CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973 2
MUỐI & ÁNH SÁNG – Chú giải của Noel Quesson. 5
MUỐI CHO ĐỜI- ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 13
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG– Lm. Inhaxiô Hồ Thông (*). 16
ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI– Fiches Dominicales. 26
SỨ MẠNG NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 34
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 44
NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ- Lm FX Vũ Phan Long, ofm.. 59
NGƯỜI KITÔ HỮU LÀ MUỐI ĐẤT VÀ LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 67
“ĐỪNG THÍCH LÀM MẶT TRỜI”- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 72
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- Trích Logos A.. 77
————————————————————————————–
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A
BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973
BÀI ÐỌC I: Is 58, 7-10
“Sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Này đây Chúa phán: “Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi. Như thế, sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành nhanh chóng; công lý của ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn cho ngươi. Như thế, ngươi gọi, Chúa sẽ trả lời; ngươi la lên, Chúa sẽ phán: “Này Ta đây”. Nếu ngươi loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích, thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 111, 4-5. 6-7. 8a và 9
Ðáp: Trong u tối người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay (c. 4a).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Trong u tối, người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công chính. Phước đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. – Ðáp.
2) Cho tới đời đời người sẽ không nao núng: người hiền đức sẽ được ghi nhớ muôn đời. Người không kinh hãi vì nghe tin buồn thảm, lòng người vững vàng cậy trông vào Chúa. – Ðáp.
3) Lòng người kiên nghị, người không kinh hãi, người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. – Ðáp.
BÀI ÐỌC II: 1 Cr 2, 1-5
“Tôi đã công bố cho anh em bằng chứng của Chúa Kitô chịu đóng đinh”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, phần tôi, khi tôi đến với anh em, tôi không đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan; tôi đến công bố bằng chứng của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi, chính trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy mà tôi đã đến với anh em; lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
ALLELUIA: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là ánh sáng thế gian; ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 5, 13-16
“Các con là sự Sáng thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn sử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.
“Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.
Ðó là lời Chúa.
———————————————————
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN- NĂM A
MUỐI & ÁNH SÁNG – Chú giải của Noel Quesson
Bài giảng trên Núi đã bắt đầu từ Chúa nhật vừa qua bởi các mối Phúc thật sẽ được tiếp tục trong năm Chúa nhật. Matthêu đã tập họp ở đây những lời dạy của Đức Giêsu mà Maccô và Luca đã đặt vào những bối cảnh khác. Đó là dấu chỉ người ta có thể đưa ra những lời giải thích khác nhau. Những lời dạy của Đức Giêsu thường khá mở rộng để đón nhận nhiều ý nghĩa khác nhau.
“Chính anh em là muối cho đời”
Đức Giêsu nói với những người sống theo các mối phúc Người nghèo khó, người hiền lành, người xây dựng Hoà bình, người bị bách hại.. “chính anh em là muối cho Đời. Hình ảnh này gợi cảm và rất cởi mở, có thể đón nhận nhiều ý nghĩa bổ sung. Vào thời của Đức Giêsu, muối dùng để làm cho đất màu mỡ, dĩ nhiên có trộn với phân bón… Như một loại phân bón để mùa màng được tươi tốt. Ngày hôm nay, muối luôn luôn dùng để bảo quản thực phẩm… nó ngăn cản hoặc làm chậm lại sự phân hủy. Nhưng vai trò thông thường nhất của muối là đem lại hương vị: có muối, ngon đấy… không có muối, tất cả thành nhạt nhẽo.
Đức tin dùng để làm gì? Liệu tin vào Đức Giêsu và sống các mối Phúc thật có thay đổi gì không? Đức Giêsu trả lời: “Đem lại hương vị cho đời?”
Con người hiện đại, còn hơn cả con người của các thời đại trước đây bị chìm ngập trong sự tầm thường và buồn chán mỗi ngày: những cử chỉ máy móc và vô vị của công nhân làm việc theo dây chuyền… những khuôn mặt nhợt nhạt dưới ánh sáng đèn những… những đồ vật được tiêu chuẩn hóa ‘bằng nhựa dẻo…” sự nhạt nhẽo trong rất nhiều câu chuyện trao đổi thường ngày… sự cào bằng trước những ý thức hệ… Đời sống có còn thú vị gì không? Nếu người ta nói nhiều về “chất lượng đời sống” thì một cách chính xác chẳng phải người ta đã đánh mất chất lượng ấy hay sao?
Chính trong bối cảnh hiện tại này mà NGÀY HÔM NAY Đức Giêsu lại nói với chúng ta: chính anh em là muối cho đời! Anh em hãy đem niềm vui, sự táo bạo, nhiệt tình vào cái tầm thường mỗi ngày. Anh em hãy đem ý nghĩa đến cho những thực tế, thông thường có nguy cơ trở thành nhạt nhẽo. Anh em hãy đặt Nước Thiên Chúa vào trong các thực tế ấy. Anh em hãy thách đố mọi chủ nghĩa vô thần hiện đại đã bắt đầu loại bỏ đi “khả đăng siêu việt”, tức là muối, của nhân loại… để rồi sau đó không ngừng tuyên bố rằng đời sống là “phi lý” và không có ý nghĩa. Với Đức Giêsu mọi sự đâu có thể mang một ý nghĩa, một “hương vị”; dù là sự đau khổ, sự bách hại, cả cái già và cái chết, sự thất bại cũng xây dựng. Một nhà hiền triết đã viết như thế. Rên rỉ để làm gì? Ai sẽ nói giá trị mầu nhiệm và huyền diệu của thử thách đời sống trong sự hiệp thông với Đức Giêsu?
“Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy cái gì muối cho nó mặn lại? nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi”.
Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Người phải “chính thống” không trở thành nhạt nhẽo. Một Kitô hữu đã đánh mất “mùi vị Thiên Chúa”, mùi vị đích thực duy nhất sẽ trở thành vô dụng “Tin Mừng chính là muối, và các bạn sẽ làm ra đường từ muối đó”. Paul Claudel đã cao rao như thế.
Đức Giêsu mạnh mẽ cảnh báo chúng ta: sau một thời gian sống quảng đại và ác liệt, đức tin của chúng ta có thể bị biến chất. Động từ mà chúng ta dịch là “nhạt đi” hay biến chất cũng có nghĩa “trở nên mất trí”… đánh mất lương tri trở thành điên đại! Theo nghĩa của Kinh Thánh…nghĩa là đánh mất. sự khôn ngoan mà đức tin vào Thiên Chúa ban cho (Is 19,11). Thánh Phaolô cũng đồng hóa “muối” với “sự khôn ngoan”: “Anh em hãy ăn ở khôn ngoan. Lời nói của anh em phải luôn luôn mặn mà dễ thương” (Cl 4, 5-6).
Nếu chúng ta trở nên quá vô vị, đó là vì chúng ta đã để cho sức mạnh ăn mòn của muối trong Tin Mừng yếu đi trong đời sống chúng ta. Nếu muối nhạt đi.. Tôi phải đối với giả thiết ấy cho tôi và đời sống của riêng tôi. Nếu mọi Kitô hữu không còn là muối nữa thì người ấy trở nên vô dụng, Người Kitô hữu “con tắc kè” chấp nhận mọi phương thức và mọi tâm thức của thế gian, mặc lấy màu sắc của môi trường người ấy sống, và trở nên vô dụng. “Tôi làm như vậy, bởi vì mọi người đều nghĩ như thế… bởi vì khắp mọi nơi, người ta làm như thế”; chúng ta có đánh mất tất cả nhân cách để theo lối sống tiêu thụ và duy vật không kìm chế không? Chúng ta có thủ lợi từ những bất công xã hội không? chúng ta có để cho mình rơi vào thái độ không hành đạo hoặc chủ nghĩa vô thần viện cớ rằng nhiều người làm như thế xung quanh chúng ta?
Đối với những người trở nên vô vị, với những Kitô hữu đang trở thành một chất thải màu sắc, không mùi vị, Đức Giêsu nói: “Anh em phải khác với thế gian, nếu anh em muốn là muối cho thế gian”..
Một yêu sách, đúng vậy. Nhưng trong một sự khiêm nhường cao cả. Không phải vì người ta là Kitô hữu mà người ta tự động là một con người cao siêu. Mỗi người chúng ta điều biết những giới hạn và những tội lỗi của mình. Nhưng thứ muối mà chúng ta phải đem lại cho thế gian không phải là lòng kiêu ngạo của các nhân đức cũng không phải sự cao siêu của chúng ta mà chính là “điều ‘ Thiên Chúa đã làm trong chúng ta”.
Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.
Cách nói bóng bẩy thứ hai này có cùng một hình thức và ý nghĩa như cách nói đầu, nhưng còn cao cả hơn nữa! Phải là “mặt trời” cho thế gian! Không có ánh sáng, sẽ không có màu sắc, vẻ đẹp và sự sống nào cả. Đức Giêsu đã sống trong một xã hội tiền khoa học không biết được nhiều điều, nhưng xã hội ấy gần gũi thiên nhiên hơn chúng ta và cũng hiểu được nhiều điều hơn chúng ta về các thực tại sống. Giờ đây chúng ta, nhờ khoa học mà biết rằng không có ánh sáng, không thể có sự sống. Thật vậy; mặt trời là nguồn gốc duy nhất và cần thiết cho mọi năng lượng tồn tại trên hành tinh chúng ta.
Không có sự quang hợp các chất diệp lục trong cây cỏ thì cũng không thể có bất cứ đời sống sinh vật hoặc con người nào. Không có mặt trời, sẽ không có than đá, dầu hỏa và điện năng… bởi vì không có rừng và thủy triều, mặt trời là một hình ảnh đẹp nhất về Thiên Chúa: suối nguồn của mọi sự sống! Từ khi thế giới được tạo dựng, một ánh sángtràn trề chiếu soi mọi vật. “Hãy có ánh sáng!” (St 1,2)
Đức Chúa là ánh sáng và là sự cứu chuộc của tôi” (Tv 27,1) “Tôi là ánh sáng của thế gian, Đức Giêsu đã nói: “Anh em phải chiếu sáng, như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15). Trở thành ánh sáng của thế gian quả là một trách nhiệm to lớn.
Bản thân chúng ta rất ít tỏa sáng. Chớ lấy đó mà sinh lòng kiêu ngạo.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ánh sáng của Chúa. Trong đạo Do Thái, chỉ có Luật của Môsê và Đền Giê-ru-sa-lem mới được gọi là “ánh sáng”. Chúng ta nhận thấy cuộc cách mạng phi thường mà Đức Giêsu định thực hiện? Trước mặt Người là những con người hèn mọn, tật nguyền, bệnh hoạn, những con người đau khổ bởi mọi thứ giày vò (Mt 4,23). Đó không phải là những người đàn ông và đàn bà xuất chúng, nhưng là những, người nghèo khổ, không có văn hóa và cũng không có ảnh hưởng. Những con người không sùng đạo hơn những người khác, với đám đông đó, Đức Giêsu nói: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian!”. Chính họ không phải là “ánh sáng” nhưng họ chỉ để ánh sáng xuyên qua và tỏa sáng qua họ đức tin mà họ có trong Đức Giêsu. Đức Giêsu tạo ra cho Người ý tưởng kỳ diệu về nhân phẩm con người khi người để cho Thiên Chúa phong chức cho mình!
Một thành xây trên núi khống tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ”
Từ bờ Hồ Ti-bê-ri-a, người ta thấy thành Safed, ở trên cao với cao độ hơn một ngàn mét, thành được xây trên những núi nằm ngang của dãy núi Ga-li-lê, chiếu ánh sáng của nó ra xung quanh. Đức Giêsu đã thoáng thấy những căn nhà màu trắng của thành được mặt trời chiếu sáng. Trong căn nhà nhỏ của gia đình, Đức Giêsu cũng thường nhìn thấy Mẹ Người. Đức Maria đốt đèn trong ngày Sa-bát. Một cái đèn khiêm tốn bằng đất nung nhưng đủ để soi sáng “cả nhà” trong gian nhà duy nhất của những nhà người nghèo ở Phương Đông. Hãy soi Sáng Đức Giêsu nói chúng ta hãy soi sáng.
Vấn đề ở đây không phải là sự phô trương của chủ nghĩa đắc thắng, như ngày nay người ta nói. Vì sau đó, Đức Giêsu sẽ khuyên chúng ta: “Khi làm việc lành phúc đức anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy” (Mt 6,1). Không phải chính chúng ta tự tôn giá trị của mình như những cách phô trương của những người Pha-ri-sêu mà Đức Giêsu từng đả kích (Mt 6, 1.6). Chỉ ánh sáng của Thiên Chúa mới có thể soi sáng anh em chúng ta. Nhưng ánh sáng ấy muốn soi sáng thông qua chúng ta. “Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa sáng ngời trên gương mặt Đức Kitô. Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi”. (2 Cr 4, 6-7).
“Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng của Matthêu. Chúng ta nghe Đức Giêsu nói về “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Đức Giêsu ở đây mạc khải một định hướng và trách nhiệm to lớn của các Kitô hữu trong thế gian là phải trở thành “muối cho thế gian, mặt trời của hoàn vũ… không không phải vì vinh quang của riêng mình. Vinh quang ấy dùng để tôn vinh Thiên Chúa.
Đức Giêsu đã là một người hoàn toàn tách ra khỏi trung tâm của bản thân mình và hoàn toàn hướng về Chúa Cha. “Tôi không cần người đời tôn vinh”, Đức Giêsu đã nói như thế (Ga 5,41)
Về phần chúng ta là những người tội lỗi, rõ ràng nếu chúng ta có chút gì là “muối” và “ánh sáng”, điều đó chỉ do Chúa Cha mà đến. Nếu bạn mạnh khỏe, vui vẻ, quảng đại và tự nhiên thanh khiết, đó là vinh quang của bạn và càng tốt cho bạn. Nhưng nếu bạn là một người yếu đuối mà Thiên Chúa làm cho mạnh mẽ, một kẻ tội lỗi mà Thiên Chúa cứu độ, một người. Ô uế mà Thiên Chúa không ngừng thanh huyện, một người hay thù oán mà Chúa Cha đã dạy sự tha thứ, một người quan tật sâu xa đến tiền bạc mà Thiên Chúa đã giải thoát khỏi mọi thứ của “cải của mình. Nếu bạn là một trong số những người nghèo, khó ấy, đã thất bại nhiều trong mọi thứ công việc mà vẫn hạnh phúc” bởi niềm vui của các mối phúc thật… lúc đó, trường hợp của bạn có thể làm anh em của bạn quan tâm, bởi vì sự khốn khổ của bạn cũng là của anh em bạn và chính họ, họ cũng có thể hy vọng được cứu chữa. Khi nhìn thấy điều tốt lành mà bạn, một người rất yếu đuối đã làm, họ có thể tôn vinh Cha của bạn, Đấng ngự trên trời.
——————————————————————
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A
MUỐI CHO ĐỜI- ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Trong những dịp cuối năm, các bản tổng kết tình hình đều đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội đặc biệt trong lãnh vực giữ gìn đạo đức xã hội. Nơi nào có đồng bào Công giáo sinh sống, tệ nạn xã hội không có hoặc có rất ít. Nghe những nhận định trên, tôi rất vui vì thấy anh chị em tín hữu đang sống đúng tinh thần trở thành muối cho đời như lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay.
Khi nói đến muối Chúa Giêsu có ý dạy các môn đệ về cách thế hiện diện trong xã hội.
Đó là một hiẹn diện khiêm nhường
Hạt muối thật bé nhỏ. Chẳng ai chú ý tới sự hiện diện của nó. Bên cạnh thịt, cá, rau cỏ, muối chỉ đóng vai phụ. Người ta trưng bày những món ăn đắt tiền. Người ta giới thiệu những món ăn cầu kỳ. Không thấy ai trưng bày muối. Chẳng có ai giới thiệu muối trong bữa tiệc lớn. Xét về giá trị kinh tế, muối chẳng đáng giá bao nhiêu. Đó là một hiện diện quên mình.
Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối phải tan biến đi. Phải tan biến đi muối mới có tác dụng. Muối ướp vào thịt cá mà không tan đi thì không thấm được vào thớ thịt, thớ cá, không giữ cho thịt tươi cá tốt được. Muối gia giảm vào cá kho, thịt rim, nước canh mà không tan đi thì khi ăn phải, người ta sẽ nhăn mặt bỏ đi. Chỉ khi tan biến đi, hoà tan vào thịt, cá, rau cỏ, muối mới có ích lợi. Muối phải hiện diện nhưng lại phải tiêu huỷ đi thì mới có ích.
Đó là một hiện diện tích cực.
Tuy bé nhỏ khiêm nhường và vắng mặt, nhưng hiện diện của muối là một hiện diện tích cực. Tích cực vì góp phần bảo trì thực phẩm khỏi hư thối, vì nâng phẩm chất món ăn. Tích cực vì là một thành phần hầu như không thể thiếu trong các món ăn. Tuy không thấy và không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu trong mỗi món ăn đều có muối.
Khi dùng muối làm hình ảnh minh hoạ, chắc chắn Chúa Giêsu cũng muốn cho các môn đệ của Người có những đặc tính của muối.
Người muốn các môn đệ của Người sống giữa nhân loại như muối ở trong thức ăn. Người muốn các môn đệ của Người hiện diện thật kiêm nhường như những hạt muối bé nhỏ. Người muốn các môn đệ của Người hiến thân mình cho nhân loại như những hạt muối hòa tan trong thực phẩm.
Nhưng để sự hiện diện bé nhỏ khiêm nhường mang yếu tố tích cực, các môn đệ phải giữ được vị mặn của muối.
Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng, là tình yêu tha nhân mặn mà, là sống tinh thần Tám Mối Phúc như Chúa dạy trong bài Tin Mừng tuần trước.
Giữ được vị mặn của Phúc Âm và hiện diện âm thầm trong phục vụ quên mình, người môn đệ Chúa sẽ thực sự góp phần bảo vệ nền đạo đức của xã hội. Dù không muốn, họ vẫn trở thành ánh sáng soi trần gian.
Lạy Chúa, Chúa tin tưởng con, nên đã gọi con là muối trần gian. Xin cho lòng con yêu mến Chúa tha thiết, để đem cho đời hương vị tình yêu. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1-Bạn nghĩ gì về hình ảnh hạt muối?
2-Làm muối, dễ hay khó?
3-Bạn đã bao giờ cảm thấy niềm vui được chìm đi để anh em được nổi nang chưa?
——————————————————————
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG– Lm. Inhaxiô Hồ Thông (*)
Ý tưởng chủ đạo liên kết ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay là sức mạnh của lời chứng: sức mạnh này làm cho người tín hữu trở thành con người của ánh sáng (Bài Đọc I và Tin Mừng) và qua sự yếu đuối của phàm nhân, chứng thực quyền năng Thiên Chúa (Bài Đọc II).
Is 58: 7-10
Bài Đọc I được trích từ phần thứ ba của sách I-sai-a, phần này được biên soạn vfo thời hậu lưu đày (sau năm 538 trước Công Nguyên). Vị ngôn sứ khuyên bảo hãy thực thi đức ái huynh đệ, quan tâm đến những người không nơi nương tựa, những kẻ khố rách áo ôm, những người đói ăn, đó là điều kiện để trở thành một con người chiếu giải ánh sáng Thiên Chúa.
1Cr 2: 1-5
Thánh Phao-lô nhắc cho các tín hữu Cô-rin-tô nhớ rằng khi đến với họ, thánh nhân đã cảm thấy yếu đuối và sợ hãi (thánh nhân vừa mới chịu thất bại ở A-thê-na, ở đó sự khôn ngoan của Tin Mừng đã đụng chạm đến sự khôn ngoan phàm nhân). Nhưng sự yếu đuối này bày tỏ sức mạnh của Thần Khí trong sứ mạng gian khó của ngài là làm chứng cho Đức Ki-tô chịu đóng đinh.
Mt 5: 13-16
Trong Tin Mừng Mát-thêu, Chúa Giê-su khuyên các môn đệ Ngài hãy làm chứng niềm tin của họ: như vậy, họ sẽ đem đến một vị mặn thần linh cho những sự vật trần thế và sẽ trở nên ánh sáng cho thiên hạ.
BÀI ĐỌC I (Is 58: 7-10)
Bản văn tuyệt đẹp này xem ra thuộc vào thời kỳ những người lưu đày ở Ba-by-lon trở về Giê-ru-sa-lem (cuộc hồi hương khoảng năm 538 trước Công Nguyên). Tác giả của nó chắc chắn là một môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, ông được gọi dưới biệt danh là ngôn sứ I-sai-a đệ tam.
Cách ăn chay mà Chúa ưa thích là thực hành đức ái:
Giáo Hội có chủ ý mời gọi chúng ta suy niệm bản văn này để chuẩn bị bước vào Mùa Chay. Quả thật, lời khuyên bảo được gởi đến những tín hữu thực hành chay tịnh và sám hối trong niềm mong chờ Thiên Chúa thi ân giáng phúc.
Vị ngôn sứ vạch cho thấy những khổ chế này chỉ là công việc đạo đức vô giá trị nếu không đi kèm theo việc thực hành đức ái. Cách ăn chay mà Thiên Chúa ưa thích:
“Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ trước những anh em cốt nhục?” (Is 58: 7)
“Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông”:
Vị ngôn sứ sánh ví những thành quả của đức ái với ánh mặt trời vào lúc rạng đông. Trong những xứ sở Cận Đông ánh bình minh là một yếu tố thiết yếu của cuộc sống thường ngày. Ánh bình minh đồng nghĩa với hạnh phúc, niềm vui, thịnh vượng.
“Bấy giờ, ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông,
vết thương ngươi sẽ mau lành” (58: 8a)
Đây sẽ là một ngày mới, một cuộc tái sinh thực sự không chỉ về phương diện luân lý nhưng còn cả về thể xác nữa vì sức lực sẽ được phục hồi mau chóng.
“Đức Công chính ngươi sẽ mở đường phía trước”:
“Đức công chính sẽ mở đường phía trước,
vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi” (58: 8b)
Trong vế thứ nhất của câu này, từ Híp-ri được dịch “đức công chính”, theo văn mạch cũng có nghĩa “chiến thắng”. Chắc chắn sắc thái ngữ nghĩa này phải được hiểu ở đây. Đức công chính mà người tín hữu thực hành được sánh ví với những chiến lợi phẩm sẽ mở đường phía trước người chiến thắng.
Vế thứ hai được dịch sát chữ: “Vinh Quang Thiên Chúa sẽ là hậu quân của ngươi”. Đây là hình ảnh của đám rước khải hoàn.
Thiên Chúa lắng nghe và đáp trả:
Nhịp tăng dần của nhà thơ còn đi xa hơn khi tác giả khẳng định rằng Thiên Chúa lắng nghe và đáp trả người thực hành đức ái. Đây là cách thức diễn tả cuộc đối thoại thường hằng giữa Thiên Chúa và người công chính.
“Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời,
ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: ‘Có Ta đây!” (58: 9)
Vị ngôn sứ một lần nữa liệt kê những cử chỉ bác ái và một lần nữa sánh ví thành quả của chúng với thành quả của ánh sáng, nhưng lần này với ánh sáng nội tâm. Sự rực sáng của thiện nhân chẳng khác nào sự chiếu sáng vinh quang của Thiên Chúa:
“Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói,
làm thỏa lòng người bị hạ nhục,
thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối,
và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ” (58: 10).
BÀI ĐỌC II (1Cr 2: 1-5)
Bản văn này được trích ngay liền sau bản văn mà chúng ta đã đọc vào Chúa Nhật tuần trước và được định vị vào trong cùng một hàng lập luận.
Quyền năng Thiên Chúa được bày tỏ ở nơi sự yếu đuối:
Thánh Phao-lô tiếp tục biện luận của mình về sự khôn ngoan Thiên Chúa và sự khôn ngoan phàm nhân. Thánh nhân giải thích cho các tín hữu Cô-rin-tô hiểu rằng sự khôn ngoan Thiên Chúa được bày tỏ qua những người khiêm hạ, điều này được kiểm chứng bởi muôn ân sủng mà họ nhận được.
Bản thân thánh nhân là một trong những ví dụ đó. Khi đến với họ, thánh nhân đã cảm thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy, và chẳng có lời lẽ hùng biện. Chẳng phải sự hùng biện phải câm nín khi loan báo một Đức Ki-tô chịu đóng đinh sao? Thánh Phao-lô thích nhấn mạnh sự tương phản giữa sự yếu đuối của ngài, sự bé nhỏ của những phương tiện ngài sử dụng và ảnh hưởng của lời ngài rao giảng. Thánh nhân muốn công bố rằng “quyền năng Thiên Chúa được thực hiện ở nơi sự yếu đuối” (2Cr 12).
Đừng hiểu “sợ sệt và run rẩy” theo nghĩa đen, đây là một thành ngữ. Chúng ta gặp lại thành ngữ này trong thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô khi thánh nhân gợi lên việc các tín hữu này đã đón tiếp nồng hậu người cộng tác viên của ngài, ông Ti-tô: “Lòng anh ấy càng tha thiết quý mến anh em, khi nhớ lại anh em đã vâng lời, đã kính sợ và run rẩy đón tiếp anh” (2Cr 7: 15). Đây là cách diễn tả thái độ khiêm tốn và kính trọng, dẫu rằng vào lúc đó thánh nhân có nhiều lý do để lo lắng: những vết thương do việc đánh đòn mà thánh nhân đã chịu ở Phi-líp-phê chưa lành hẳn; những quấy nhiễu của người Do thái ở Thê-xa-lô-ni-ca đã buộc thánh nhân phải trốn chạy; mới đây, cách tiếp đón lạnh nhạt của dân thành A-thê-na.
Hậu cảnh: cuộc thất bại ở A-thê-na:
Thánh Phao-lô đã đến Cô-rin-tô vào năm 50 từ A-thê-na ở đó thánh nhân đã nếm mùi thất bại. Ở nơi đỉnh cao của sự khôn ngoan và triết học, thánh nhân đã không được hiểu. Sứ điệp của Đức Ki-tô đã không dễ dàng hòa nhập vào giữa những suy luận ngoại giáo, thậm chí bởi những lời lẽ hùng biện. Vì thế, ở Cô-rin-tô, thánh nhân sử dụng một phương pháp khác. Thánh nhân không dùng “lời lẽ khôn ngoan để thuyết phục”, nhưng để cho Thần Khí hoạt động qua những lời đơn sơ giản dị của mình và cách hành xử khiêm hạ của mình.
Đừng nghĩ rằng thánh nhân kết án sự hùng biện, vì lẽ thánh nhân mượn ở nơi nghệ thuật này biết bao điều tốt đẹp, cũng không sự khôn ngoan phàm nhân, vì lẽ thánh nhân ca ngợi đức điều độ của người Hy-lạp. Nhưng thánh nhân kết án sự khôn ngoan khi mà nó tự phụ khi áp dụng những tiêu chuẩn của mình vào một sứ điệp vượt quá nó. Đây là điều mà những người Hy lạp này với tinh thần tinh tế xem ra cư xử Tin Mừng như một sự chọn lựa khôn ngoan hay lời dạy của nhà hùng biện.
TIN MỪNG (Mt 5: 13-16)
Bản văn này tiếp liền ngay sau sứ điệp về các Mối Phúc. Chính khi thực hành các Mối Phúc mà các môn đệ sẽ là “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian”.
Hai dụ ngôn này là hai cách khác nhau diễn tả cùng một thực tại: trước hết là những môn đệ, và sau họ là những Ki-tô hữu, phải đóng một vai trò cần thiết trong xã hội như “muối” hay “ánh sáng”. Hai hình ảnh muối và ánh sáng này phối hợp với nhau theo từng chi tiết, được mượn ở cuộc sống thường ngày như Đức Giê-su thích làm như vậy.
Muối cho đời:
Dân Pa-lét-tin không dùng muối được khai thác từ biển, nhưng từ đất mà họ tìm thấy ở những vùng phụ cận Biển Chết, ơ đó khối muối to lớn trải dài sáu cây số, trộn lẫn đất sét và thạch cao. Họ vất bỏ những gì không dùng được dọc theo những con đường khách bộ hành dẫm đạp lên: “Muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lạ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5: 14).
Muối thêm vị mặn và làm thanh sạch thức ăn; ngoài ra, muối còn bảo quản thức ăn; vì thế, muối biểu tượng tính bền vững của hiệp ước, tức “muối Giao Ước”. Thánh Mác-cô gợi lên biểu tượng này của muối: “Anh em hãy giữ muối trong lòng mình, và sống hòa thuận với nhau” (Mc 9: 50). Dâng hiến “bánh và muối”, chính là đề nghị tình bạn, ký kết một giao ước. Sách Dân Số 18: 19 nói về “giao ước muối” để nói về tính bền vững của giao ước. Đức tính nào trong số những đức tính của muối này Chúa Giê-su ám chỉ đến? Khó mà biết được; nhưng rõ ràng Đức Giê-su nghĩ đến khía cạnh tiểu số của những người Ki-tô hữu. Trong đống bột nhân loại bao la, những Ki-tô hữu phải là một nhúm muối thêm gia vị và làm thanh sạch, đem lại vị mặn của Thiên Chúa. Họ là những sứ giả của Tin Mừng không xuất phát từ thế giới này. Họ là những phu trạm của sự khôn ngoan Thiên Chúa đang hoạt động ở lòng nhân loại. Bản văn Hy-lạp hướng đến lối giải thích này: “Nếu muối trở nên điên khùng, thì hỏi lấy gì muối nó cho mặn lại”, điều này khiến nghĩ đến ý nghĩa được rút ra từ hình ảnh của muối: muối cho sự khôn ngoan.
Ánh sáng cho trần gian:
Sau này, Chúa Giê-su sẽ công bố mình là “ánh sáng thế gian”; nhưng ngay từ bây giờ, Ngài ban phẩm chất này cho các môn đệ Ngài: “Chính anh em là ánh sáng thế gian”. Khi nói “Một thành xây trên núi không tài nào che dấu được”, xem ra vào lúc này Đức Giê-su đưa tay chỉ một thành xây trên một ngọn đồi xứ Ga-li-lê, mà những ngôi nhà sơn trắng đập vào mắt và được ánh mặt trời chiếu sáng. Người ta nghĩ đến thành Safed xây ở độ cao 1050 mét, được nhìn thấy từ thành Ca-phác-na-um.
“Ánh sáng thế gian” là diễn ngữ Kinh Thánh. Các ngôn sứ đã nhắc nhở dân Ít-ra-en về sứ mạng mà họ phải thực hiện, đó là “ánh sáng cho muôn dân muôn nước”, làm chứng về một Thiên Chúa chân thật “cho đến tận những hải đảo xa xăm”, tức là “cho đến tận cùng thế giới”. Từ nay vai trò này được chuyển sang cho Giáo Hội: “Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mắt thiên hạ”. Đây không phải là vai trò phô trương mà Chúa Giê-su đòi hỏi ở nơi các môn đệ Ngài; nhưng Ngài đòi hỏi họ phải chiếu giải ánh sáng của Thiên Chúa bằng những công việc tốt lành họ làm. Giáo Huấn của Ngài gặp lại giáo huấn của vị ngôn sứ: những hành động của thiện nhân bừng lên ánh sáng chẳng khác nào hừng đông xuất hiện. Lúc đó, những ai nhìn thấy ánh sáng “sẽ tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Những lời này loan báo kinh Lạy Cha, chẳng bao lâu sẽ được Ngài dạy cho các môn đệ Ngài.
(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt
—————————————————————-
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A
ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI– Fiches Dominicales
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
Sứ mạng của các môn đệ.
Trong các mối phúc Đức Giêsu đã công bố hạnh phúc cho những người đáp lại lời mời gọi của Ngài và bắt đầu theo Ngài: đó là các môn đệ. Hạnh phúc được ban cho họ từ bây giờ như một quà tặng, ngay trong những hoàn cảnh cụ thể và đôi khi ngay trong những hoàn canh đau khổ tột cùng của đời sống “Nước Trời và của họ”; một ngày kia hạnh phúc ấy sẽ triển nở trong ánh sáng của đời sau: “Phần thưởng của anh em sẽ lớn lao trên trời”.
Tiếp theo lời mở đầu của bài giảng trên núi, Đức Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ Ngài: anh em là muối cho đời… anh em là ánh sáng thế gian. Chúng ta đã bao giờ có một định nghĩa hay hơn định nghĩa này về Giáo hội không? giáo Hội không phải là một cái bình xoay trong đó là những người được cứu độ (ngoài Giáo Hội không có sự cứu độ), nhưng vì ánh sáng trên núi cao chiếu tỏ ý nghĩa cuộc sống và cắm nọc tiêu chỉ đường cho những ai sống trong bóng tối (Is 60), ánh sáng này qui chiếu về nguồn mà nhờ đó nó tỏa sáng! (Cahier Evangile, số 9, tr. 11) trong thế giới sê-mít nơi Đức Giêsu công bố giáo huấn này và nơi Thánh Mátthêu viết Tin Mừng của ngài, muối là một thực tại hằng ngày chứa rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Được dùng trong việc chuẩn bị bữa ăn để cho các món ăn thêm hương vị, muối đã trở nên biểu tượng của tất cả những gì làm cho hiện hữu có hương vị và ý nghĩa, đàng khác một điều đáng chú ý là trong tiếng Latinh, “nếm” (sapere) và “khôn ngoan” (sapientia) có cùng một gốc và trong tiếng Hy lạp và tiếng Do thái, có cùng một động từ vừa có nghĩa “lạt đi” “trở nên lạt lẽo” vừa có nghĩa trở nên vô nghĩa”.
Được dùng trong việc bảo quản thức ăn, muối đã trở nên biểu tượng của sự vĩnh hằng và được sử dụng trong những nghi lễ giao ước – người ta nói Giao ước của muối” (2 Sb 13, 5 và Lv 2, 13) và trong những nghi lễ đón tiếp và cho khách ở trọ. Muối không được lạt đi! Cl. Tassin chú giải: các môn đệ đem hương vị cho đời và bảo đảm sự sống còn của thế gian trước mặt Thiên Chúa. Nhưng nếu họ không đảm đương được công việc này và đánh mất tinh thần các mối phúc, họ sẽ chẳng còn giá trị gì và Thiên Chúa sẽ từ bỏ họ”. (Tin Mừng thánh Mátthêu, Centurion, 1991, tr.62).
và “ánh sáng thế gian”.
Để giúp các môn đệ hiểu rõ hơn sự lớn lao và những đòi hỏi của sứ mạng Ngài trao, Đức Giêsu dùng hai hình ảnh.
Trước hết, Ngài nói đến một “thành xây trên núi” có lẽ cảnh trí của thành Safed đã gợi ý cho Ngài. Thành này nằm trên mũi đá phía đông-bắc rặng Haute-Galiê nên ban ngày, những ngôi nhà mầu trắng phản chiếu ánh sáng mặt trời và ban đêm nó tỏa sáng. “Trở nên ánh sáng thế gian”, đó là lời các ngôn sứ loan báo về tương lai của Giêrusalem vào thời Đấng Thiên sai: thành này sẽ là thành phố ánh sáng trên núi mà mọi dân tộc sẽ đi về đó. Là ánh sáng cho thế gian” là sứ mạng được trao cho cộng đoàn các môn đệ. Rồi Ngài nói với các môn đệ người ta đốt đèn không phải để giấu nó “dưới đáy thùng” -dùng để xếp đồ trong những ngôi nhà xứ Palestine- nhưng là để trên “giá đèn” hầu soi cho tất cả mọi người trong nhà. Cộng đoàn các môn đệ mà Ngài sai đến trong thế gian cũng phải như vậy.
Cl.Tassin kết luận: Giáo Hội sẽ thi hành sứ mạng là muối cho đời và là ánh sáng thế gian, bởi sự chôn vùi và sự tỏa sáng chứ không phải là tham vọng chinh phục về địa dư (Sách đã dẫn)
BÀI ĐỌC THÊM
Muối và ánh sáng: (Đức cha L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần” Desclée de Brouwer, 1 994, tr.48-49)
“Anh em là muối cho đời”. Để có ích, muối không được mất vị của nó: nó chỉ là gia vị! Chính nó không phải là thức ăn, ít ra thường là như vậy: nó giúp cho thúc ăn có hương vị. Trở nên nguồn hương vị thơm ngon, đó là nét độc đáo của chúng ta, những người theo Đúc Kitô, trong thế giới chúng ta đang sống. Nét độc đáo này giúp chúng ta trở nên hữu ích cho đời nhờ sự khác biệt của nó. Chúng ta không được đánh mắt sự khác biệt này: Nếu muối: lạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được? Sự khác biệt của chúng ta không ở nơi bản chất riêng của mình hay nơi những tính tốt chúng ta có, chúng ta không tự hào là những người tốt nhất hoặc muốn dạy người khác. Chúng ta cũng được nhào nặn bởi cùng một-thứ bột như tắt cả mọi người. Chúng ta cũng gặp những thuận lợi và những chướng ngại trong chúng ta và chung quanh chúng ta như mọi người. Nhưng chúng ta ra lạt khi không còn liên kết với Đức Kitô, khi không còn qui chiếu về Ngài, khi Ngài không còn là men cho đời sống chúng ta. Lúc đó cuộc sống chúng ta và thế giới chúng ta sống sẽ thiếu hương vị, bởi vì sứ mạng của chúng ta là làm cho thế giới này biết thưởng thức Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài! Hình ảnh ánh sáng nối tiếp và làm rõ hình ảnh về muốí: Anh em là ánh sáng thế gian ánh sáng là để nhìn, chúng tự nó không đủ. Nó vô dụng nếu nó không soi cho thấy gì hết. Đức Giêsu đặt các môn đệ của Ngài trong thế gian ta qui chiếu với thế gian. Ngài không kêu gọi họ đóng khép kín, tách rời người khác. Thánh Gioan cũng nói như vậy nhưng diễn tả cách khác: Con sai họ đến trong thế gian (Ga17, 18). Chính vì vậy, các Kitô hữu sống trong thế gian và trong những hoàn cảnh như mọi người không những là điều bình thường mà còn cần thiết nữa…không sống trong một thế giới khác! Chúng ta phải thực hiện những công việc của ánh sáng, nghĩa là những hành vi tốt hay những việc làm tốt được ánh sáng Thiên Chúa soi chiếu để trở thành những việc làm của chính Thiên Chúa. Nói vậy không có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi chúng ta tin rằng mình là người tốt hơn người khác hoặc tự mình, mình có thể hành dộng tốt hơn họ, bởi vì mọi công việc chúng ta làm đều qui về vinh quang Thiên Chúa là nguồn ánh sáng: ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời. Nơi Đức Giêsu, ánh sáng đã tỏa chiếu trong thế gian. Chúng ta chỉ phản chiếu lại ánh sáng này. Đời sống, hành vi của chúng ta trở nên tấm gương phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, trở nên nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người”.
“Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối và sự chiếu toả của ánh sáng” (J. Guiuet. Trong Giêsu trong niềm tin của các môn đệ đầu tiên, Desclée de Brouwer, 1995, tr.110-111).
“Matthêu đã xen kẽ hai đoạn ngắn với hình thức dụ ngôn về muối và ánh sáng vào giữa các Mối Phúc và những điều Đức Giêsu công bố về Luật (Do Thái). Cả hai đoạn này đều nhắm một nhóm riêng, phân biệt rõ ràng với những người đi theo nghe Ngài giảng, bởi vì nhóm này phải hành động theo lời Ngài dạy: “Anh em là muối cho đời”, “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,16). Trong bối cảnh Bài giảng trên núi, rõ ràng Đức Giêsu nói với các môn đệ theo Ngài. Và nếu không loại bỏ đám đông náo nức theo Ngài, chúng ta có thể tin rằng sứ điệp của Đức Giêsu đã gây một tiếng vang nào đó trong đám đông và có thể một hạt nhân các môn đệ thành hình, gồm phụ nữ và đàn ông muốn theo Chú, tuy nhiên họ không làm thành một dân tộc mới, họ vẫn luôn thuộc về dân của Abraham, của Môi-sen: họ là những người mang sứ điệp mới trong dân tộc họ. Điều này không có gì là lạ bởi vì người Israel đã có thói quen nghe các ngôn sứ nói đến tương lai mà Thiên Chúa đang chuẩn bị, tương lai đó có lúc đen tối, có lúc lại rực rỡ. Tuy nhiên, tương lai Đức Giêsu phác họa hoàn toàn khác trước.
Ở đây sự song hành với biến cố Sinai giúp làm sáng tỏ hơn. Một nhóm nhỏ những người dân giã tương ứng với dân chúng đông đảo tụ tập dưới chân núi của Thiên Chúa. Nhưng trong khi ơn gọi của dân Israel là làm chứng cho Thiên Chúa và là dấu chl sự chúc phúc của Thiên Chúa ở giữa các dân tộc, thì sứ mạng của nhóm hạt nhân nhỏ này là thẩm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng bức mành linh hoạt của muối vô sự chiếu tỏa của ánh sáng. Abraham là người được Thiên Chúa chúc phúc và mọi dân tộc trên mặt đất đều được chúc phúc qua ông (St 12,1). Dân lsrael của Môisen phải trở nên một dân lớn và mọi dân tộc khác đều thán phục cách ăn ở và tinh thần của họ: Khi biết đến các lề luật này, họ sẽ thốt nên: Chỉ có một dân tộc khôn ngoan và minh mẫn, đó là dân tộc lớn này. Thật vậy, có dân tộc nào lớn đến nỗi các thần linh của họ gần gũi họ như Giavê, Thiên Chúa của chúng ta ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Ngài”. (Dnl 4,6) Theo Đức Giêsu chỉ có một số môn đệ. Tuy sống trong lòng một thế giới còn chưa biết đến mình, nhưng họ lại mang theo mình một sức mạnh khả dĩ biến đổi thế giới. Bởi vậy, sự tỏa chiếu của các mối phúc trở nên động lực cuộc sống.
“Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi”.(H. Denis, trong ‘100 từ để nói về niềm tin’, Desclie de Brouwer, 993, 95-96).
“Muối! Tại sao lại chọn vật nhỏ bé chẳng là chi hết ngoài công dụng như một thứ gia vị? Một số Kitô không còn quen dùng nữa. Giáo Hội đôi khi còn nuối tiếc việc bỏ không dùng muối trong bí tích rửa tội. Một sự tiếc nuối vô ích khi mà nó không thúc đẩy người ta dấn thân.
Muối Tin Mừng còn quan trọng hơn một nghi lễ rất nhiều Bạn hãy mường tượng và chúng ta còn sửng sốt về điệu này muối là chính bạn là chính tôi, là tất cả môn đệ Đức Giêsu. Môn đệ Đức Giêsu là phải là muối cho đời. Chỉ vậy thôi! Một tham vọng ghê gớm, nếu chứng tá tự cho mình là những người tốt nhất, là giả vị duy nhất trong đám đông nhạt thếch, không có vị mặn. Nhưng đó sẽ là một trách nhiệm lớn lao nếu Đức Giêsu trao cho chúng ta một sứ mạng như vậy và cách thế để thực hiện nó. Vâng, trước hết chúng ta có trách nhiệm của một loại giao ước giữa cái là muối và cái chưa phải là muối. Môt thế giới không có muối thì chẳng có một chút hương vị nào, nhưng nếu ở ngoài thế giới này thì muối cũng vô dụn, Kitô hữu và thế gian là hai thành phần liên kết với nhau. Cả hai được tạo dựng để trộn lẫn với nhau. Hơn nữa, người trước tiên được lợi chính là người Kitô hữu, vì họ phải ướp mặn nơi họ tất cả những gì chưa là Kitô hữu. Một trách nhiệm khác mầ bạn biết rất rõ, đó là đừng la nhạt. Bạn đừng nghĩ rằng để tránh điều này bạn phải trốn khỏi thế gian ắt hẳn sẽ có nguy cơ bị tan rã ở đó cách đơn thuần và dễ dàng. Nhưng muối mà chất đống và để nguyên một chỗ cũng có nguy cơ bị phân hủy đi. Vậy bạn hãy nói cho tôi biết, nếu giữa người với người, giữa những Kitô hữu với nhau, chúng ta cố gắng duy trì vị hương cho thế giới của chúng ta thì phải làm thế nào? Không thể chỉ cậy vào mình. Phải có thể nói: Xin đưa cho tôi chút muối? như là trong bữa ăn của đôi vợ chồng, của cha mẹ và con cái. Vâng, nếu có bao giờ Tin Mừng nơi bạn nhạt nhẽo đi thì luôn có một người anh, một người chị để bạn hoàn toàn tin tưởng nói với họ: “xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi!”.
——————————————————–
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – NĂM A
SỨ MẠNG NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Chúa nhựt vừa qua, Lời Chúa cho chúng ta biết chúng ta rất hạnh phúc vì được làm công dân Nước Trời. Lời Chúa hôm nay sẽ dạy chúng ta biết sứ mạng cao cả của người công dân Nước Trời.
Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa để hiểu sứ mạng ấy là gì, và chúng ta hãy sốt sắng xin Chúa giúp chúng ta thi hành sứ mạng cao cả ấy.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
– Chúng ta chưa hãnh diện vì được làm công dân Nước Trời. Ngược lại có khi còn che dấu hoặc xấu hổ vì điều ấy.
– Sống với những người chưa biết Chúa, chúng ta chẳng những không mang lại điều gì tốt cho họ, trái lại còn lây nhiễm những thói xấu của họ.
– Sống giữa những người khác, chúng ta không nêu gương sáng, ngược lại có khi còn làm gương mù gương xấu.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Is 58,7-10) :
Trong thời gian dân do thái bị lưu đày bên Babylon, không còn Đền thờ, không còn các lễ nghi, các tư tế và luật sĩ sợ đức tin của dân bị phai lạt nên đã nhấn mạnh rất nhiều vào những hình thức đạo đức như ăn chay, cầu nguyện, bố thí. Đáng tiếc là vì quá nhấn mạnh đến hình thức, họ sao nhãng phương diện tinh thần. Khi dân do thái từ chốn lưu đày trở về, cách sống đạo của họ cũng nặng phần hình thức.
Đoạn này thuộc về phần III của sách Isaia (các chương 56-66, được gọi là Đệ Tam Isaia), được viết khi dân do thái từ chốn lưu đày đã được trở về quê hương. Tác giả nhắc nhở người ta phải sống đạo có chất lượng, để làm sao cho cuộc sống mình như một ngọn đèn tỏa sáng trước mặt mọi người.
Cách sống như một ngọn đèn tỏa sáng là :
– Lấy của cải mình giúp cho người nghèo đói.
– Đón vào nhà mình những kẻ tứ cố vô thân
– Đem áo cho kẻ trần truồng
– Không khinh bỉ người đồng loại
– Loại khỏi lòng mình những xiềng xích, hăm dọa, nói xấu v.v.
Được như thế thì “Sự sáng của ngươi tỏa rạng như hừng đông”
2. Đáp ca (Tv 111) :
Tv 111 mô tả cách sống của người công chính : một mặt đầy lòng kính mến Chúa, mặt khác hết lòng yêu thương tha nhân. Người công chính được so sánh với ánh sáng xuất hiện trong đêm tối : “Trong u tối, người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay.”
3. Tin Mừng (Mt 5,13-16) : Các con là sự sáng thế gian
Sau khi công bố Tám mối phúc thật (Tin Mừng Chúa nhựt IV vừa qua), Đức Giêsu khuyến khích các môn đệ, những công dân mới của Nước Trời, hãy đem những giáo huấn của Ngài ra thi hành. Làm được như thế, họ sẽ trở thành muối ướp mặn cho đời và ánh sáng chiếu soi cho trần gian.
4. Bài đọc II (1 Cr 2,1-5) :
Văn mạch : Tín hữu Côrintô chia rẽ nhau (đoạn được trích đọc Chúa nhựt III), lý do là họ tự cho mình là khôn ngoan hơn người khác. Phaolô bảo rằng cái mà thế gian cho là khôn ngoan thì thực ra chỉ là điên dại trước mặt Chúa, còn cái mà thế gian cho là điên dại lại thì sự khôn ngoan (Chúa nhựt IV)
Trong đoạn được trích đọc hôm nay, Phaolô đưa bản thân mình ra làm gương :
– Về nội dung rao giảng : không giảng về sự khôn ngoan của loài người, mà về sự điên rồ của Thập giá.
– Về cách thức : không dựa vào uy thế của tài hùng biện, không dùng những lời quyến rủ của thế gian, nhưng chân thành đến với tín hữu “trong sự yếu hèn, run rảy và sợ hãi”.
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Hướng chiếu của ánh sáng
Ánh sáng chiếu ra ngoài nó hay chiếu vào trong nó ?
Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho chung quanh nó. Chính Đức Giêsu đã nói : “Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của chúng con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.
Hình ảnh cây đèn rất đơn sơ, nhưng lý giải được rất sâu sắc những bế tắc của đức tin nơi nhiều người môn đệ Chúa : Tại sao đức tin của họ không lớn mạnh lên mà còn nhỏ yếu đi ? Tại sao đức tin ấy như không đủ sức nâng đỡ cuộc sống của họ trong những lúc gian nan, chứ đừng nói chi đến nâng đỡ người khác ? Câu trả lời của cây đèn rất đơn giản mà rõ ràng : tại vì họ là đèn, thế mà chỉ biết quanh quẩn lo chiếu vào trong mình chứ không chiếu ra ngoài.
Nhiều người môn đệ Chúa cứ mãi lo tuân giữ luật Chúa, mãi lo tham dự đầy đủ các ngày lễ, mãi lo những sinh hoạt nội bộ của Giáo Hội… Họ tưởng mình như thế là sống đức tin rồi đấy. Nhưng họ cứ băn khoăn : Tại sao Giáo Hội không phát triển ? Tại sao nội bộ Giáo Hội cứ lục đục hoài ?
Khi so sánh đức tin của người môn đệ với cây đèn và hạt muối, Đức Giêsu đã đưa ra một định hướng rất rõ : đức tin là để tỏa ra, đức tin là phải hướng đến người khác. Nếu không tỏa ra, đức tin sẽ là hạt muối lạt, cây đèn sẽ tắt… Chỉ còn ném bỏ.
Như thế, cách nuôi lớn đức tin là tập quên mình để sống cho người khác, sống vì người khác. Khi các tín hữu, nghĩa là người có đức tin, biết hướng đến người khác thì Giáo Hội sẽ phát triển, những khó khăn nội bộ của Giáo Hội cũng dần dần biến tan.
2. Sức sáng của tình thương
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy làm ngọn đèn chiếu sáng trước mặt thiên hạ. Còn trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia dạy chúng ta cách nào để cho đời mình thành đèn chiếu sáng : cách tiêu cực là không khinh bỉ người khác, loại bỏ những tranh chấp, hăm dọa, nói xấu… ; cách tích cực là chia cơm cho kẻ đói, chia áo cho người nghèo, làm cho người đau khổ được hạnh phúc… Và Isaia bảo đảm : “Như thế, sự sáng của ngươi sẽ tỏa rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành mạnh nhanh chóng… ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong đêm tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”.
Chúng ta đã biết mình có bổn phận làm gương sáng. Isaia dạy cho chúng ta biết thêm : không gương sáng nào sáng bằng tình thương ; không việc làm nào chiếu sáng bằng việc yêu thương.
3. Sứ mạng ướp mặn cuộc đời
Thời nay, những sứ điệp nói có một tầm quan trọng rất lớn (Radio, Tivi, sách báo v.v.) Trong Thánh Lễ, bài giảng rất quan trọng. Những nhà thờ có Cha giảng chán thì giáo dân thưa thớt, ngủ gục, lo ra… Những nhà thờ có Cha giảng hùng hồn, mạch lạc, truyền cảm thì giáo dân đông đúc, sinh động…
Tuy nhiên phẩm chất của lời nói và của người nói càng quan trọng hơn. Đó là kinh nghiệm tâm đắc của Phaolô, vị tông đồ thành công nhất của Giáo Hội : “Lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rủ của sự khôn ngoan loài người”, “Tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh”, “Tôi đến với anh em trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy”… Xem thế, Thánh Phaolô thành công không phải vì ngài nói hay, mà vì tư cách, phẩm chất và cả con người của Ngài thấm mặn Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, đến nỗi Ngài có thể nói “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Nhờ đó, khi Ngài đi đến đâu, tiếp xúc với ai thì chất mặn của muối Tin Mừng từ trong Ngài tỏa ra và thấm vào mọi người chung quanh.
4. “Chúng con là ánh sáng thế gian“
Nên để ý một chút đến văn phạm của câu nói này : Đức Giêsu không khuyến khích “Chúng con hãy là ánh sáng”, mà Ngài khẳng định “Chúng con là ánh sáng”.
Quả thực, chúng ta là ánh sáng, bởi vì khi tạo dựng chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khả năng làm những việc thiện giúp cho người khác :
– Chúng ta có đôi mắt để thấy
– Chúng ta có đôi tai để nghe
– Chúng ta có đôi tay để chăm sóc
– Chúng ta có đôi chân để bước tới
– Chúng ta có lưỡi để nói
– Chúng ta có quả tim để yêu thương
Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của chúng ta dần lu mờ đi và có khi tắt ngấm.
Xin Chúa giúp chúng ta dám tin vào ánh sáng của mình và vào khả năng làm điều thiện của mình.
5. Chuyện minh họa
Ngày xưa có một nhà nghiên cứu Thánh Kinh suốt ngày ở trong phòng để tìm hiểu Lời Chúa và cầu nguyện, suy gẫm. Một hôm hay tin có một vị thánh nhân đến thành phố mình, nhà nghiên cứu này hăng hái đi tìm.
Ông tìm ở các nhà thờ lớn mà không gặp. Ông tìm ở các nhà nguyện nhỏ cũng không gặp. Tìm đến các dòng tu cũng không gặp. Cuối cùng đang khi đi ngang chợ thì ông gặp được vị thánh ấy. Ông liền trình bày thao thức của mình, cũng là lý do chính khiến ông muốn gặp vị thánh :
– Xin Ngài chỉ cho con biết làm thế nào để nên thánh.
Vị thánh hỏi lâu nay nhà nghiên cứu đã làm gì. Nhà nghiên cứu cũng thành thật kể rõ mọi việc. Cuối cùng vị thánh đưa ra lời khuyên :
– Làm thánh trong phòng thì dễ thôi. Hãy ra chợ và cố gắng làm thánh ở đó.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Đức Giêsu đã nói : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Với quyết tâm làm cho Danh Chúa được vinh quang rạng rỡ hơn, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.
1- Chúa Giêsu đã để trái tim bị đâm thủng khiến máu cùng nước chảy ra / hầu khơi nguồn bí tích dưỡng nuôi Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh không ngừng được sống nhờ Chúa đã chết và sống lại.
2- Ngày nay / một số sách báo nhảm nhí / không ít những hình băng đồi truỵ / cổ võ bạo lực / khuyến khích những chuyện không tốt / đã làm hư hỏng một số người trẻ / và rất nhiều lần đã dẫn đến phạm pháp nghiêm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các bạn trẻ / biết khôn ngoan xa lánh những thứ độc dược giết người ấy / và nỗ lực sống lành mạnh bằng việc đọc những sách báo tốt / cũng như chỉ xem những băng hình bổ ích / và tích cực tham gia vào công tác xã hội.
3- Chúa Giêsu nói / “Anh em là muối cho đời / là ánh sáng cho trần gian” / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người kitô hữu biết luôn cố gắng sống theo tinh thần Tám mối phúc thật / để nhờ đó mà trở nên những chứng nhân hữu hiệu của Chúa / trong xã hội họ sang sống.
4- Trách nhiệm của người Kitô hữu là giúp xã hội luôn thăng tiến / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết dùng khả năng Chúa ban / cũng như đời sống thấm nhuần tình bác ái yêu thương / mà giúp mọi người sống xứng với phẩm giá con người.
CT : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thương chọn chúng con giữa muôn người và ban cho được phép làm con Chúa. Xin ban ơn giúp sức để chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
————————————————————————–
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN – Năm A
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- Lm Giuse Đinh lập Liễm
DẪN NHẬP
Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu muốn nói đến sứ mạng của người môn đệ và người Kitô hữu. Ngài dùng một biểu tượng rất quen thuộc để nói lên vai trò của họ trong thế giới hôm nay : “muối đất và ánh sáng trần gian”. Một bữa ăn mà không có muối thì lạt lẽo làm sao ! Một ngôi nhà dù sang trọng mà thiếu ánh sáng thì cũng không có giá trị.
Trong một xã hội hoàn toàn tập trung vào tiến bộ kỹ thuật và tiện nghi, một xã hội chỉ biết hưởng thụ tối đa đời sống vật chất mà quên đi đời sống tâm linh, chúng ta có thể trở nên muối để tinh luyện và đem mùi vị đạo đức vào trong cuộc sống hiện tại không ? Chúng ta có thể trở nên ánh sáng để xua tan bóng tối của tội lỗi và đem niềm vui, an bình đến cho xã hội không ?
Vai trò của người môn đệ là phải thấm nhuần tinh thần Đức Kitô để nên nhân chứng của Ngài trong cuộc sống, để có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Với gươngsáng và đời sống đạo đức, chúng ta có thể phô diễn Chúa Kitô cho người khác và có thể lôi kéo họ trở về với Ngài. “Muối cho đời, ánh sáng cho trần gian”. Ôi, ơn gọi tuyệt vời của các môn đệ Đức Kitô Giêsu !
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 58,7-10
Khi bị lưu đầy bên Babylon, dân Do thái không còn Đền thờ, không còn các lễ nghi thì các tư tế và luật sĩ khuyến khích dân chúng giữ tinh thần đạo đức bằng viêc ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Nhưng rất tiếc, họ quá nhấn mạnh đến hình thức mà sao nhãng phương diện tinh thần..
Khi được giải phóng trở về quê hương, dân Do thái vẫn thực hiện cách sống đạo đức theo hình thức cũ, nghĩa là họ chấp nhận một giá trị tuyệt đối cho việc chay tịnh.
Tiên tri Isaia nói với họ rằng chay tịnh hợp ý Thiên Chúa và đồng thời giúp làm tròn nhiệm vụ nhân chứng cho ánh sáng là căn cứ vào việc chia sẻ với tha nhân, tạo lập sự công chính và bình an trong xã hội.
+ Bài đọc 2 : 1Cr 2,1-5
Khi rao giảng Tin mừng cho giáo đoàn Corintô, thánh Phaolô cho biết mình chẳng có tài cán gì, không có tài hùng biện, không có những lời quyến rũ mà chỉ dùng lời nói đơn sơ rao giảng về thập giá Chúa Kitô.
Theo ngài, thập giá đối với dân ngoại là một sự điên rồ và đối với người Do thái là một sự sỉ nhục, nhưng đối với ngài, thập giá là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là vinh dự và là sức mạnh vượt trên sức mạnh của loài người.
+ Bài Tin mừng : Mt 5,13-16
Để nói về vai trò làm chứng cho Chúa, Đức Giêsu đưa ra hai hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống : muối và ánh sáng. Ngài nhắc lại cho các môn đệ là họ phải trở nên “muối cho đời và ánh sáng cho trần gian”. Họ sẽ được như vậy trong mức độ họ sống các mối phúc của Tin mừng.
-Là muối, các môn đệ Đức Kitô sẽ ngăn ngừa xã hội loài người khỏi cảnh luân lý suy đồi, và các ông sẽ đem lại hương vị cho các thực tại trần thế mà thường thường tự bản chất chúng rất lạt lẽo và giả dối.
– Là ánh sáng, các ông phản chiếu ánh sáng của Chúa Kitô ra cho những người chung quanh để họ nhận biết Chúa, theo Chúa và sẽ tìm được ơn cứu độ.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Muối đất và ánh sáng cho trần gian
GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC GIÊSU.
Trước mặt đám đông dân chúng đang nghe giảng, Đức Giêsu đã đưa ra Hiến chương Nước Trời mà ta thường gọi là bài giảng trên núi hay tám mối phúc thật. Đoạn Tin mừng này tiếp nối với đoạn nói về những mối phúc thật, nên ở đây Đức Giêsu có ý nói với một cử tọa đông đảo chứ không có ý nói riêng với nhóm môn đệ. Vì thế, kiểu nói “các môn đệ” ở đây đước hiểu là chung cho tất cả những ai biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Trong đoạn Tin mừng này Đức Giêsu nói về muối và ánh sáng. Đó là hai hình ảnh xác định rõ ràng và đúng bản chất cũng như sứ mạng của người môn đệ Đức Giêsu là chúng ta. Chúng ta phải là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.
Các con là muối đất (Mt 5,13)
a)Muối và cuộc sống.
Từ cổ chí kim, muối là một loại vật chất cần thiết cho mọi người trong nhiều lãnh vực. Muối bảo quản thức ăn, cũng là một gia vị cho thức ăn – thức uống. Muối còn được dùng để trị bệnh : đắp vào chỗ trặc gân, bong gân; muối sát trùng, để giúp tiêu hóa, để lưu giữ và chuyển tải i-ốt, ngăn ngừa bệnh tật… Muối cũng có nhiều công dụng khác nữa, kể cả các loài động vật và thực vật.
Nhờ vào tính chất nào mà nó hữu ích cho đời sống chúng ta như vậy ? Chắc chắn câu trả lời _ ai cũng biết – là vị mặn của muối. Nhưng giả như muối mà không mặn, thì chắc là không còn hữu dụng nữa. Những hạt muối không mặn, người ta không ướp cá mắm gì được, không sát trùng được… và có thể nói : người ta cũng không muốn trải trên đường đi – vì giẵm lên làm đau chân.
Dựa vào bản chất của muối là mặn, Đức Giêsu muốn nói về bản chất của người môn đệ Chúa Kitô là phải có đời sống mặn mà trong cuộc sống là làm chứng cho Chúa.
b)Muối và Kitô hữu.
Câu mở đầu bài Tin mừng hôm nay bắt đầu bằng năm chữ :”Các con là muối đất” (Mt 5,13). Tiếp liền vào đấy, Đức Giêsu nói ngay đến đặc tính của muối tức là chất mặn : nếu muối không mặn thì không thể ướp được gì hết, mà chỉ còn vất ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân.
Chúa bảo các Tông đồ nói riêng và thính giả nói chung là muối đất, ngụ ý bảo các ông cũng như giáo dân lúc ấy phải mặn, cốt để ướp chính mình và để ướp thêm người khác.
* ĐỂ ƯỚP CHÍNH MÌNH.
Muối không thối bởi vì muối có chất mặn nên để ướp được chính mình. Ngày nào muối thối tức là ngày ấy muối đã hết mặn. Muối hết mặn thì chỉ còn vất đi, dù ướp chính mình cũng không được nữa. Điều đó rất dễ hiểu.
Chúng ta cũng vậy, dù là Linh mục, tu sĩ hay giáo dân, nếu không thánh thiện tự đáy lòng thì làm sao có thể thánh hóa bản thân, cũng như muối đã không mặn thì làm sao ướp được chính mình. Vậy sự thánh thiện là một điều tối cần để thánh hóa bản thân, cũng như muối phải mặn để khỏi thối.
Nếu ta là một Kitô hữu, ta cũng phải có “vị mặn Kitô”. Nếu ta không có “vị mặn Kitô” thì ta không giúp gì cho bản thân và cho người khác :
Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
Đức Giêsu cũng khuyến khích chúng ta :”Các con hãy giữ muối trong lòng các con” (Mc 9,50). Ngài khuyên chúng ta phải có “vị mặm Kitô” trong lời ăn tiếng nói, việc làm, cuộc sống ta phải mặn mà hấp dẫn để ướp trần gian, làm cho trần gian khỏi hư thối :
Một thương mái tóc đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
* ĐỂ ƯỚP NGƯỜI KHÁC
Muối để ướp chính mình là truyện dĩ nhiên, nhưng còn phải ướp thêm vật khác nữa mới là công tác của nó.
Người tu sĩ và giáo dân thánh hóa bản thân để rồi không tham dự vào việc thánh hóa người khác, thì đó chỉ là việc THÁNH mà không HÓA : “Sự sáng của các con phải chiếu dọi để thiên hạ nhìn thấy việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16). Đó là một câu dạy chúng ta phải thánh hóa chính mình để rồi thánh hóa người khác.
Truyện : Rao giảng bằng gương sáng
Một hôm thánh Phanxicô Assisi gọi một thầy dòng lên dặn :
– Con lo sửa soạn chiều nay chúng ta phải đi giảng.
Đến giờ phải đi, hai cha con ra khỏi nhà đi một vòng quanh thành phố rồi trở về nhà. Thầy dòng lấy làm lạ hỏi :
– Cha bảo cha đi giảng, sao chưa giảng mà cha đã về ?
Thánh Phanxicô nghiêm trang đáp :
– Như vậy là đã giảng rồi đó.
Thánh Phanxicô có ý nói : đi một vòng nghiêm trang nết na cho người ta thấy, đó cũng là một bài giảng bằng cách làm gương sáng. Gương sáng là một cách thuyết phục và thánh hóa người khác mau lẹ nhất :
Lời nói như gió lung lay
Gương bày như tay lôi kéo.
* NẾU MUỐI MẤT VỊ MẶN
Đức Giêsu cánh cáo :”Nếu muối mà nhạt đi, thì lấy gì mà muối cho nó mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc đổ ra ngoài cho thiên hạ chà đạp lên thôi” )Mt 5,13).
Nhưng làm sao muối có thể trở nên nhạt được ? Trong tác phẩm “Chúa Giêsu của Palestine”, Bishop kể lại một lời giải thích của cô Newton : tại Palestine bếp lò thường ở ngoài trời và làm bằng đá trên nền (đế) bằng ngói. Trong các lò lộ thiên như vậy, muốn giữ sức nóng, người ta đổ một lớp muối dầy ở dưới nền ngói. Sau một thời gian, muối mất mặn, người ta lật những miếng ngói lên, lấy muối ra, đổ trên đường vào cửa lò. Nó đã mất năng lực làm cho tấm ngói nóng lên bị quăng ra ngoài. Đó chắc hẳn là hình ảnh nói ở đây.
Còn một điều đáng lưu ý là đôi khi Hội thánh đầu tiên áp dụng câu này cách rất lạ :”Bị vứt ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân”.
Trong hội đường, người Do thái có tục lạ : nếu một người Do thái bỏ đạo, rồi lại trở về với đức tin, trước khi được thâu nhận lại, người ấy phải ăn năn bằng cách nằm ngang cửa nhà hội và mời mọi người bước lên mình mà bước vào.
Ở một số nơi, Hội thánh cũng theo tục lệ đó. Một Kitô hữu bị đuổi ra khỏi Hội thánh vì bị kỷ luật, trước khi được thâu nhận lại, buộc phải nằm trước cửa nhà thờ và mời mọi người bước vào :”Hãy dẵm lên tôi là muối mất vị mặn”.
Muối bị nhạt đi là hình ảnh những Kitô hữu biến chất. Hình ảnh muối đất mà Đức Giêsu đưa ra làm ví dụ cho biết chúng ta bị biến chất khi chúng ta không còn mặn, nghĩa là trở thành vô dụng. Nói khác đi, người công giáo bị biến chất khi bên trong lẫn bên ngoài của người đó hoặc phai nhạt hoặc mất hẳn những tính chất biểu hiện con cái, môn đệ của Chúa. Sụ biến chất này bắt nguồn từ nơi thâm sâu của cõi lòng khi chạm trán với những đòi hỏi gắt gao của Tin mừng, của giới răn bằng việc hoặc dễ dàng chấp nhận sự đầu hàng buông xuôi, hoặc thỏa hiệp theo chủ trương mong ước trần tục của mình. Từ đó, chúng ta dần dần bằng lòng với cuộc sống tầm thường và chiếu theo những thói quen kiểu đạo đức dễ chịu. Tất nhiên hậu quả là chúng ta không còn là muối nữa.
Truyện : Bình đựng muối trống rỗng.
Sưu tầm mọi thứ đủ loại là môn chơi phổ biến ngày nay. Người ta sưu tầm tem thư, cúc áo, vỏ chai, sách hiếm, tiền cũ… Nghĩa là tất cả những thứ bạn có. Một nhóm những người sưu tầm đã tổ chức triển lãm ở một nhà hội Công giáo. Một người khách viếng thăm phòng triển lãm cầm ly cà phê và thịt quay, ông vừa đi vòng quanh vừa ăn. Khi người khách đi qua chỗ trưng bầy sưu tập cả hàng trăm cặp bình đựng muối và hạt tiêu, ông ta thấy thịt quay của ông cần muối, ông liền đặt ly cà phê xuống và với lấy một bình đựng muối, nhưng không có muối. Ông mở cả một tá bình đựng muối, nhưng cũng không có một hạt muối nào. Cuối cùng, ông trở lại gian hàng đồ ăn để kiếm muối.
Hàng trăm cặp bình đựng muối mà không có muối. Đó là bức họa đời sống ! Rất nhiều người được coi là “có muối” mà thực ra lại không có muối. Sự kiện này giúp chúng ta hiểu điều Chúa Giêsu nói hôm nay :”Các con là muối đất” (Arthur Tonne, Bài giảng Tin mừng A, tr 37).
Các con là ánh sáng thế gian (Mt 5,14).
Đức Giêsu còn khuyên chúng ta phải trở nên ánh sáng thế gian để soi sáng cho những người đang lần mò trong đêm tối của tội lỗi để đem ánh sáng đức tin đến cho họ.
a)Ánh sáng và cuộc sống
Ánh sáng là loại vật chất mà nhờ đó, người ta nhận thấy các vật chung quanh mình. Ở những nơi tối, người ta càng cần tới ánh sáng và càng nhận thức rằng ánh sáng rất cần cho sự sống. Có thể nói : không có ánh sáng không thể có sự sống. Ánh sáng kích thích cây cối hoa mầu sống phát triển mạnh mẽ. Thiếu ánh sáng chúng bị úa, bị chết yểu. Thế kỷ 20 mệnh danh là “thế kỷ ánh sáng”. Biết bao nhiêu phát minh tân kỳ từ đèn điện, bếp điện đến những phát thanh truyền hình, rada, quang tuyến, siêu âm, vi tính, cáp quang…
Khi có ánh sáng, người ta không thể che giấu được vật gì, tốt cũng như xấu. Để diễn tả điều này, Đức Giêsu đã nói :”Một thành phố xây dựng trên núi, không tài nào che giấu được”(Mt 5,14).
Các thành phố Do thái xưa thường được xây trên núi như Nazareth, Giêrusalem… nên từ xa đã nhìn rõ toàn thể thành phố.
Từ bờ hồ Tibériade, người ta thấy thành Saphed, ở trên cao với cao độ hơn 1000 mét, thành được xây trên những núi nằm ngang của dẫy núi Galilê, chiếu ánh sáng của nó ra chung quanh. Đức Giêsu đã thường thấy những căn nhà mầu trắng của thành được mặt trời chiếu sáng.
b) Kitô hữu và ánh sáng.
Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta như Người đã xác nhận :”Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không mất đi trong đêm tối tăm, nhưng sẽ được ánh sáng ban sự sống”(Ga 8,12) và ban cho chúng ta ánh sáng. Ngài nói :”Chính các con là ánh sáng cho trần gian”(Mt 5,14). Dĩ nhiên, chúng ta không phải là nguồn ánh sáng mà chỉ là ánh sáng phản chiếu của Chúa Kitô.
Vậy bản chất của ánh sáng là chiếu ra ngoài hay chiếu vào trong nó ? Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho chung quanh nó. Chính Đức Giêsu đã nói :”Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời”
Ánh sáng phải chiếu tỏa ra, nhưng tỏa ra như thế nào đây ? Chắc chắn không phải chỉ bằng những lời kêu gọi trống rỗng, vô hồn vì chẳng mấy ăn nhập với đời sống của người lên tiếng. Nhưng tốt hơn là để cho lời kêu gọi hoán cải, thánh hóa dính kèm với những biểu tỏ cụ thể, sống động, hoặc để cho lời mời gọi ấy tiềm tàng trong những gương mẫu tích cực của đời sống. Điều này chính Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Phaolô VI cũng đã phát biểu cách mạnh mẽ răng :”Con ngưởi thời nay tin vào các nhân chứng hơn là thầy dạy”.
Năm 1937, Gandhi, một lãnh tụ vĩ đại của Ấn độ, đã nói với các nhà truyền giáo :”Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu, chứ không phải là chú giải nó”.
Quả thật, chính khi nỗ lực đáp lại lời mời nên muối và ánh sáng cho trần gian, là chúng ta tự làm cho mình nên cao cả và hạnh phúc. Chúng ta phải xác tín rằng lời kêu gọi của Chúa Kitô qua sứ điệp Tin mừng hôm nay không phải đến từ bên ngoài, nhưng nó đã được khắc sâu từ trong tâm khảm của mọi người chúng ta, và nó vẫn hằng thống thiết kêu gọi chúng ta phải tích cực đáp lại để kiến tạo niềm vinh phúc cho mình và những người chung quanh. Chớ gì chúng ta sẽ không bao giờ còn ngập ngừng hoặc bịt tai lại nữa.
SỨ MẠNG CỦA KITÔ HỮU
Phải có tinh thần truyền giáo.
Với hai hình ảnh của muối và ánh sáng đã được Đức Giêsu phát biểu theo chiều hướng truyền giáo rõ rệt, khó có thể hiểu khác đi. Chúng ta chứng minh mình là môn đệ Đức Giêsu qua cuộc sống đức tin, lối yêu thương, tinh thần Tin mừng.
Giáo hội lúc nào cũng nỗ lực truyền giáo, bỏ ra biết bao nhiêu nhân lực và tài lực vào công việc này. Nhưng… hiện nay, dân số Kitô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Kitô hữu đang càng ngày càng giảm khoảng từ 50 năm nay, nhất là tại Âu châu. Tại châu Âu, nơi trước đây số Kitô hữu đã lên tới 70%, thì nay tỷ lệ người Kitô hữu thực hành đạo thực sự (pratiquants) chỉ cò chưa tới 5% (có người cho biết chỉ còn 2,5 hoặc 3%). Tại châu Á, tỷ lệ người Kitô hữu hiện nay – theo thống kê của Tòa thánh tính đến cuối năm 1998 – chỉ được 2,7%. Số Kitô hữu gia tăng chủ yếu là do trẻ con vừa lọt lòng mẹ thì đã thành Kitô hữu do được rửa tội sớm, và số người lớn trở lại Kitô giáo chủ yếu là do việc kết hôn với người Kitô hữu đòi buộc. Số người giác ngộ Kitô giáo tự nguyện theo thì rất ít. Thực trạng đó quả không đáng tự hào chút nào.
Truyền giáo bằng chứng tá.
Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về bổn phận tông đồ truyền giáo của người Kitô hữu trong môi trường sống. Bổn phận này đòi hỏi theo bản chất, nghĩa là người Kitô hữu không thể sống mà không làm việc truyền giáo trong môi trường mình sống.
Là ánh sáng, chúng ta phải chiếu soi cho thế gian bằng đời sống gương sáng và đem tinh thần Chúa Kitô thấm nhiễm vào môi trường sống của mình. Chúa bảo chúng ta :”Các con hãy là chứng nhân của Thầy”, nhưng nhiều khi chúng ta vô tình hay hữu ý đã trở thành phản chứng, làm méo mó khuôn mặt của Đức Kitô, khiến người ta không muốn theo Chúa.
Ta hãy nghe Mahatma Gandhi – được Ấn độ xem như là một vị thánh – nói về cách sống đạo của những Kitô hữu trong xã hội của ông. Ông đã lên tiếng, có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ họ : Nếu những người Kitô hữu ở Ấn độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì họ chẳng cần mất công rao giảng, toàn Ấn độ sẽ trở thành Kitô hữu hết.
Trước mắt ông, người Kitô hữu, cụ thể là người Anh đang đô hộ dân tộc ông – cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Kitô, nhưng ông không thể trở nên Kitô hữu, vì những người đem Kitô giáo đến với dân tộc ông – người Anh – lại chính là những người đang nô lệ hóa dân tộc ông, đàn áp dân tộc ông một cách dã man. Ông không thể tin rằng dân Ấn độ hiền lành của ông cứ phải gia nhập cái đạo của những người đang quàng ách nô lệ lên dân tộc ông thì mới được cứu rỗi. Nếu những kẻ nô lệ hóa dân tộc ông một cách bỉ ổi mà được Thượng Đế thưởng công chỉ vì họ là người Kitô hữu, đang khi dân tộc hiền hòa của ông lại bị phạt chỉ vì không phải là Kitô hữu, thì một vị Thượng Đế như thế không thể chấp nhận được.
Đức Giêsu dùng hai hình ảnh “muối và ánh sáng” là có ý nhắm tới bản chất của các môn đệ, của người Kitô hữu hơn là nói tới việc làm của họ. Muối tốt không thể không ướp mặn. Ánh sáng không thể không chiếu sáng. Người môn đệ, Kitô hữu sống các mối phúc thật không thể không gây tác động và ảnh hưởng ra chung quanh. Đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”.
Truyện : Ánh hào quang
Lobsang Rampa là một thiền sư Tây tạng nổi tiếng trên thế giới với tác phẩm “Con mắt thứ ba” (Le troisème oeil). Viện văn hóa nghệ thuật Việt nam đã dịch nó thành “Các Lạt Ma hóa thân”. Ở trang 11-12 (Bản Việt ngữ) viết rằng : “Theo khoa học huyền môn, thể xác con người chỉ là một lớp vỏ, một áo khoác bên ngoài của một linh hồn hay “Chân ngã”… Quanh con người có một vầng hào quang thô thiển phản ánh nguồn sinh lực bên trong. Một người thánh thện hay khỏe mạnh thì hào quang sáng rõ, vươn ra cách thể xác vài phân. Một người tội lỗi hay yếu đuối thì hào quang mờ tối, thu sát vào thể xác. Khai mở Thần nhãn để quan sát vầng hào quang này, ta có thể biết được chân tướng mọi người mọi vật hay tình trạng sức khỏe của một người để chữa bệnh.
Đúng thời kỳ sinh nhật thứ 9 của tôi, tôi được đưa vào một căn phòng đặc biệt. Bốn vị Lạt ma Trưởng Lão trong đó có sư phụ tôi cũng đến đó truyền dạy cho tôi những phép bí truyền để khai mở Thần Nhãn… Sau 9 tháng công phu luyện tập, tôi đã thành công… Lần đầu tiên tôi mở mắt ra sát chung quanh, một kinh nghiệm lạ lùng xẩy ra khiến tôi xúc động. Tôi thấy có 4 vị Lạt Ma Trưởng Lão đều được bao phủ quanh mình bởi một hào quang chói lọi như ánh lửa. Về sau tôi hiểu rằng các vị Trưởng Lão có một đời sống rất tinh khiết mới có được hào quang như vậy.
Khi tôi khai mở Thần Nhãn, tôi phát hiện những rung động khác nữa, xuất phát từ cái trung tâm hào quang đó. Nhờ đó tôi có thể đoán biết tình trạng sức khỏe của một người ra sao. Cũng như thế, bằng cách xem sự thay đổi mầu sắc của hào quang, tôi có thể đoán biết kẻ đó nói dối hay nói thật.
Albert Camus nói :”Ngày nay, thế giới cần những Kitô hữu vẫn luôn là Kitô hữu”.
——————————————————
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN- NĂM A
NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ- Lm FX Vũ Phan Long, ofm
Ngữ cảnh
Bản văn đọc hôm nay nằm trong Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và nói đến sứ mạng của người môn đệ “trong thế gian”. Bản văn được trực tiếp kết nối với các “Mối Phúc” (5,3-12). Các câu 11-12 nói về bách hại chỉ là những câu nhắc lại c. 10 và chuyển tiếp. Nhưng cụm từ “phúc thay anh em” cho phép ta móc với từ “anh em” ở c. 13. Những người nhận bản văn này không phải là một hạng tín hữu đặc biệt, nhưng là các môn đệ đã được nói đến ở đầu chương (5,1) và được ngỏ lời trực tiếp ở cc. 11-12. Cộng đoàn Kitô hữu được nhắc nhớ đến bổn phận truyền giáo.
Bố cục
Bản văn có thể chia làm hai phần:
– Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (5,13);
– Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (5,14-16).
Vài điểm chú giải
– anh em là (13): Đức Giêsu nói trực tiếp với các môn đệ Người, để xác định sứ mạng của họ. Đây không phải là một gợi ý về một chiều hướng nên theo, nhưng là một khẳng định về tư cách, ơn gọi. Cũng có thể thấy cụm từ này có liên với Xh 19,6 (“Còn các ngươi, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế cho Ta và một dân tộc thánh”). Như Đức Chúa (YHWH) đã chọn dân Ngài giữa các dân nước và xác định tư cách của họ, Đức Giêsu cũng đã chọn các môn đệ trong loài người và bây giờ xác định sứ mạng cho họ.
– muối cho đời… ánh sáng cho trần gian (13.14): dịch sát là “muối của đất (gê)” và “ánh sáng của thế gian/ trần gian (kosmos)”. Vì “đất” được dùng song song với “trần gian”, nó không có nghĩa là đất bùn, đất bột, đất thịt, nhưng là “trái đất”, tương tự với “trần gian”, “thế gian”. Cả hai từ “đất” và “trần gian” ở đây đều có nghĩa là “toàn thể nhân loại”, tức có một tầm mức phổ quát.
– để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm (16): Dường như câu này mâu thuẫn với Mt 6,1-18 (nhất là với cc.1-2.5.16)? Thật ra, các bản văn nêu ra hai lý do khác nhau: ở đây lý do là vinh quang của Cha trên trời; trong 6,1-18, lý do là việc chúc tụng ngợi khen cá nhân mà đương sự đi tìm để thỏa mãn tính khoe khoang của mình (x. 6,2-5). Hai bản văn cũng nói đến hai cách thức xử sự khác nhau: ở đây, người môn đệ chỉ đơn giản tỏ mình ra là môn đệ của Đức Kitô, là Kitô hữu; còn ở 6,1-18, Đức Giêsu kết án sự khoe khoang người ta tỏ ra để lôi kéo sự chú ý của người khác.
Ý nghĩa của bản văn
Mối Phúc cuối cùng liên hệ đến những người bị bách hại vì sống công chính (5,10). Chính Mối Phúc này được Đức Giêsu lấy lại mà ngỏ trực tiếp với các môn đệ, là những người đang ở ngay bên Người, và với đám đông đang nghe Người (5,1): “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (5,11). Đức Giêsu đã loan báo cho các môn đệ biết ngay từ đầu phản ứng tiêu cực của môi trường, nếu họ sống trung thành với Người, nếu họ tìm sự công chính và quy hướng lối sống của họ theo chương trình của Người. Họ phải trả lời thế nào? Ai cũng coi trọng việc mình được chấp nhận và nhìn nhận. Phải chăng các môn đệ phải thích nghi với môi trường của họ, để được môi trường chấp nhận? Phải chăng họ phải giới hạn quan hệ với một vòng những người có cùng những ý tưởng như nhau, để khỏi gây mâu thuẫn? Cho họ cũng như cho tất cả các Kitô hữu, hôm nay còn đang thường xuyên bị cám dỗ từ chối chân tính của mình và tìm thích nghi, hoặc bị cám dỗ rút lui vào đàng sau cánh cửa, Đức Giêsu giao cho nhiệm vụ làm muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. Nhờ đó, cho dù họ có bị sỉ nhục (5,11), họ vẫn đưa được người ta đến chỗ tôn vinh Chúa Cha trên trời (5,16).
* Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (13)
Khi khẳng định rằng các môn đệ là “muối cho đời”, Đức Giêsu cho hiểu các môn đệ có sứ mạng truyền giáo. Do ơn gọi, họ phải đóng một chức năng đối với những người khác tương tự muối đối với các thức ăn (giữ cho khỏi hư thối, làm cho thêm hương vị). Không có muối, thức ăn bị hỏng; không có người Kitô hữu, xã hội thiếu mất một sức mạnh thiêng liêng và luân lý có khả năng gìn giữ xã hội khỏi những sự dữ đang muốn xâm nhập vào. Do đó, sự hiện diện của người Kitô hữu không phải là không đáng kể hoặc có hay không cũng vậy. Giống như muối, sự hiện diện của Kitô hữu không thể thay thế. Không ai có thể đứng vào vị trí của họ nếu họ bị suy yếu đi. Tác giả lưu ý và răn đe các Kitô hữu coi chừng kẻo mình trở nên nhạt nhẽo đi. Họ cũng sẽ như muối, khi đã nhạt thì chỉ còn đáng loại bỏ (x. 5,22.29).
* Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (14-16)
Hình ảnh ánh sáng (cc. 14-15) là hình ảnh của Kinh Thánh (x. Xh 3,2; Is 60,19; Is 42,6). Tác giả Gioan gán cho Đức Giêsu chức năng mà ở đây Mt gán cho các môn đệ. Bóng tối, đêm tối, trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, là biểu tượng của các thế lực sự ác (x. Mt 8,12; Lc 22,53). Môn đệ Đức Kitô được thông dự vào sự sáng của Thiên Chúa, như Môsê khi xuống núi có mang trên mặt phản ánh vẻ uy hùng của Thiên Chúa (Xh 34,35). Không thể có chuyện Kitô hữu đi qua mà không ai biết; không ai có thể dửng dưng trước ánh huy hoàng thiêng liêng mà Kitô hữu đang tỏa ra. Giống như ánh sáng, Kitô hữu đi vào những nơi sâu thẳm nhất và kín ẩn nhất của trái tim con người và đưa ra ánh sáng những lỗ hổng mà ta gặp trong đó.
Lời khẳng định được minh giải bằng hai hình ảnh (c. 15). “Thành xây trên núi” có thể gợi ý đến Giêrusalem thiên sai, là điểm thu hút tất cả các dân tộc (x. Is 2,2-5; 60,1-2.19-20). Các Kitô hữu tháp vào trong thế gian như một nguồn ánh sáng từ đó mọi người có thể nhận được sự nâng đỡ và định hướng. “Thành xây trên núi” nêu bật tính khả thị (thấy được), điểm quy chiếu là chính tư cách của Họi Thánh Đức Kitô cho tất cả mọi người. Hình ảnh này được nhắc lại bằng hình ảnh cái đèn đặt trên đế. Căn phòng trong đó gia đình và bạn bè quy tụ lại trở nên sinh động nhờ ánh sáng của đèn. Hai hình ảnh này cũng có thể được áp dụng cho từng người môn đệ. Do ơn gọi, người môn đệ phải thông chia ánh sáng cho người khác. Họ không được thiếu ánh sáng, và càng không được thiếu trách nhiệm vì không tạo được một ảnh hưởng tốt nào trong cộng đoàn. Ánh sáng đây không phải là ánh sáng của các lời nói, cũng chẳng phải là ánh sáng của chân lý lý thuyết, nhưng là ánh sáng của “các việc tốt”, như Đức Giêsu đã đề cập đến (4,23-25) và đã làm (5,3-11) và sẽ còn nhắc đến (7,23; 25,31-46) trong các diễn từ của Người.
Khi đó người ta nhận ra rằng những ân huệ người môn đệ đang có phát xuất từ Thiên Chúa; họ sẽ chúc tụng ngợi khen Ngài. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa đòi hỏi con người hành động để tán dương Ngài, khi mà ta thấy là hoạt động cứu độ của Đức Kitô chứng tỏ rằng mọi sự là nhắm mưu ích cho những con cái Thiên Chúa “tuyển chọn” (x. Mt 5,44-48).
+ Kết luận
Từ bản chất của nhiệm vụ được ký thác cho họ, các môn đệ phải là như ánh sáng và muối cho người khác. Bởi vì nhiệm vụ của họ là thúc bách và lôi cuốn, họ phải ở trước mặt người ta, chứ không tránh né. Bởi vì bổn phận của họ là đưa đến một cái hoàn toàn mới, họ phải duy trì chân tính của họ, chứ không được tự đồng hóa với môi trường của họ. Chính các “việc tốt” giúp cho môn đệ sống đúng tư cách muối và ánh sáng.
Đời sống của các môn đệ đi theo các huấn thị của Đức Giêsu được coi như là một nhiệm vụ lớn. Không ai có thể thay thế họ được; họ phải chịu trách nhiệm về sự kiện trần gian nhận được hương vị và trở thành chan hòa ánh sáng. Xuyên qua đời sống họ, họ phải bày tỏ cách thức hiện hữu của Thiên Chúa, họ phải truyền thông niềm vui của các đứa con với Chúa Cha và chinh phục loài người về cho gia đình Ngài.
Gợi ý suy niệm
– Muối tăng thêm hương vị; muối thấm vào thực phẩm để giữ cho khỏi hư thối. Muối hòa tan ra, và được phân phối trong tất cả khối lương thực. Muối có mặt khắp nơi trong khối lượng thực, nhưng muối vẫn là muối, thì mới giữ được giá trị và tính hữu hiệu của mình. Giống như muối, các môn đệ Đức Giêsu phải hiện diện trong môi trường và liên kết với môi trường. Nhưng họ phải cứ là muối, phải bảo toàn được cách cách thức sống của Cha họ (5,48). Muối không phải là một viên ngọc, một nén bạc phải được cất giữ hoặc đưa ra mà làm cho sinh lãi, nhưng là một chất gia vị. Nó sinh tác dụng khi nó chấp nhận “tự hủy” đi, hòa tan vào thực phẩm. Kitô hữu là muối cho đời, bởi vì người ấy không được kêu gọi đi vào một cuộc sống tách biệt, xa rời những người khác, nhưng bởi vì người ấy biết tan biến mình đi trong đại gia đình nhân loại để hỗ trợ bất cứ ai cần. Hình ảnh muối chống lại mọi thứ tinh thần phân lập (separatism) kiểu Pharisêu và gợi đến dụ ngôn men vui trong bột (13,23). Kitô hữu không những là người của những người khác, mà còn được gọi sống với những người khác, theo chiều hướng của Đức Kitô (bạn của người tội lỗi và thu thuế: 11,19).
– Hình ảnh của ánh sáng đi song song với hình ảnh muối, vì ánh sáng cũng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người. Không có ánh sáng, thì không thể có sự sống; mọi sự chìm vào trong bóng tối và trở nên hỗn độn (x. St 1,1). Như thế, trách nhiệm của người Kitô hữu là không thể lường được. Nếu sự dữ không lui đi, là vì ánh sáng phải đánh đuổi sự dữ đi lại quá yếu hoặc tệ hại hơn nữa, lại tắt mất rồi!
– Các môn đệ của Đức Giêsu phải đói khát sự công chính, đói khát lối xử sự công chính (5,6), và đó là mối quan tâm đầu tiên của họ. Cách xử sự này là hình thức căn bản qua đó họ làm chứng về Thiên Chúa Cha. Xuyên qua lối xử sự của họ, các môn đệ phải đưa loài người đến chỗ quan tâm, suy nghĩ và tự hỏi, sao cho cuối cùng loài người cũng hòa với họ trong việc ca ngợi Thiên Chúa. Vậy các môn đệ phải bắt chước cách xử sự của Chúa Cha. Chỉ như thế thì qua lối sống của họ, bản chất của Chúa Cha mới được mạc khải ra và nhận biết. Nhờ những người sống như là con của Ngài, Thiên Chúa muốn được nhìn nhận như là Cha nhân lành và lôi kéo càng ngày càng nhiều người đến với Ngài.
– Các môn đệ Đức Giêsu phải là một điểm quy chiếu và là ánh sáng, làm cho mỗi sự vật xuất hiện ra trong bộ mặt thật của nó và trong giá trị thật của nó. Do đó, họ phải ở vào một vị trí dễ thấy. Kitô hữu không được quên và càng không được cắt đứt sự thông truyền các ân ban mình đang có cho kẻ khác. Họ không được chạy lung tung để tìm người theo phe mình. Họ cũng không được rút lui vào tình trạng vô danh hoặc náu mình vào trong đám đông. Chỉ khi họ có thể thấy được, chứ không đi trốn hoặc đi ngụy trang, thì nhờ họ, Thiên Chúa mới có thể được nhận biết như là Cha nhân lành. Chỉ có lòng nhân ái, lòng tốt, tình yêu, tinh thần phục vụ mới có thể trở thành ánh sáng cho người khác.
– Môn đệ Đức Kitô phải là một ngọn đèn đặt trên đế để soi chiếu cho mọi người trong nhà. Ở vào vị trí sao cho người ta thấy được mình thì hoàn toàn khác với việc tìm cách khoe mình (x. 6,1-18) vì những động lực khác. Chúng ta phải cho thấy các việc tốt đã làm không phải để được người ta khen ngợi (6,2), nhưng để cho nhờ ta trung thành sống bản tính con Thiên Chúa trước mắt người khác, Thiên Chúa được khen ngợi (5,16).
————————————————————–
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN- NĂM A
NGƯỜI KITÔ HỮU LÀ MUỐI ĐẤT VÀ LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Sau khi công bố Tám Mối Phúc, Chúa Giêsu phán tiếp những lời hằng sống, mở ra cho chúng ta chân trời hạnh phúc dẫn đến sự sống đời đời. Như thế, cách nào đó, Người mời gọi chúng chọn lựa cách sống, nói “vâng” sống theo Người.
Quả thật, những lời Chúa Giêsu chứa đựng căn tính Kitô giáo của chúng ta : “Các con là muối đất… Các con là sự sáng thế gian” (x. Mt 5, 13-14). Điều đáng nói ở đây là Chúa Giêsu không chỉ nói các môn đệ đơn giản là “ muối” và là “ánh sáng” nhưng là “muối” “ đất” và là “sự sáng” “thế gian”.
Tại sao lại là muối đất ?
Muối theo nền văn hóa Trung Đông gợi lên nhiều giá trị như giao ước, tình liên đới, sự sống và sự khôn ngoan. Trong Cựu ước, muối tượng trưng cho sự trung thành của Thiên Chúa. Bởi Thiên Chúa đã ký kết với dân người một khế ước bằng muối : “Ðó là giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Ðức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi” (Ds 18,19). Trong Tân ước, Chúa Giêsu nói : “ Các con là muối đất ” (Mt 5, 13).
Muối là một trong những vị cần thiết nhất cho con người. Muối còn có nhiều công dụng như dùng để tra vào đồ ăn để món ăn thêm hương vị mặn mà, ướp đồ ăn tránh khỏi hư.
Qua các hình ảnh giầu ý nghĩa này, Chúa Giêsu muốn thông truyền cho các môn đệ mình và cả chúng ta ngày hôm nay nữa ý nghĩa sứ mệnh và chứng tá của Tin Mừng. Thêm hương vị, là thêm sức sống ơn thánh. Ướp đồ ăn cho khỏi hư, nghĩa là bảo vệ chân lý hằng sống.
Sao lại là sự sáng thế gian ?
Khi Chúa Giêsu nói : “Các con là sự sáng thế gian” (Mt 5,14). Chúng ta biết rằng ánh sáng là công trình đầu tiên của Thiên Chúa Sáng Tạo và là nguồn mạch sự sống. Chính Lời của Thiên Chúa cũng được so sánh với ánh sáng, như tác giả Thánh Vịnh công bố: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho đi” (Tv 119.105). Cũng trong phụng vụ hôm nay ngôn sứ Isaia nói: “Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi. Như thế, sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông” (Is 58,10).
Sự khôn ngoan tóm gọn nơi mình các hiệu quả ích lợi của muối và ánh sáng : thật thế, các môn đệ Chúa được mời gọi trao ban hương vị mới cho thế giới và giữ gìn nó khỏi hư thối, với sự khôn ngoan của Thiên Chúa tỏa sáng rạng ngời trên gương mặt Chúa Con, vì “Ngài là ánh sáng thật chiếu soi mọi người” (Ga 1,9).
Là muối đất và là sự sáng thế gian
“Các con là sự sáng thế gian”, những lời này chứa đựng sứ mạng được sai đi. Hành động và con người của các kitô hữu liên kết chặt chẽ với nhau, chứng tỏ rằng nhiệm vụ của “muối” và “ánh sáng”cho trần gian là của riêng chúng ta và không ai làm thay chúng ta. Vì thế, chúng ta phải chịu trách nhiệm và những gì chúng ta là Kitô hữu.
Trở lại với hình ảnh của muối. Hỏi rằng, có thức ăn nào của con người mà không có sự hiện diện của Chúa Kitô trong các bí tích, Lời Người và hành động yêu thương nhân hậu của Chúa Thánh Thần ? Nên chúng ta phải duy trì nhận thức về sự hiện diện của Chúa Cứu Thế ở giữa loài người, nhất là trong Bí Tích Thánh Thể, tưởng niệm cái chết và sự phục sinh vinh quang, loan báo quyền năng cứu độ tiềm ẩn trong Tin Mừng của Chúa. Hiệp nhất với Người, các kitô hữu có thể chiếu sáng giữa các bóng tối của sự thờ ơ và ích kỷ ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa, sự khôn ngoan thật trao ban ý nghĩa cho cuộc sống và hành động của con người.
Muối là hương vị giữ thức ăn. Người kitô hữu được kêu gọi cải thiện cái “hương vị” lịch sử loài người. Đó là thực hành trong cuộc sống ba nhân đức đối thần đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội. Điều đến từ Thiên Chúa luôn làm cho con người trở nên người hơn, hơn bao giờ hết là hình ảnh Chúa và giống Thiên Chúa. Nhờ đức tin, đức cậy và đức mến, chúng ta được mời gọi chiếu sáng và thể hiện lòng nhân giữa một thế giới sống trong đêm đen của thử thách, của tuyệt vọng và thờ ơ . Bài đọc I nhắc nhở chúng ta rằng : “Nếu ngươi loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích, thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày” (x. Is 58,7-10).
Do đó, mối liên kết giữa “muối” và “ánh sáng” được thể hiện. Lời Chúa Giêsu gửi đến mỗi chúng ta là hãy tỏa sáng “ánh sáng” trước mặt mọi người, nghĩa là toàn bộ đời sống ta phải phản ánh ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, chúng ta đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội : “Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” ( x. 2 Cor 1, 22). Ngọn lửa này tỏa sáng qua việc loan báo Tin Mừng với lòng từ tâm, Tin Mừng cứu độ cho hết mọi người trong Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại.
Đức nguyên Giáo hoàng Bênêdictô XVI nhắc lại rằng “Quả thật, lời rao giảng và chứng tá cho Tin Mừng là công việc phục vụ đầu tiên mà những người kitô có thể cống hiến cho mọi người cũng như cho toàn thể nhân loại, xét vì những người kitô là những kẻ được mời gọi thông truyền cho tất cả mọi người tình yêu của Thiên Chúa Cha, được biểu lộ trọn đầy nơi Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Thế Duy Nhất của thế giới”. (Diễn văn tại Ðại Học Truyền Giáo Roma 11/3/ 2006 nhân dịp kỷ niệm bốn mươi của Nghị định “Ad gentes” của Công Đồng Vatican II).
Việc phục vụ loan báo Tin Mừng được thực hiện trong “Đức ái”, không dựa vào những lời quyến rũ khôn ngoan của loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và “quyền năng Chúa Thánh Thần” (x. Bài đọc II).
Lạy Chúa Thánh Thần, xin dạy chúng con làm thế nào để tuyên xưng đức tin của chúng con, xin biến chúng con trở nên những người của Tám Mối Phúc Thật là muối đất và ánh sáng thế gian.
———————————————————————
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN- NĂM A
“ĐỪNG THÍCH LÀM MẶT TRỜI”- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Thi sĩ Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa) viết bài thơ “Đừng thích làm mặt trời”. Lời thơ thật nhẹ nhàng mà sâu lắng. Nhiều hình ảnh so sánh rất gần gũi thân thương của đời thường.
Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Hãy cố gắng con ơi.
Làm những điều nhỏ mọn
Chỉ vì mến Chúa thôi.
Tặng người con không thích
Một nụ cười thế thôi.
Đôi mắt nhìn trìu mến
Để chia sẻ tâm tình
Với một người đau khổ.
Viếng thăm và giúp đỡ
Người bệnh tật già nua.
Đừng ngại nắng ngại mưa.
Thấy Chúa trong người họ
Không mắng la nạt nộ.
Đừng giận dữ một ai.
Chút mật bắt nhiều rồi
Hơn giấm chua từng hũ.
Hiền lành và tha thứ
Biết rộng rãi khoan dưng.
Theo Chúa ở khiêm nhường
Và sẵn sàng phục vụ.
Việc làm tuy bé nhỏ
Giá trị thật vô cùng
Làm mặt trời đừng mong.
Cũng đừng mơ làm sao sáng…
Đọc thơ, tôi liên tưởng đến hình ảnh Muối và Ánh Sáng của Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.
Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Chỉ mong làm muối đất.
là ánh sáng Chúa thôi.
Hiến chương Nước trời được Chúa Giêsu công bố trong Tin mừng Chúa nhật vừa qua. Tiếp theo bài giảng trên núi, Chúa Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ: “Anh em là muối cho đời… anh em là ánh sáng thế gian”.
Anh em là muối cho đời, một định nghĩa tuyệt vời về Kitô hữu.
Sử gia Pliny viết: “Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng“. Không có ánh sáng, cỏ cây sẽ úa tàn. Không có muối, sơn hào hải vị cũng sẽ ra nhạt phèo. Chúa Giêsu ví các môn đệ của Ngài như muối đất và ánh sáng của trần gian. Đây là một vinh dự cho các môn đệ vì họ được mời gọi tham dự vào sứ mệnh làm muối đất, ánh sáng của Chúa Kitô.
Chúa Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng soi chiếu trần gian u mê (Mt 4,16; Pl 2,15; Ep 5,8). Ngài đến để giảng dạy cho thế gian biết đâu là hạnh phúc chân thật: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Chúa Giêsu đã chữa lành những kẻ bị tật nguyền, xoa dịu những tâm hồn đau khổ. Như muối đất, tình yêu của Ngài được biểu lộ qua những nghĩa cử bác ái và cái chết, đã làm cho trần gian tẻ nhạt và khổ đau thêm mặn mà, ý vị.
“Muối đất“. Muối được dùng để khử trùng, gìn giữ thức ăn và để nêm vào các món ăn cho thêm hương vị mặn mà. Nếm một món ăn thiếu muối sẽ thấy nhạt nhẽo. Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món ăn trở nên đậm đà và dễ ăn. Người bị bệnh cao huyết áp phải ăn lạt nên thường mất ngon khi ăn. Người Việt thường dùng nước mắm để nêm các món ăn, nhưng vẫn phải thêm muối, món ăn mới hấp dẫn.
Vào thời Chúa Giêsu, muối tượng trưng cho tính hiếu khách. Khách đến nhà thường được tặng bánh mì và muối, biểu hiệu sự tiếp đón nồng hậu.
Ngày xưa, khi chưa khám phá ra phân bón hóa học, người ta dùng muối để làm đất đai thêm phì phiêu. Khi chưa có tủ lạnh, muối còn được dùng để ướp cá, thịt và thức ăn, cất giữ được lâu ngày hơn. Chúa Giêsu sai các môn đệ đến trong thế gian như người ta nêm muối vào thức ăn để thêm hương vị và giữ được lâu. Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng. Mặn thuộc về bản chất của muối.Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng. Vị mặn là tình yêu tha nhân mặn mà. Yêu Chúa mặn nồng, yêu tha nhân mặn mà, đời sống Kitô hữu sẽ ướp hương vị tình yêu mặn mòi cho cuộc đời.
Anh em là ánh sáng cho trần gian, một định nghĩa quá cao trọng về Kitô hữu.
Chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga1,5), chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12). “Anh em là ánh sáng” vì anh em gần Thầy “gần đèn thì sáng”.
“Ánh sáng thế gian“. Một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt đó là đèn dầu. Một căn nhà có đèn sáng báo hiệu đang có người ở, có sự sống. Một người đi lạc trong đêm tối hẳn sẽ rất sung sướng khi thấy có ánh đèn. Ánh đèn đem lại niềm vui và thu hút mọi người.“Các con là ánh sáng thế gian”, đây là lời mời gọi truyền giáo, qua đời sống, qua lời nói và hành động, Kitô hữu được mời gọi làm ánh sáng hy vọng cho những ai đang lần bước trong bóng tối tuyệt vọng, dẫn dắt họ đến với Chúa. Trong bóng đêm mịt mùng, một ánh lửa nhỏ cũng có thể được nhìn thấy từ xa.
Chúa Giêsu không nói: các con hãy cố gắng làm muối đất và trở nên ánh sáng cho thế gian nhưng lại nói: “Các con là muối đất và là ánh sáng thế gian”, bởi vì các con là môn đệ của Thầy, vì các con đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.
“Các con là sự sáng thế gian“, sự sáng này không phải do chúng ta tạo nên, nhưng phát xuất từ Chúa Kitô: “Ta là sự sáng thế gian” (Ga 8,12). Chúa Giêsu muốn chúng ta như tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài, cho mọi người và cho mọi nơi. Do đó, ánh sáng được chiếu tỏa không phải cho chúng ta được vinh danh, nhưng cho vinh quang của Chúa: “Sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời“.
Muối đất, sự sáng thế gian: hai hình ảnh cùng diễn tả một lời mời gọi. Tiên tri Isaia, trong Bài đọc 1 đưa ra những phương cách để giữ muối khỏi “lạt” và ngọn đèn luôn chiếu sáng. Đó là sống bác ái, chia cơm sẻ bánh cho người nghèo đói, tiếp đón những kẻ bất hạnh vô gia cư, cho quần áo những người không đủ mặc… Khi ấy, “ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày“.
Có lẽ nhiều người sẽ tự nhủ: làm sao mình có khả năng và xứng đáng làm muối đất và sự sáng cho mọi người? Nắm muối gồm những hạt muối nhỏ dồn lại, đèn sáng được nhờ những giọt dầu góp lại. Những hạt muối nhỏ đó, những giọt dầu đó là những việc bé nhỏ mà chúng ta thực hiện trong đời sống hằng ngày: những nụ cười, lời nói lịch thiệp, những cử chỉ bác ái khiêm nhường, thái độ biết lắng nghe, sống tha thứ biết nghĩ đến người khác…
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến chứng từ muối đất và ánh sáng trần gian của Kitô hữu. Nếu chúng ta thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương thì chính đời sống, việc làm, việc bác ái sẽ mang lại hương vị cuộc đời, hương thơm cho mọi người, chiếu tỏa ánh sáng giúp nhiều người đến với Chúa là “nguồn ánh sáng và ơn cứu độ ” (Tv 2,1). Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu để rồi chiếu lên làn ánh sáng hy vọng, ánh sáng tin yêu, ánh sáng công bình bác ái. Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là muối thêm hương vị đức ái cho đời, là những ánh sáng đức tin soi đường truyền giáo.
————————————————————–
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN- NĂM A
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- Trích Logos A
Ngày kia, giòng nước biển chảy vào một ruộng muối. Nhìn thấy đống muối lớn trên bờ, những giọt nước biển nói với những hạt muối rằng :
– Sao các bạn nằm im một chỗ như thế ! Tội nghiệp các bạn quá ! Hãy bắt chước chúng tôi đây, vui đùa, bơi lội thỏa thích.
Những hạt muối trả lời :
– Chúng tôi và các bạn đều là anh em một nhà. Chúng tôi đến từ biển cả như các bạn, cũng có một thời vui chơi như các bạn. Nhưng giờ đây, chúng tôi đang mang một sứ mạng: trở thành gia vị cho cuộc sống và ướp mặn cuộc đời. Chính các bạn cũng đang bắt đầu sứ mạng ấy.
Quả thật, sau đó người ta đắp bờ ruộng lại, những giọt nước biển không trở về với biển cả nữa. Dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, những giọt nước biển than khóc trong sự nóng bỏng và đau xót. Rồi chúng bốc hơi để thành những hạt muối. Người ta cào chúng lại thành từng đống. Những hạt muối kết tinh từ những giọt nước mắt của biển cả, đi vào cuộc sống con người và làm cho cuộc sống ấy trở nên mặn nồng và đậm đà hơn.
Câu chuyện thật đơn sơ diễn tả tiến trình hình thành một hạt muối từ nước biển và nói lên chức năng của muối là ướp mặn và là gia vị cho cuộc đời.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng theo thánh Matthêu, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thân quen của muối và ánh sáng để giáo huấn các môn đệ ; “Các con là muối cho đời … là ánh sáng cho trần gian”.
Trong thế giới cổ đại, muối là nhu cầu quan trọng của con người. Muối rất có giá trị đến nỗi vào thời cổ xưa, có những nơi người ta dùng muối như đơn vị tiền tệ để đổi chác những hàng hóa khác. Ngày nay, ở Ucraina, người ta dùng muối và bánh mì để tiếp đón khách quí. Muối và bánh mì tượng trưng cho sự sống của con người. Người Hy Lạp coi muối như thần linh. Còn người La Mã nói : “Không có gì hữu ích hơn mặt trời và muối” (Nil utilius sole et sale).
Ngày nay, muối luôn quan trọng và cần thiết trong cuộc sống đời thường. Muối được dùng để bảo quản lương thực và là gia vị làm cho thức ăn thêm đậm đà. Đối với người Việt Nam, muối không chỉ dừng lại ở đời sống vật chất mà còn ngấm sâu vào đời sống tinh thần và có tác dụng giáo dục :
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
Dựa vào sự gần gũi và quan trọng của muối, Chúa Giêsu đã đưa hình ảnh muối vào lời giáo huấn của Ngài : “Các con là muối đất, nếu muối lạt, biết lấy gì mà ướp cho mặn lại ?”. Chúa muốn các môn đệ trở thành “muối thế gian”, nghĩa là các môn đệ phải giữ gìn và làm cho thế gian thêm mặn nồng trong giao ước với Thiên Chúa.
Vì thế, nếu muối được dùng để bảo quản và là gia vị, thì người tín hữu cũng có nhiệm vụ ướp mặn cuộc đời và làm cho cuộc sống được tăng thêm hương vị.
Muối phải mặn mới làm tròn chức năng của mình. Người tín hữu phải thánh thiện mới “ướp mặn” trần gian và làm cho cuộc sống thêm “mặn mà” hơn.
Muốn trở nên “muối” tinh ròng, nguyên chất, đủ mặn để ướp đời, chúng ta hãy trở nên gần gũi, thân thiết, và gắn bó với Chúa. Vì Ngài chính là nguồn thánh thiện tuyệt đối. Ở gần Chúa, chúng ta cũng được biến đổi để trở nên hoàn thiện hơn.
Sự thánh thiện của người tín hữu là “chất mặn” để giữ gìn và biến đổi môi trường họ đang sống nên tinh tuyền hơn.
Chúa Giêsu còn dùng một biểu tượng khác để dạy các môn đệ: “Các con là sự sáng thế gian”. Chúa Giêsu muốn các môn đệ trở thành “cây đèn cháy sáng” và chiếu tỏa trước mặt mọi người bằng những việc làm tốt lành.
Cây đèn luôn phải cháy sáng. Nếu là đèn thường, phải có “dầu” để cháy sáng. Chất dầu ấy chính là “nhiên liệu” lấy từ Thiên Chúa. Nếu là đèn điện, phải được cắm vào “nguồn điện” là chính Thiên Chúa.
Nếu người tín hữu tách rời khỏi Thiên Chúa, sẽ không thể cháy sáng, nhưng sẽ lu mờ và lịm tắt.
Cây đèn phải chiếu ánh sáng ra bên ngoài, không phải chiếu sáng chính mình. Vì thế, nếu cây đèn được thắp lên, rồi để dưới đáy thùng, cây đèn chỉ chiếu tỏa ánh sáng cho mình. Nhưng nếu đặt lên giá đèn, cây đèn sẽ soi sáng cho mọi người.
Cũng thế, người tín hữu phải “phát sáng” bằng những việc tốt lành, để mọi người nhìn thấy những việc làm đó mà nhận ra nguồn sáng đích thực là Thiên Chúa.
Đó chính là lời nhắc nhở của tiên tri Isaia đối với dân Do Thái trong bài đọc I : phải sống thế nào để “sự sáng được tỏ rạng như hừng đông ?”. Đó là hãy chia bánh cho kẻ đói, tiếp nhận người không nhà ở, cho người trần truồng áo mặc và đừng khinh bỉ những kẻ bất hạnh.
Trong bài đọc II (trích thư I Côrintô), thánh Phaolô giới thiệu cho tín hữu nguồn sáng phát ra từ thập giá Đức Kitô. Nguồn sáng ấy thu hút ngài cách mạnh mẽ, đến nỗi ngài luôn rao giảng một Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, hơn là rao giảng sự khôn ngoan loài người.
Cuộc sống của chúng ta hôm nay đôi khi chìm ngập trong bóng tối khổ đau. Hãy thắp lên một ngọn lửa thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối. Hãy đốt lên cây đèn đời mình, góp phần làm cho ánh sáng bừng lên, xua tan đêm dài lạnh lẽo. Hãy góp phần làm cho cuộc đời này sáng lên, dù chỉ bằng một ánh lửa nhỏ.
Ánh lửa đó là những việc làm yêu thương, những gương sáng trong gia đình. Ánh lửa đó còn là những hy sinh quên mình để phục vụ tha nhân.
Cuộc sống này sẽ tươi đẹp biết bao nếu có một chút ánh sáng của nụ cười, một chút ánh sáng của lời thứ tha, một tia sáng nhỏ của niềm tin trao gởi cho nhau.
Chỉ một chút ánh sáng thôi, cũng đủ để nâng đỡ một ai đó đang buồn khổ, hoặc soi đường cho người đang lạc bước. Một chút ánh sáng thôi, cũng đủ làm cho cuộc đời này ý nghĩa hơn.
Ngày xưa, có một ngôi làng ở ven biển. Ngôi làng tuy nhỏ bé, nhưng dân làng rất đoàn kết và yêu thương nhau. Ngày nọ, có một ông già đến sinh sống tại ngôi làng ấy. Người ta không biết ông từ đâu tới, chỉ biết ông là một ngư phủ dày dạn kinh nghiệm. Ông già cất một ngôi nhà toàn bằng gỗ quí trên sườn đồi phía sau làng. Đó là một ngôi nhà tuyệt đẹp, mà ông rất yêu quí.
Một đêm kia, dân làng nhìn thấy ánh sáng phát ra từ một ngọn lửa lớn đang bừng lên từ sườn đồi. Đó chính là ngọn lửa phát xuất từ ngôi nhà của ông già. Ngôi nhà đang bốc cháy dữ dội.
Ngay lập tức, dân làng từ người già đến trẻ em bảo nhau mang nước lên đồi để chữa cháy. Cũng ngay lúc đó, biển động mạnh, một cơn sóng thần ập tới quét sạch ngôi làng. Vì bận chữa cháy trên đồi nên trong làng có rất ít người bị sóng thần cuốn đi.
Người ta tưởng dân làng cứu giúp ông già, nhưng thật ra chính ông già đã cứu sống dân làng. Vì là một ngư phủ từng trải, ông đã nhìn thấy trước cơn sóng thần đang tràn tới. Giữa đêm khuya, ông không biết làm cách nào báo tin cho dân làng. Ông đành hy sinh đốt cháy ngôi nhà yêu quí, để dân làng thấy đám cháy mà chạy lên đồi giúp ông, cũng là giúp chính họ.
Ánh sáng đẹp nhất là ánh sáng yêu thương phát ra từ cuộc sống hy sinh và phục vụ. Chúng ta hãy sống lời Chúa dạy hôm nay : “Ánh sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.

































