăm sóc Phanxicô Xaviê khi ông quên Chúa. Chúa nhờ bạn bè chuyển “thuốc thiêng liêng” là Lời Chúa làm cho đời sống thiêng liêng của ông tỉnh lại.
Khi thiếu thốn dễ làm ta bận tâm và quên Chúa.
Cuộc sống xã hội ngày càng nâng cao, nhu cầu càng lớn khiến người ta phải nỗ lực để thỏa mãn nhu cầu và càng phải bon chen để sống. Phấn đấu vươn lên đến độ đạp đổ lương tâm, đạp đổ lòng tự trọng, đạp đổ tình nghĩa … là kiểu phấn đấu mất phương hướng. Biết bao người vì cần tiền mà lao vào những nghề vô luân, biết bao người vì quý tấc đất mà kiện cha cáo mẹ, biết bao người vì bảo vệ địa vị mà lừa thầy phản bạn … Cuộc sống đúng là “bần cùng sinh đạo tặc”. Không rèn luyện cho mình một đức tin mạnh, một lương tâm ngay chính, luôn quý trọng phẩm giá con Chúa … dễ dẫn ta đến tình trạng được đời này mà mất đời sau.
Người ta thường dựa vào câu nói: “Có thực mới vực được đạo” để biện hộ cho thái độ bê trễ việc đạo đức. Lúc con người gặp khó khăn là lúc con người cần đến Chúa nhất. “Hỡi những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho”. Lời Chúa dạy ta lẽ khôn ngoan giữa một xã hội hôm nay nhiều áp lực.
Người ta kể rằng: có một người mẹ góa tay cắp nách mang chín người con. Hằng ngày bà mẹ đi giặt mướn kiếm tiền nuôi con. Đến trưa về nhà lo cho con ăn uống và không quên dành ít phút đến nhà thờ trước giờ làm việc ban chiều. Người hàng xóm thấy vậy dè bỉu : “Khốn nạn ! Chín đứa con không lo lại còn bày vẽ đọc kinh cầu nguyện !”. Bà giải thích : “Tôi không thể vừa nuôi vừa dạy nổi chín đứa con. Tôi cần đến với Chúa, xin Chúa dạy dỗ và che chở cho các con tôi khi tôi vắng nhà”. Nhờ cậy trông mà hơn nửa số con bà người là Hồng Y, người là Giám Mục, người là Linh Mục, người là Nữ tu.
Sa ngã biết cậy trông ai.
Tình trạng sa ngã là tình trạng đáng thương nhất. Khi đó, đa số mọi người nhìn ta bằng nửa con mắt. Chúng ta phải nhận định cách công bình rằng : Con người phải trả giá cho sự lầm lỗi của mình. Lỗi lầm của ta đã đập vào mắt thiên hạ thì không thể bắt thiên hạ một sớm một chiều nghĩ tốt về ta ngay được. Đây là thời gian thử thách. Khi đó, chỗ dựa duy nhất của ta là Chúa, Đấng đã thấu suốt thành ý của ta và có muôn cách đỡ nâng ta dù mọi người chưa hiểu ta.
Sa ngã thường làm ta bi quan, chán nản, muốn xa lánh mọi người và ngại gặp cả Chúa. Đó là phản ứng tự nhiên như Ađam trốn Chúa sau khi trái lệnh Chúa. Tuy thế, đây là lúc cần gặp Chúa nhất như bệnh nhân cần gặp thầy thuốc và cần đến bệnh viện. Khi tâm hồn ta đang thương tích, hãy để Chúa chăm sóc cho ta ; hãy để Chúa dùng quyền năng và tình yêu của Ngài gọi linh hồn ta thức dậy như Chúa đã gọi anh Lazarô sống lại từ cõi chết.
Thánh Augustinô đã có kinh nghiệm tuyệt vời về tình yêu Chúa, Ngài khuyên chúng ta :
“Hãy đặt quá khứ của ta vào lòng thương xót của Chúa ; Hãy đặt hiện tại của ta vào tình yêu của Chúa và hãy đặt tương lai của ta vào sự quan phòng của Chúa để Chúa chăm sóc. Đó là chúng ta đang làm thỏa lòng Thiên Chúa là Tình Yêu”.






















![[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh cha Lêô XIV gặp gỡ giới trẻ và các gia đình tại sân vận động Bata](https://www.giaophanbaria.org/wp-content/uploads/2026/04/33c703de-3db6-4a1a-a927-1b75ad80c6ba-90x60.webp)
![[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh cha Lêô XIV gặp gỡ giới trẻ và các gia đình tại sân vận động Bata](https://www.giaophanbaria.org/wp-content/uploads/2026/04/33c703de-3db6-4a1a-a927-1b75ad80c6ba-180x120.webp)
![[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh Cha thăm nhà tù Bata: Không ai bị loại trừ khỏi tình yêu của Thiên Chúa](https://www.giaophanbaria.org/wp-content/uploads/2026/04/060f1e35-9d47-4d2e-a643-5a3c46920bd0-90x60.webp)
![[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh Cha thăm nhà tù Bata: Không ai bị loại trừ khỏi tình yêu của Thiên Chúa](https://www.giaophanbaria.org/wp-content/uploads/2026/04/060f1e35-9d47-4d2e-a643-5a3c46920bd0-180x120.webp)



