Bài Tường Trình Trước Khi Bàn Thảo
(Relatio ante disceptationem)
Của Thuyết Trình Viên Chính,
Đức Hồng Y Péter Erdo
Ngày 6-10-2014
+++
Dàn Bài:
Nhập đề
1. Phúc Âm của Gia Đình trong bối cảnh của việc loan báo Tin Mừng
a) Phương pháp phân định về Gia Đình
b) Phương pháp làm việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới ( = THĐGM / TG)
2. Phúc Âm của Gia Đình và Mục Vụ Gia Đình
a) Thách đố giáo dục của Gia Đình: trường dạy nhân bản, xã hội, Giáo hội học và sự thánh thiện
b) Tính vững chắc và rõ ràng trong các hành trình huấn luyện
c) Hoạt động mục vụ trong những hoàn cảnh khủng hoảng
d) Hoạt động mục vụ như là dẫn dầu cho việc rao giảng Tin Mừng
e) Những khó khăn bên trong Gia Đình và các áp lực bên ngoài
3. Các Hoàn Cảnh Mục Vụ Khó Khăn
a) Giáo Hội như là “nhà cha” (EG 47)
b) Sự thật và lòng thương xót
c) Các cuộc sống chung và hôn nhân dân sự
d) Việc chăm sóc mục vụ các cặp ly dị tái hôn
e) Tập tục theo giáo luật các căn cớ hôn nhân và con đường ngoài tòa án
f) Tập tục của các Giáo Hội Chính Thống
4. Gia Đình và Phúc Âm Về Sự Sống
a) Loan báo Phúc Âm về sự sống
b) Gia Đình trong bối cảnh tương thân
c) Trách nhiệm của Giáo Hội và việc giáo dục
d) Các đề tài liên hệ tới Thông Điệp “Humanae vitae“( Sự sống con người”)
Kết luận
***
Nhập đề
Kính trình Đức Thánh Cha,
Kính thưa Các Nghị Phụ Hồng Y và Các Nghị Phụ THĐGM / TG đáng kính và đáng trân trọng
Anh Chị Em thân mến,
Chúa Giêsu Kitô là Thày thứ nhất của chúng ta và là Chúa duy nhất của chúng ta. Chỉ trong Người mới “có được các lời ban sự sống” (xem Ga 6, 68). Điều này cũng đúng trong cái nhìn tới ơn gọi của con người và của Gia Đình. Sứ điệp của Đức Kitô không phải là điều dễ chịu, nhưng là đòi hỏi: vì sứ điệp này đòi sự trở về của các con tim của chúng ta. Tuy nhiên đó là một chân lý giải thoát chúng ta. Mục đích nền tảng của đề nghị Kitô về Gia Đình phải là “niềm vui của Phúc Âm” là niềm vui “tràn ngập con tim và đời sống nội tâm của những người gặp gỡ với Chúa Giêsu” khi thử nghiệm việc giải thoát “tội, khỏi nỗ buồn phiền, khỏi sự trống rỗng bên trong, khỏi cảnh cô đơn” – như Đức Thánh Cha Phanxicô dạy trong Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng (số 1). Vì thế thật là điều thích hợp khi gợi lại tầm quan trọng của các đề tài về niềm hy vọng (xem Hiến chế Vui Mừng và hy vọng, số 1) và của lòng thương xót, được nhấn mạnh biết chừng nào do Đức Thánh Cha Phanxicô (xem thí dụ, Niềm Vui của Tin Mừng, số 119 và 198).
Vì thế, việc loan báo xoay quanh các đề nghị, như, đối thoại và cùng nhau lên đường. Như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói trong Tông huấn thời danh của Ngài Tin Mừng cần được loan báo (số 3): “. . . Thật là đuều tuyệt đối cần thiết đặt mình trước gia tài của đức tin mà Giáo Hội có bổn phận gìn giữ trong tính chất nguyên tuyền không thế đụng chạm vào, nhưng cũng là bổn phận phải trình bày gia tài đức tin này cho con người thời đại chúng ta, hết sức có thể, trong cách thế dễ hiểu và có sức thuyết phục“.
Nến tảng, nội dung của việc loan báo là đức tin của Giáo Hội về hôn nhân và về Gia Đình, được tóm kết lại trong các văn kiện khác nhau, trong một cách thế đặc biệt trong Hiến chế Vui mừng và hy vọng (Gaudium et spes), và trong Tông Huấn Việc chung sống Gia Đình (Familiaris consortio) của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, được nhắc lại bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô “vị Giáo Hoàng của Gia Đình“, trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo” và trong nhiều bản văn khác của Giáo Quyền Tuyên Huấn. Gia Đình ngày nay không chỉ là một đối tượng của việc rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng là một chủ thể đầy tiên trong việc rao giảng tin vui của Đức Kitô trong thế giới. Vì thế thật là cần thiết là phải tìm hiểu liên tục và việc đem ra thực hiện Phúc Âm của Gia Đình mà Chúa Thánh Thần gợi ra cho Giáo Hội. Chính các vấn đề Gia Đình quan trọng hơn phải được xem xét như một “dấu trong các dấu chỉ của thời đại“, cần được phân định dưới ánh sáng của Phúc Âm: phải được đọc với những con mắt và con tim của Đức Kitô, và với cái nhìn của Ngài trong nhà của ông Simon người pharisiêu (xem Lc 7, 36-50).
1. Phúc Âm của Gia Đình trong bối cảnh việc loan báo Tin Mừng
a) Phương pháp của việc phân định về Gia Đình
Việc tìm hiểu các câu trả lời mục vụ được diễn ra trong bối cảnh văn hóa của những ngày của chúng ta. Có nhiều người trong số những người thời cận đại của chúng ta cảm thấy khó khăn, trong khi lý luận rất lý sự, trong việc đọc các bản văn dài. Chúng ta sống trong một nền văn hóa nghe – xem, của tình cảm, của kinh nghiệm xúc động, của các biểu tượng. Các nơi hành hương, trong nhiều quốc gia, cho tới những nơi bị tục hóa nhất, luôn được viếng thăm. Từng ngàn vạn cặp vợ chồng, thí dụ, đến đền thánh Đức Mẹ ở Sastin, bên Slovacchia, để xin ơn trợ giúp của Đức Mẹ trong các vấn đề hôn nhân của họ. Nhiều người nhận biết rằng cuộc sống của họ không như một dự án, nhưng như một loạt các thời điểm trong đó, giá trị trên hết, là cảm thấy mình sống tốt đẹp, được bằng an, khỏe mạnh. Trong cái nhìn đó, thì một dấn thân bền vững trở thành một điều đáng sợ, tương lai hiện ra như một điều đe dọa, bởi vì có thể xẩy ra là trong tương lai chúng ta sẽ còn cảm thấy tệ hơn. Ngay cả các mối quan hệ xã hội cũng có thể xuất hiện ra như những giới hạn và các chướng ngại vật. Kính trọng việc “mong muốn điều tốt” của một người khác, có thể cũng đòi hỏi những khước từ. Tình huống cô đơn vì thế, thường trói buộc người ta lại với việc tôn thờ điều tốt tạm bợ. Nền văn hóa chung này được nhận ra trong phần lớn các câu trả lời cho Bảng Câu Hỏi chuẩn bị cho Đại Hội của THĐGM / TG này, là những câu trả lời trình bày một sự kiện như là phổ quát, đó là việc giảm bớt đi các cặp hôn nhân dân sự, chiều hướng đặc thù là sống chung với nhau mà không có hôn thú đạo hay đời. Việc trốn tránh các cơ chế được nhận ra như là dấu hiệu của việc cá nhân hóa, nhưng cũng như một sự phối hợp cơn khủng hoảng của một xã hội thực ra đã nặng chĩu với khuynh hướng vụ hình thức, bó buộc và có tính cách bàn giấy. Việc trốn tránh xa các cơ chế vì thế, là như một dấu hiệu của sự nghèo nàn, yếu đuối của cá nhân trước một “tình cảnh phức tạp” đang lan rộng ra của các cơ cấu. Và trong bối cảnh này, chúng ta phải loan báo Tin Mừng về Gia Đình.
Tuy nhiên nền văn hóa của lời nói không biến mất. Việc truyền đạt Phúc Âm đang xẩy đến khi giữ trước mắt sự phong phú của giáo huấn của Giáo Hội. Chúng ta cần sức mạnh của Chúa Thánh Thần để tìm ra các nẻo đường của sự thật trong đức ái, các câu trả lời diễn tả sự công bình và cùng lúc, diễn tả lòng thương xót, bởi vì hai thực tại này không thể tách ra khỏi nhau. Hesed và tzedaka, lòng thương xót và công bình trong Cựu Ước là đặc tính của Thiên Chúa trùng hợp với nhau trong Thiên Chúa. Trong sự giúp đỡ của Ngài, chúng ta trao phó công việc của chúng ta.
Cần nhấn mạnh rằng Phúc Âm của Gia Đình trước hết là một tin vui của một ơn thánh được ban cho từ Chúa Thánh Thần trong Bí Tích hôn phối: đó là sự khả thể mới, được hiến tặng cho sự yếu đuối của con người, phải được đón nhận và cử hành với niềm vui và lòng biết ơn, ở mức độ cá nhân, cũng như cộng đoàn. Các bổn phận phát sinh ra từ hôn nhân chắc chắn không thề bị quên lãng, nhưng phải được làm cho rõ ràng hơn như là những đòi hỏi của quà tặng, mà chính quà tặng đó làm cho chúng có thể chấp nhận được. Cũng trong cái nhìn này lời cảnh cáo của Đức Thánh Cha Phanxicô cũng có giá trị: “Nếu có điều gì phải làm chúng ta lo âu một cách thánh thiện và làm bối rối lương tâm chúng ta, thì đó là bao nhiêu anh chị em của chúng ta đang sống không có sức mạnh, không có ánh sáng và sự an ủi của tình bạn với Chúa Giêsu Kitô, không có cộng đoàn đức tin đã đã tiếp nhận họ, không có nhãn giới về ý nghĩa và sự sống” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 49).
Chân lý rõ ràng và trọn vẹn của Phúc Âm ban cho ta ánh sáng đó, ý nghĩa đó và niềm hy vọng, đó là những điều mà con người thời nay cần tới biết bao. “Chân lý chữa trị đó“, Giáo Hội phải giới thiệu một cách nào để thực sự được nhận biết như là một “thuốc chữa trị“, và cũng cho bao nhiêu hoàn cảnh Gia Đình đang có vấn đề, thường là phải đau khổ rất nhiều. Nói cách khác, không làm giảm bớt thu hẹp, làm bớt đi, chân lý này sẽ được đề nghị ra khi đặt mình trong góc cạnh của những người thật là “khó nhọc hơn nữa để nhận ra chân lý này đúng như thế và sống chân lý này“.
b) Phương pháp làm việc của THĐGM / TG
Trong giờ phút hiện tại của nền văn hóa này, khi chúng ta như nghiêng mình xuống mà quên đi các chân lý chính yếu, thì khung cảnh phức tạp, chúng ta như bị cám dỗ để cho mình biến đi trong các chi tiết, thì đặc biệt ích lợi phải nói tới là cho các mục tử của các cộng đoàn địa phương chúng ta hãy cống hiến các nét hướng dẫn rõ ràng để có thể giúp những người sống trong các hoàn cảnh khó khăn. Thực vậy, người ta không thể chờ đợi một cách thực thế là những người đó tự mình tìm ra các lối giải quyết đúng, phù hợp với chân lý của Phúc Âm và gần với các tình huống đặc biệt. Trong ánh sáng này, tính cộng đoàn tập thể của hàng giám mục, mà trong THĐGM / TG là một biểu lộ rõ nét hơn, tính tập đoàn này được gợi tới để làm thành đặc thù các đề nghị, khi nhắn nhủ sự kính trọng và việc làm thăng tiến các kinh nghiệm riêng biệt của từng Hội Đồng Giám Mục, với việc tìm kiếm các đường nét mục vụ được chia sẻ chung với nhau. Điều này cũng đề nghị với các ngài, phải biết đánh giá ở mức độ của các Giáo Hội của từng nơi, khi tránh các điều bất chợt của một “mục vụ tự mình làm ra“, mà rốt cuộc là làm cho khó khăn hơn việc chấp nhận Phúc Âm của Giá Đình. Rồi cũng cần nhắc lại rằng Đại Hội của THĐGM / TG khóa ngoại thường năm 2014 là giai đoạn thứ nhất của hành trình của Giáo Hội sẽ bộc phát ra trong Đại Hội Bình Thường của THĐGM / TG vào năm 2015. Từ đó phát sinh làm ngôn ngữ và các chỉ dẫn phải như thế nào để làm thăng tiến việc đào sâu thần học cao đẹp hơn, để lắng nghe với sự chú ý hết sức, sứ điệp của Chúa, khi đồng thời khích lệ sự tham gia và lắng nghe của tất cả cộng đoàn các tín hữu. Vì thế việc cầu nguyện thật quan trọng để công việc của chúng ta cống hiến các thành quả tốt hơn, những thành quả mà Thiên Chúa muốn.
2. Phúc âm của Gia Đình và Mục vụ Gia Đình
a) Thách đố giáo dục của Gia Đình: trường dạy nhân bản, tính xã hội, tính Giáo Hội và sự thánh thiện
Việc chăm lo của các mục tử đối với các thế hệ trẻ thể hiện ra, một cách đặc biệt, trong việc dấn thân huấn luyện với những con người, với sự can đảm và hy vọng, đang trên con đường dẫn tới hôn nhân. Vì thế, đó chính là trách vụ của mục vụ Gia Đình, trách vụ nâng đỡ thách đố giáo dục, trong các giai đoạn khác nhau: qua việc huấn luyện, từ việc huấn luyện tổng quát các người trẻ tới tình cảm, trong việc chuẩn bị gần cho các việc cưới hỏi, với việc đồng hành trong cuộc sống hôn nhân và nhất là sự nâng đỡ trong các tình huống khó khăn hơn, trong cách thế là Gia Đình làm nên một trường học chính thực về nhân bản, tính xã hội, tính Giáo Hội và sự thánh thiện.
Gia Đình là trường dạy nhân bản, bởi vì đó là trường tình yêu trong cuộc sống và trong sự lớn lên của con người (xem Hiến chế Vui mừng và hy vọng, số 52: Gia Đình “trường dạy nhân bản“), nhờ các mối tương giao mà hôn nhân đòi hỏi và thiết lập giữa các đôi bạn và giữa cha mẹ với con cái (xem Hiến chế Vui Mừng và hy vọng, số 49, và Tông huấn Cuộc chung sống Gia Đình, số 11).
Gia Đình là trường dạy tính xã hội bởi vì Gia Đình làm con người lớn lên trong việc phát triển các khả năng của mình để xã hội hóa và xây dựng xã hội (xem Tông huấn Tông huấn Cuộc chung sống Gia Đình, số 15 và 37).
Một cách tương tự, Gia Đình là như tấm lòng sinh ra sự sống của Giáo Hội, lo giáo dục để sống trong tình hiệp thông của Giáo Hội và để trở nên những người nổi bật tích cữc trong Giáo Hội (xem Tông huấn Cuộc chung sống Gia Đình, số 48 và 50).
Gia Đình, sau cùng cũng là trường dạy sự thánh thiện, trong đó người ta thực tập và nuôi dưỡng hành trình của sự thánh thiện của cặp vợ chồng và con cái (xem Hiến chế Vui Mừng và hy vọng, số 48 và Tông huấn Cuộc chung sống Gia Đình, số 56 và 59). Vì các lý do này, Giáo Hội loan báo giá trị và vẻ đẹp của Gia Đình. Với điều này Giáo Hội thực hiện một việc phục vụ quyết định cho một thế giới đang đòi hỏi, như là nài xin làm cho sáng sủa lại nhờ ánh sáng của niềm hy vọng.
Cái nhìn đa dạng về thực tại Gia Đình, nổi cộm trong Văn kiện Dụng cụ làm việc (Instrumentum laboris), chứng tỏ như thế nào, trong những khác biệt các của bối cảnh xã hội văn hóa, cũng có một điều đồng thuận, còn lớn hơn nữa, đó là những gì không hiện ra cho chúng ta thấy được, lúc đầu tiên, về sự kiện là hôn nhân và Gia Đình là các ơn huệ nguyên thủy của nền văn hóa của nhân loại, gia tài cần được giữ gìn, cổ võ, và, khi cần thiết, phải bênh vực. Ngay cả ngày nay, phần lớn con người đi tìm hạnh phúc của cuộc sống riêng của mình trong một mối dây ràng buộc bền vững giữa một người nam và một người nữ, cùng với con cái được sinh ra từ sự phối hợp của họ. Gia Đình chắc chắn ngày nay gặp phải nhiều khó khăn; nhưng không phải là một mẫu mực ở ngoài hành trình, vì thấy xuất hiện một cách trái ngược giữa các bạn trẻ một khát vọng có một Gia Đình. Chứng tỏ điều này, là từ những thời gian gần đây, chứng tá của nhiều cặp hôn phối và các Gia Đình Kitô sống thật hạnh phúc. Các kinh nghiệm tích cực này không bị để mất đi khỏi cái nhìn, cho dù có những tình huống lan tràn thật tạm bợ và không hợp pháp.
Với các Kitô Hữu Công Giáo điều chính yếu của giáo huấn của Tân Ước và của Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo về hôn nhân được biết cũng khá nhiều. Tuy nhiên, các khía cạnh đặc thù của giáo huấn và Giáo quyền tuyên huấn của Giáo Hội về hôn nhân và Gia Đình không luôn được biết một cách đầy đủ bởi các tín hữu. Ngoài vấn đề này liên hệ tới việc biết, người ta cũng nhận ra sự kiện là giáo huấn đó thường không được sống theo trong thực hành. Điều này không có nghĩa là giáo huấn được đặt ra để tranh cãi trong đường nét nguyên tắc, từ số khá đông các tín hữu và các nhà thần học. Trong hình thức, giáo huấn được trình bày do Công Đồng Chung Vatican II (xem Hiến chế Vui mừng và hy vọng, số 47-52), bây giờ được tóm lại trong Văn kiện Dụng Làm Việc (Instrumentum laboris), giáo huấn gặp được một sự đồng thuận giữa các tín hữu thực hành đạo. Điều này có nghĩa đặc biệt, trong vấn đề bất khả phân ly của hôn nhân và tính cách bí tích giữa các người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Người ta không đặt thành vấn đề, giáo huấn về tính cách bất khả phân lý của hôn nhân, tuy bị chống đối, nhưng phần lớn, cũng được giữ trong thực hành mụ vụ của Giáo Hội, cả với những người đã thất bại trong hôn phối của họ và họ đi tìm một khởi sự bắt đầu mới. Vì thế, không phải là các vấn đề giáo huấn, nhưng là vấn đề thực hành – không thể tách ra khỏi, đàng khác, khỏi các chân lý đức tin – được đặt ra trong Đại Hội của THĐGM / TG này, là những điểm có tính mục vụ một cách khá tế nhị.
Sau cùng, từ tài liệu Dụng cụ làm việc (Instrumentum laboris) nổi cộm lên 2 khía cạnh rõ ràng liên hệ tới tình trạng đồng tính luyến ái. Trước hết, một sự đồng thuận lớn lao nhắm vào sự kiện những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái không thể bị kỳ thị, như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo xác quyết (số 2357-2359). Tiếp đến, một điều khác cũng hiện ra thật rõ ràng: là từ phía phần đông các tín hữu đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội – và từ toàn thể các Hội Đồng Giám Mục – người ta không có một sự đồng thuận về các mối liên hệ này, như với hôn phối giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Tuy nhiên các hình thức mang tính ý thức hệ của các thuyết về giống (gender) tìm thấy sự đồng thuận trong phần đa số thật lớn các người Công Giáo.
Trái lại, nhiều người muốn vượt lên trên các vai trò xã hội truyền thống, nay bị điều kiện hóa do văn hóa, và việc kỳ thị đối với các người phụ nữ, vẫn tiếp tục hiện hữu, rồi từ chối sự khác biệt tự nhiên và do tạo thành giữa các giống và tính cách hỗ tương và bù trừ cho nhau.
Vì thế không có lý do gì ở trong Giáo Hội cho phép một tình trạng tâm hồn về một cơn thác loạn hoặc việc vứt bỏ đi. Có một gia tài đức tin rõ ràng và được chia sẻ rộng rãi, từ đó Đại Hội của THĐGM / TG có thể khởi sự, mà các tín hữu phải ý thức một cách phổ quát về điều này qua một giáo lý sâu xa hơn về hôn nhân và về Gia Đình. Trên nền tảng của xác tín căn bản này có thể có một suy tư chung về các trách vụ truyền giáo của các Gia Đình Kitô và trên các vấn đề đưa ra câu trả lời đúng cho các hoàn cảnh khó khăn.
Rất ước mong là THĐGM / TG. khởi sự từ nền tảng chung của đức tin, sẽ nhìn ra xa khỏi cái vòng các người Công Giáo thực hành đạo và, khi nhìn vào tình trạng phức tạp của xã hội, biết xử lý các khó khăn khách quan về mặt xã hội và văn hóa đang đè nặng trên đời sống hôn nhân và Gia Đình. Chúng ta không chỉ biết phải làm gì với các vấn đề luân lý cá nhân, nhưng với các cơ chế tội lỗi thù nghịch với Gia Đình, trong một thế giới bất bình đẳng và bất công xã hội, một thế giới theo thuyết hưởng thụ, một phía, và của cảnh nghèo khó về phía khác. Sự thay đổi nhanh chóng về văn hóa trong tất cả các môi trường bỏ qua các Gia Đình, là tế bào nền tảng của xã hội, trong một tiến trình đảo lộn đặt thành vấn đề nền văn hóa truyền thống của Gia Đình và thường phá hủy nền văn hóa này. Đàng khác, Gia Đình hầu như là thực tại cuối cùng của con người đón nhận, trong một thế giới nhất định hầu như chỉ do tài chính và kỹ thuật. Một nền văn hóa mới của Gia Đình có thể là điểm khởi sự cho một nền văn minh được canh tân của nhân loại.
b) Tính vững chắc và rõ ràng trong các hành trình huấn luyện
Bây giờ khi tới gần mục vụ hướng về các Gia Đình trên con đường thiết lập, người ta phải nhận ra tính không chắc chắn đi kèm theo nhiều người trẻ, là những người đang khát vọng với niềm hy vọng tới một tình yêu bền vững và kéo dài. Hướng về Giáo Hội, họ đặt câu hỏi – không luôn một cách rõ ràng – được kèm theo lý do giúp họ thắng các sợ hãi chính đáng và được đón nhận vào một cộng đoàn, cho họ thấy chứng tá của vẻ đẹp và tính cách cụ thể của đời sống hôn nhân với tất cả các khó khăn thực sự, nhất là trong mối tương quan và trong vấn đề kinh tế. Ước mong có Gia Đình mang theo trong con tim của họ, một con tim cần được xác quyết và nâng đỡ bởi giáo lý vững vàng, lời mời gọi họ cũng hòa mình vào trong cộng đoàn các Gia Đình của kẻ tin. Các cộng đoàn như thế hiện diện trong nhiều giáo xứ trên thế giới và là dấu chỉ rất khích lệ của thời đại chúng ta.
Theo nghĩa đó, cần đồng hành với những người sắp lập Gia Đình hướng tới một ý thức rõ ràng về hôn nhân là gì trong kế đồ của Đấng Tạo Thành, khế ước giữa những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội luôn có phẩm giá của Bí Tích (Giáo Luật, khoản 1055, 1-2). Các yếu tố chính và các đặc tính căn bản (tính duy nhất, sự chung thủy, việc sinh sản con cái) của kế đồ này, nếu một cách đơn sơ không chỉ được lưu ý tới, nhưng lại bị loại ra với một hành vi chủ ý thực sự, làm cho hôn nhân ra vô hiệu. Đàng khác đức tin cá nhân làm cho việc đón nhận ơn Bí Tích được dễ dàng, mà hôn nhân Kitô được tăng thêm kiên cường, trong việc theo đuổi có trách nhiệm các ích lợi chính yếu của hôn nhân. Mặc dù các lời nói thật rõ ràng của phụng vụ mà các đôi vợ chồng đọc lên, không ít người, quả thực, đã đến với Bí Tích này mà không có ý thức rõ ràng về việc chấp nhận trước Thiên Chúa sự dấn thân đón nhận và trao ban sự sống cho bạn đời của mình, không điều kiện và vĩnh viễn. Trái lại, do ảnh hưởng của nền văn hóa đang thống trị, không ít người dành cho mình điều mà họ cho là “quyền lợi” là không giữ sự chung thủy, có quyền ly dị và tái hôn, nếu hôn nhân không tốt đẹp, hoặc có quyền không mở ra lãnh nhận sự sống. Việc đón nhận thanh thản và can đảm trách nhiệm như thế, trái lại, là dấu hiệu của việc chọn lựa của đức tin và cá nhân, mà nếu không có sự chọn lựa này thì Bí Tích, cho dù thành sự, không thể hữu hiệu. Hôn nhân, quả thực, ngoài việc là một tương quan cá nhân nhất và là một dây liên kết thiêng liêng, cũng cần thiết phải một cơ chế của xã hội. Điều này muốn nói ra, là điều kiện hôn nhân của một con người trước Thiên Chúa, thực tại mà không thể nhận biết được với các giác quan của con người, phải được đón nhận trong cách thế hết sức đúng có thể được, ngay cả từ cộng đoàn. Vì thế có một số điểm cần thiết cho hôn nhân của con người. Tuy nhiên từ chính bản tính của các điều dự phòng này, tiếp theo khả thể của sự khác biệt giữa điều kiện đề ra và điều kiện thực sự của con người với Bí Tích. Quả thực, cả nếu tình yêu tự nó không là một thực tại bị đặt dưới phán đoán và sự chứng thực của người thứ ba, điều này chắc chắn là thế, thì cơ chế của hôn nhân và của Gia Đình, cần được nhìn theo liên hệ xã hội và Giáo Hội.
Trong suốt các thế kỷ, Giáo Hội đã muốn bảo tồn sự thật về con người ngay cả với các luật lệ pháp lý nhằm bảo đảm là sự dấn thân của sự tự do, được đón nhận với ý thức trong hành động ưng thuận, không được đặt ngang hàng với bất cứ một sự dấn thân nào khác. Cố gắng mục vụ của Giáo Hội trong việc đồng hành với các người hứa hôn tới hôn phối phải luôn lớn hơn để tỏ ra giá trị và sự chói sáng của một mối dây vĩnh viễn.
c) Gia Đình như là người tiên phong của việc rao giảng Tin Mừng
Ngoài ơn gọi đặc biệt và trước tiên của Gia Đình tới việc giáo dục nhân bản và Kitô cho con cái, còn có một sứ mạng của các phần tử trong Gia Đình là truyền đạt đức tin và làm chứng tá về đức tin này trước mặt người khác. Gia Đình cũng là một cái nôi của cộng đoàn giáo xứ. Trong nhiêu nước trên thế giới có các cộng đoàn sống động trong các giáo xứ, được cấu thành bởi các đôi hôn phối hoặc các gia đình trọn vẹn, mà người ta gặp gỡ nhau đều đặn, cùng cầu nguyện với nhau, cùng học hỏi và đào sâu Giáo Lý, cùng đọc Kinh Thánh, cùng nói về các vấn đề của cuộc sống hằng ngày, về các khó khăn và các vẻ đẹp của đời sống chung của đôi bạn, của các vấn đề giáo dục. Nói kiểu khác, họ cố gắng hợp lại qua đức tin, với cuộc sống với nhau. Họ giúp đỡ lẫn nhau trong khi ốm đau, khi bị thất nghiệp hoặc khi có các vấn đề khác. Nhiều người trong họ, tham gia vào công việc của caritas. Không ít người giúp chuẩn bị các cặp tiến tới hôn nhân, khi thiết lập với họ các mối dây của tình bạn còn kéo dài cả sau khi cử hành Bí Tích Hôn Phối. Có những nhóm người mẹ trẻ công giáo với con cái bé đón nhận cả các bà mẹ không cùng tôn giáo với mình hay cùng niềm tin với mình, và như thế người ta có một hình thức mới của sứ mệnh của hôn nhân. Từ các Gia Đình phát sinh ra các cộng đoàn mới khác nhau, giúp các cặp vợ chồng đang bị khủng hoảng hoặc giúp các người phụ nữ trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống hoặc về phương diện tâm lý. Điều quan trọng là làm thăng tiến những sáng kiến này cho toàn thể Giáo Hội.
d) Hoạt động mục vụ trong những hoàn cảnh khủng hoảng
Tài liệu Dụng Cụ Làm Việc (Instrumentum laboris) nhận định rằng: “Việc mất đi các giá trị, và nhất là việc phân hóa Gia Đình, có thể biến thành dịp làm tăng sức cho các mối dây liên kết giữa vợ chồng. Để vượt lên cơn khủng hoảng có thể được trợ giúp bằng việc nâng đỡ của các Gia Đình khác sẵn sàng đồng hành cho cuộc sống khó khăn của cặp vợ chồng đang bị khủng khoảng. Đặc biệt, người ta nhấn mạnh tới sự cần thiết là giáo xứ làm sao nên gần gũi như là Gia Đình của các Gia Đình” (số 63).
e) Các khó khăn bên trong Gia Đình và các áp lực từ bên ngoài
Khó khăn lan tràn khi thiết lập việc thông truyền thanh thản bên trong cái nôi Gia Đình có thể xẩy ra do nhiều yếu tố như: việc lo âu về loại việc làm và vấn đề kinh tế; những cái nhìn khác nhau về việc giáo dục con cái, khó khăn đến từ các mẫu khác nhau về giáo dục từ phía các phụ huynh; thời gian rút ngắn cho việc đối thoại và nghỉ ngơi. Thêm vào đó có các yếu tố làm phân tán như việc bỏ xa nhau và ly dị, với các hậu quả của các thực tại được nới rộng ra, hoặc ngược lại, một người cha, hay một người mẹ, trong đó việc hướng về cha mẹ trở nên như một lầm lẫn hoặc giới hạn lại, ngay cả cho tới khi bị hủy. Sau cùng, không phải là điều ít cần chú ý tới, có tâm thức ích kỷ đóng lại với sự sống, với việc tăng thêm đáng lo ngại về vấn đề thực hành phá thai. Chính sự ích kỷ có thể dẫn tới cái nhìn sai lầm, khi nhìn con cái như là đối tượng của gia tài của cha mẹ, nên có thể sản xuất ra theo ước của cha mẹ.
Đặc biệt trong những bối cảnh mà trong đó, sự nghèo đói rất lan tràn, nhất là các phụ nữ và các trẻ em cảm thấy bị bạo hành và lạm dụng; tuy nhiên, ngay cả trong các bối cảnh được phát triển nhiều hơn cũng không thiếu các yếu tố phân hóa, xẩy ra do các hình thức khác nhau của sự tùy thuộc, như dùng rượu chè, dùng thuốc cần sa, chơi cờ bạc, mãi dâm, các hình thức khác của sự tùy thuộc phái tính và các mạng social network. Đứng trước các thách đố này, Giáo Hội nhận ra sự khẩn cấp của việc rao giảng Tin Mừng về Gia Đình và với Gia Đình, qua việc loan báo sự đơn bạch và lưu tâm tới điều chính yếu, khi khích lệ giá trị của các mối tương quan cá nhân, tính nhạy cảm với những người nghèo khó, khả năng xử dụng các trách nhiệm, các phương tiện truyền thông xã hội (mass media) và các kỹ thuật mới trong sự kính trọng nhân phẩm của con người, nhất là những kẻ yếu đuối nhất và không được bảo vệ hơn hết, là những người phải trả cái giá cao hơn do sự cô đơn và bị ra ngoài vòng xã hội.
Giữa các các áp lực từ bên ngoài, tính không vững bền đang tăng thêm khi làm việc biểu lộ một cảnh hỏa mù cho nhiều Gia Đình; hiện tượng di dân thường dẫn vào trong Gia Đình những mất quân bình còn mãi, như các cảm nghiệm từ những người di chuyển từ vùng đất quê hương – thường vì căn cớ chiến tranh và nghèo đói – hoặc từ những người đang phải đón tiếp họ trong đất nước của mình. Sự nâng đỡ cụ thể từ phía Giáo Hội với các Gia Đình này, không có thể bỏ qua khỏi sự dấn thân hành động của các Quốc Gia và các cơ quan được đặt ra trước để bảo tồn và làm thăng tiến công ích, qua các đường lối chính trị thích hợp.
3. Các tình trạng mục vụ khó khăn
a) Giáo Hội như “nhà của Chúa Cha” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, 47)
Như Đức Thánh Cha Phanxicô xác quyết: “Gia Đình trải qua một cơn khủng hoảng sâu xa về văn hóa, như tất cả các cộng đoàn [ . . . ] tính yếu đuối của các dây ràng buộc trở nên đặc biệt nặng nề bởi vì nó nói về cái nôi nền tảng của xã hội” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, 66).
Về vấn đề này, tài liệu Dụng cụ làm việc [Instrumentum laboris], số 66) nêu ra như sau: “Từ các câu trả lời nổi lên một nhận xét chung là, trong bối cảnh của những gì mà người ta có thể định nghĩa là những tình cảnh hôn nhân khó khăn, có che giấu các câu truyện về sự đau khổ lớn lao, cũng như các chứng tá của một tình yêu chân thực. Giáo Hội được mời gọi để luôn ở trong căn nhà mở rộng của Chúa Cha” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 47). Một một điều khẩn thiết mục vụ, là lo lắng các vết thương, chữa trị và tái lên đường cùng nhau tới tất cả cộng đoàn Giáo Hội.
Để đương đầu một cách đúng với các tình huống như thế, trước tiên, Giáo Hội xác quyết giá trị không thể bỏ qua sự thật của tính bất khả hủy của hôn phối, được đặt trên nền tảng đã có từ đầu trong dự án nguyên thủy của Đấng Tạo Hóa (St 1, 27; 2, 24; xem Mt 19, 4-9). Với phẩm giá Bí Tích, trái lại, có được giữa các tín hữu đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Ngài xác quyết rằng điều này dựa trên nền tảng của việc nối kết giữa mối dây hôn nhân và mối dây bất khả hủy bỏ giữa Đức Kitô và Giáo Hội (Ep 5, 33-23). Tiếp theo, cần có một hành động đổi mới và thích hợp của mục vụ Gia Đình. Hoạt động này phải nâng đỡ các đôi bạn trong sự dấn thân của họ để trung tín với nhau và tận tụy lo cho con cái. Ngoài ra, cần suy tư về cách thức tốt hơn để đồng hành với những người ở trong những tình huống trên, một cách là họ không cảm thấy bị loại ra khỏi đời sống của Giáo Hội, cần nhận ra các hình thức và các ngôn ngữ thích hợp để loan báo rằng tất cả họ là và vẫn còn là con cái và được yêu thương bởi Thiên Chúa và bởi Giáo Hội mẹ.
b) Chân lý và lòng thương xót
Trong những thập niên sau cùng gần đây, đề tài về lòng thương xót nổi lên luôn thêm hơn mỗi ngày, trên hết như là điểm nhìn quan trọng của việc loan báo Tinh Mừng. Lòng thương xót của Thiên Chúa, đã được trình bày cách sâu rộng trong Cựu Ước (xem Xh 34, 6; 2Sm 24, 14, 4; Tv 111, 4 v.v. ), và được mặc khải ở trên hết, nhất là trong các cử chỉ và trong việc rao giảng của Chúa Giêsu. Trong dụ ngôn người Cha thương xót (xem Lc 15, 11-32), ngoài ra trong tất cả của Tân Ước, lòng thương xót làm nên một chân lý trung tâm: Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót (xem Ep 2, 4). Theo Thánh Toma Aquino, lòng thương xót là đặc tính quan trọng nhất của Thiên Chúa (xem Summa theol. II/II q. 30a. 4; Niềm vui của Tin Mừng, số 37); lòng thương xót diễn tả uy quyền tuyệt đối của Thiên Chúa và chỉ ra cho thấy sự trung thành tạo dựng với chính mình của Thiên Chúa là tình yêu (xem 1Ga 4, 16). Để lãnh nhận lòng thương xót này người con hoang đàng trở về với Cha, xin sự tha thứ, bắt đầu một đời sống mới. Việc bày tỏ quyết định hơn hết của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại, đó là việc Nhập Thể và Hành động cứu rỗi của Đức Kitô. Theo Phúc Âm Thánh Marco, chính Đức Kitô bắt đầu việc loan báo Tin Mừng với lời kêu gọi trở về: “Anh em hãy thống hối và tin vào Phúc Âm” (Mc 1, 15). Quả thật Thiên Chúa không bao giờ mỏi mệt tha thứ cho tội nhân biết trở về, và không mỏi mệt luôn ban cho họ một khả thể mới. Lòng thương xót này không chỉ việc làm cho nên công chính với kẻ có tội, nhưng là làm công chính kẻ có tội tuy nhiên theo mức độ họ trở về và dốc lòng chừa không phạm tội nữa.
Lòng thương xót hành động ban ơn, nhưng ngoài mức độ phải ban, là việc tặng quà, việc giúp đỡ. Chỉ lòng thương xót của Thiên Chúa có thể thực hiện sự tha thứ đích thực các tội lỗi. Trong khi tha thứ theo Bí Tích Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta qua tác vụ của Hội Thánh. Với chúng ta còn việc phải làm là nên chứng tá của lòng thương xót của Thiên Chúa và thực hiện những việc cổ điển, được biết tới trong Cựu Ước, của lòng thương xót thiêng liêng và theo thân xác. Nơi thích hợp nhất để sống những hành động của lòng thương xót chính là Gia Đình.
Ý nghĩa của lòng thương xót đối với Giáo Hội ngày nay được đặt ra rõ ràng từ Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII khi khai mạc Công Đồng Chung Vatican II. Ngài đã tuyên bố rằng Giáo Hội trong mọi thời đại phải chống lại sai lầm; tuy nhiên ngày nay Giáo Hội phải chạy đến với môn thuốc của lòng thương xót hơn là chạy đến với các vũ khí nặng. Theo cách thế này Đức Giáo Hoàng đã trao tư chất của Công Đồng. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lấy lại tư tưởng này trong thông điệp thứ hai của Ngài Giầu lòng thương xót (Dives in misericordia, 1980) và đã dành cho Lòng Thương xót của Thiên Chúa Chúa Nhật thứ II của Mùa Phục Sinh. Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã đào sâu đề tài này trong thông điệp Thiên Chúa là tình yêu (Deus caritas est, 2005). Ngay từ đầu đời Giáo Hoàng của mình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô xác quyết: “Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta, không bao giờ [ . . . ], còn chúng ta, nhiều lần, chúng ta mệt mỏi xin ơn tha thứ” (Angelus ngày 17-3-2013). Ngay trong trường hợp Gia Đình, hôn nhân, ý nghĩa của tính cách bất khả hủy của hôn nhân, các lời của Đức Thánh Cha nói như sau: “Sự cứu rỗi mà Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta là hành động của lòng thương xót. Không có hành động của con người, cho dù họ tốt lành như thế nào, xứng đáng một ơn huệ cao quý như thế. Thiên Chúa, do chỉ ơn huệ, Ngài lôi kéo, đem chúng ta kết hiệp với Mình. Ngài sai Thánh Thần của Ngào trong các con tim của chúng ta để làm cho chúng ta nên con cái của Ngài, để biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta có khả năng đáp lại với đời sống của chúng ta cho tình yêu của Ngài” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 112). Lòng thương xót này là “nơi của lòng thương xót vô vị lợi, trong đó tất cả có thể cảm thấy mình được đón nhận, được yêu thương, được tha thứ và đươc khích lệ để sống theo đời sống tốt lành của Phúc Âm” (số 114).
Lòng thương xót, như là đề tài trung tâm của mặc khải của Thiên Chúa, cuối cùng, thật quan trọng cho việc giải thích hành động của Giáo Hội (xem Niềm vui của Tin Mừng, số 193 tt. ); dĩ nhiên, lòng thương xót không loại bỏ sự thật và không tương đối hóa sự thật, nhưng dẫn tới việc giải thích sự thật một cách đúng trong khung cảnh của phẩm trật các chân lý (xem Sắc lệnh về hiệp nhất của Vatican II, (Unitatis redintegratio), số 11; Niềm vui của Tin Mừng, số 36-37). Lòng thương xót không khử trừ ngay cả đòi hỏi sự công bằng.
Vì thế lòng thương xót không cất đi ngay cả các sự dấn thân sinh ra từ các đòi hỏi của mối dây ràng buộc hôn nhân. Những điều này tiếp tục cùng hiện hữu ngay cả khi tình yêu con người trở nên viển vông hoặc đã hết. Điều này có nghĩa, trong trường hợp của một hôn nhân mang tính các Bí Tích (đã hoàn hợp, consummatum), sau khi ly dị, trong khi người phối ngẫu thứ nhất còn đang sống, thì không thể có hôn nhân thứ hai, được Giáo Hội công nhận.
c) Các cuộc sống chung và hôn nhân dân sự
Như đã được bày tỏ từ các câu trả lời cho Bảng Các Câu Hỏi và được tóm lại trong tài liệu Dụng cụ làm việc (Instrumentum laboris), các tình huống khó khăn hoặc bất hợp lệ thì khác nhau và người ta không thể thiết lập cho tất cả một hình thức cứng nhắc một con đường duy nhất phải đi (xem số 52), cần phải phân định từng nố một. Theo ý hướng này, một chiều kích mới của mục vụ về Gia Đình ngày nay, gồm có việc đón nhận thực tại của các cuộc hôn nhân dân sự và, sau khi đã đưa ra các phân biệt phải có, cũng phải nói tới các cuộc sống chung. Quả thế, khi một sự kết hợp đạt tới một sự bền vững rõ rệt qua một dây liên kết công cộng được nhận ra từ tình cảm sâu đậm, từ trách nhiệm trong khi đương đầu với các con cái, từ khả năng chống lại các thử thách, và có thể được nhìn xem như một hạt giống phải được đồng hành trong sự phát triển hướng về Bí Tích Hôn Phối. Trái lại, rất thường là cuộc sống chung được thiết lập không nhằm tới một cuộc hôn nhân trong tương lai, không hề có ý định nào thiết lập một mối liên hệ có tính cách cơ chế.
Giáo Hội không thể không đón nhận cả trong những tình huống, mà thoạt nhìn nó xa các tiêu chuẩn đáp lại Phúc Âm, như một cơ hội thuận tiện để làm cho mình ở gần các người này với mục đích làm cho họ tới một quyết định ý thức, đúng thực và công bằng đối với mối liên hệ của họ. Không có tình huống nhân loại nào mà không có thể trở nên cho Giáo Hội dịp để tìm ra ngôn ngữ thíchh hợp làm cho người ta hiểu giá trị của việc kết hợp trong hôn nhân và của đời sống Gia Đình dưới ánh sáng của Phúc Âm. Thách đố đặt ra cho chúng ta hôm nay, hệ tại việc thành công tỏ ra điều tốt hơn mà thường người ta không đón nhận hoặc không có khả năng đón nhận.
d) Việc chăm sóc mục vụ những người ly dị mà tái hôn
Trước hết, điều mà các người ly dị tái hôn theo dân sự chỉ là một vấn đề trong số lớn các thách đố mục vụ ngày nay nhận ra được một cách sâu xa (xem về điểm này Cuộc chung sống Gia Đình (Familiaris consortio), số 84). Trái lại cần phải ghi nhận rằng trong một số quốc gia không có vấn đề này, vì không có hôn nhân dân sự, trong các quốc gia khác phần trăm các người ly dị tái hôn đang có chiều giảm xuống vì lý do của việc không có ý thiết lập một hôn phối mới – ngay cả theo dân sự – sau khi thất bại trong hôn phối thứ nhất. Dựa vào các câu trả lời nhận được cho Bảng Các Câu Hỏi thì thấy có vấn đề có nét khác nhau theo từng vùng của thế giới (xem tài liệu Dụng cụ làm việc [Instrumentum laboris], số 98-100).
Dưới ánh sáng của những gì đã nói, người ta không bàn về việc đặt thành vấn đề lời của Đức Kitô (xem Mt 19, 3-12 song song) và chân lý về tính bất khả hủy của hôn nhân (xem Denzinger – Hunermann 1327; 1797; 1807; Hiến chế Vui mừng và hy vọng, số 49), và ngay cả việc giữ lại theo sự kiện không còn hiệu lực. Ngoài ra sẽ là ngoài đề, chỉ tập trung vào trong vấn đề của việc đón nhận các Bí Tích. Câu trả lời, vì thế, có thể tìm ra trong bối cảnh của một mục vụ rộng lớn hơn cho người trẻ và của việc chuẩn bị hôn nhân. Cũng cần một việc đồng hành mục vụ ân cần của hôn nhân và Gia Đình đặc biệt trong các tình huống khủng hoảng.
Còn về những gì liên quan đến các người ly dị rồi lập hôn nhân dân sự, không ít người trả lời rằng cần lưu ý tới sự khác biệt giữa những ai chủ ý làm đứt đoạn một cuộc hôn nhân và với những ai bị bỏ rơi. Mục vụ của Giáo Hội phải lo lắng cho họ một cách đặc biệt.
Những người ly di mà tái hôn dân sự thuộc về Giáo Hội. Họ cần và có quyền được đồng hành bởi các mục tử của họ (xem Huấn thị Bí tích tình yêu” [Sacramentum caritatis], số 28). Họ được mời lắng nghe lời của Thiên Chúa, tham dự phụng vụ của Giáo Hội, tham dự vào việc cầu nguyện và thực thi các việc lành của đức ái. Mục vụ của Giáo Hội phải lo lắng cho họ trong một cách thế hoàn toàn đặc biệt, lưu ý tới tình huống của mỗi người. Từ đây có nhu cầu phải có ít là trong mỗi Giáo Hội địa phương, một linh mục được chuẩn bị, có thể đi theo trước và một cách vô vị lợi để khuyên bảo các bên về tính cách hợp pháp của hôn nhân của họ. Quả thực, nhiều cặp hôn nhân không ý thức về các tiêu chuẩn thành phép của hôn nhân và còn ít hơn nữa khả năng của việc bất thành sự. Sau khi ly dị việc phân định này phải được mang đi tiếp theo, trong một bối cảnh của cuộc đối thoại về các nguyên nhân của việc thất bại của hôn nhân trước, khi xác định ra những đầu mối của tính bất thành. Cùng lúc, khi tránh mọi hình thức bên ngoài củs một việc làm xong thủ tục giấy tờ hoặc các chi tiêu về kinh tế. Nếu tất cả xẩy ra trong thanh thản và trong việc đi tìm sự thật, việc tuyên bố bất thành sẽ làm sinh ra một sự giải thoát các lương tâm hai bên.
e) Thủ tục giáo luật của các căn cớ của các nố hôn phối và con đường ngoài tòa án
Khi để trước mắt những gì được đưa ra từ tài liệu Dụng cụ làm việc (Instrumentum laboris), về sự đòi hỏi lớn lao của việc đơn giản hóa các căn cớ của hôn phối (xem, số 98-102), từ cái nhìn mục vụ, và lưu ý tới việc làm lan tỏa ra tâm thức ly dị để có một buổi cử hành hợp pháp của Bí Tích, thì điều này không được coi là liều lĩnh, như vừa trình bày trên đây, nhớ rằng không ít các hôn phối được cử hành trong nhà thờ được kể là không hợp pháp. Để nhận ra một cách hữu hiệu, và làm cho nhanh chóng tính vô hiệu có thể có được với dây ràng buộc, đối với một số ít người, là cần phải xét lại, trước hết, tính cách bắt buộc của hai án lệnh phù hợp cho việc tuyên bố tính vô hiệu của dây ràng buộc hôn phối, đi từ bậc hai chỉ nếu có lời khiếu nại từ một bên hoặc từ hai bên hoặc từ phía người bênh hộ dây ràng buộc, trong một thời gian nhất định. Một lối giải quyết có thể xảy ra theo cách này, trong mọi nố, phải tránh bất cứ tính cách máy móc và cảm tưởng của việc chấp thuận một cuộc ly dị. Tuy nhiên, trong một số trường hợp các bảo đảm khác cũng có thể cần thiết, thí dụ, sự bắt buộc của người bênh hộ dây ràng buộc (difensor vinculi) phải nại tới, để tránh các giải quyết không công bằng và có tính cách gây gương xấu.
Tiếp đến, với việc làm lan tràn rộng rãi tâm thức ly dị trong nhiều xã hội và được nhìn như là một cách thực hành của các tòa án dân sự tuyên các án ly di, thường xẩy ra là các bên đã cử hành một hôn phối theo giáo luật, họ làm điều đó khi dành cho mình quyền ly dị và thiết lập một hôn phối khác trước những khó khăn trong cuộc sống chung. Sự giả tạo như thế, ngay cả khi không có ý thức trọn vẹn về khía cạnh hữu thể và giáo luật này, thì cũng làm cho hôn nhân ra vô hiệu. Để chứng minh việc loại trừ nói trên của tính chất bất khả hủy, chỉ cần việc xưng ra của bên giả tạo được xác nhận từ các hoàn cảnh và các yếu tố khác (xem Bộ Giáo Luật, điều 1536, 2; 1679). Nếu là như thế trong tòa án, thì có thể nghĩ, với một số người, việc làm ra chính chứng cớ trong khung cảnh của một tòa xử mang tính cách hành chánh. Ngoài ra, theo các đề nghị có thế giá, cần thẩm định tính cách quan trọng của ý hướng theo đức tin của các người sắp cưới hỏi nhằm khía cạnh thành sự của hôn phối – Bí Tích, theo nguyên tắc tổng quát, mà để thành sự của một Bí Tích thì cần là ý hướng muốn làm điều Giáo Hội làm (xem Đức Beneđicto XVI, Diễn văn cho Tòa Án Rota Roma, ngày 26 tháng giêng năm 2013, số 4). Con đường ngoài – tòa án này có thể cho thấy trước – theo họ – một hành trình nhận thức, phân định và đào sâu mà, trong trường hợp có các điều kiện làm cho vô hiệu, có thể tụ lại trong việc tuyên bố tính chất vô hiệu từ phía Giám mục giáo phận, là người, cũng phải đề ra một hành trình để ý thức và để trở về cho người liên hệ nhằm một hôn phối có thể xẩy ra trong tương lai, để không lặp lại chính sự giả tạo này.
Thứ ba, cần có trước mặt rằng, để giải quyết một số nố thì có khả thể áp dụng khoản luật liên hệ tới “đặc ân của Thánh Phaolô” (privilegium paulinum) (xem Bộ Giáo Luật, khoản 1143-1147) hoặc nại đến “đặc ân của Thánh Phêrô [privilegium petrinum]” (trong các trường hợp hôn phối thực hiện với người khác đạo). Sau cùng, cũng cần giữ trước mắt khả thể hủy bỏ, “do đặc huệ“, của hôn phối “ratum et non consummatum“.
f) Thực hành trong các Giáo Hội Chính Thống
Tài liệu Dụng cụ làm việc (Instrumentum laboris) ghi nhận rằng một số các câu trả lời gợi ra việc cứu xét sâu xa hơn các tập tục của một số Giáo Hội Chính Thống, nhìn thấy trước khả thể của các hôn phối thứ hai và thứ ba có ghi nhận từ khía cạnh thống hối (xem số 95). Việc nghiên cứu nói trên là điều cần thiết để tránh các cách chú giải và kết luận không có nền tảng đầy đủ. Đề tài này nhấn mạnh tầm quan trọng việc nghiên cứu học hỏi lịch sử của luật lệ của Giáo Hội Đông Phương và Giáo Hội Tây Phương. Về điểm này người ta có thể suy tư về một sự đóng góp của việc hiểu biết truyền thống kỷ luật, phụng vụ và tín lý của các Giáo Hội Đông Phương.
4. Gia Đình Và Phúc Âm Của Sự Sống
a) Loan báo Phúc Âm về sự sống
Vì có sự khác biệt về văn hóa và các truyền thống bên trong các thực tại khác nhau làm nên Giáo Hội Công Giáo, kết quả với một sự trợ giúp thật lớn trong việc loan báo Phúc Âm, trong việc hội nhập Phúc Âm vào các nền văn hóa, việc đóng góp của từng Hội Đồng Giám Mục. Cũng thế với những gì được thực hiện trong sự hiệp thông Giám Mục, thì cần thiết là sự chung sức để loan báo phải được thực hiện dưới Phêrô và cùng Phêrô (sub Petro et cum Petro).
Việc mở ra cho sự sống không thêm do một sự áp đặt bên ngoài hoặc do một sự chọn lựa có thể nghĩ ra được và có thể làm tùy ý, phải thêm vào tình yêu vợ chồng, là phần chính yếu của nó, một đòi hỏi bên trong, bởi vì tình yêu này nhắm tới sự hiệp thông và sự hiệp thông sinh ra sự sống. Trong thế giới Tây phương không họa hiếm tìm ra các cặp vợ chồng đã chủ ý chọn không có con cái, tình trạng này giống một cách mâu thuẫn với tình trạng của người làm tất cả để có con. Trong cả hai trường hợp khả thể sinh con là được đặt nằm ngang hàng trên khả năng riêng của sự tự quyết định, dẫn tới một chiều kích dự phóng đặt chính mình vào trung tâm: các ước muốn riêng, các chờ đợi riêng, việc thực hiện các dự án riêng mà không đặt người khác trước mặt.
Tình yêu vợ chồng, và hơn nữa trong cách thế chung, mối liên hệ, không bao giờ được xây dựng như là một chiếc vòng đóng kín. Trong việc đón nhận con cái, không đón nhận con cái, được coi la đóng lại việc đón nhận người khác, những người khác, mà với những người này người ta biết khám phá và xây dựng nhân loại chúng ta. Đón nhận một người con không chỉ là đặt người con đó trong thế giới này, nhưng là sinh người con ra trong sự khác biệt, là trao ban cho người con này sự sống. Đón nhận sự sống không có thể được nghĩ như là chỉ giới hạn vào việc thụ thai và sinh ra. Việc sinh con được hoàn thành trong việc giáo dục con cái, trong việc nâng đỡ dành cho việc lớn lên của chúng. Và cả trên phía này người ta cũng đòi hỏi một suy tư đụng chạm tới các vùng năng động về văn hóa và xã hội, nhất là mối tương quan giữa các thế hệ khác nhau.
b) Gia Đình
Tuy nhiên cũng thật đúng, đó là việc đón nhận sự sống, việc chấp nhận trách nhiệm để sinh ra sự sống và việc chăm sóc mà sự sống đó đòi hỏi, chỉ có thể được nếu gia đình không tự coi mình như là một mảnh vụn lẻ loi, nhưng nhận ra mình được tháp nhập vào trong một bảng các mối liên hệ. Người ta giáo dục chúng ta đón nhận thực sự con cái nếu người ta ở trong một thực tại của các mối liên hệ họ hàng, bạn bè, cơ chế, hoặc dân sự hoặc giáo hội. Điều luôn trở nên quan trọng hơn là đừng bỏ gia đình, các gia đình, lẻ loi một mình, nhưng hãy đồng hành với các gia đình và nâng đỡ hành trình của gia đình. Khi điều này không xẩy ra, các căng thẳng và các điều cực nhọc không thể tránh được của việc thông truyền đó, là điều phức tạp trong đời sống Gia Đình, trong mối tương quan giữa vợ chống hoặc mối tương quan giữa cha mẹ và con cái, đôi khi có thể chiếm được những cung giọng thê thảm, đến nỗi có thể nổ tung ra thành các cử chỉ của sự điên rồ phá hủy. Sau những tai họa Gia Đình thường năng có một sự cô đơn thất vọng, một tiếng kêu đau khổ mà không ai biết nhận ra.
Để người ta có thể thực sự đón nhận sự sống trong Gia Đình và luôn chăm sóc cho sự sống này, từ khi thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên, thì cần tìm lại ý nghĩa của một tình liên đới được lan rộng ra và có tính cách cụ thể. Tái lập lại trách nhiệm huấn luyện của cộng đoàn, đặc biệt của cộng đoàn Giáo Hội. Hoạt động ở cấp độ cơ chế các điều kiện làm cho việc chăm sóc này có thể, khi làm cho người ta đón nhận việc sinh ra của một em bé, như thế như là việc trợ giúp với một người già cả, như là một điều tốt lành trong xã hội phải bảo trợ và khích lệ. Cần các cộng đoàn Giáo Hội tổ chức thời giờ và khoảng không gian của công việc mục vụ theo mức độ của Gia Đình. Rồi có nhu cầu, vượt lên trên khuynh hướng tư hữu hóa các tình cảm. Thế giới Tây phương rơi vào nguy hiểm là làm cho Gia Đình thành một thực tại được trao phó hoàn toàn cho các sự chọn lựa của cá nhân, hoàn toàn gắn liền vào một khung cảnh nguyên tắc và cơ chế. Một việc tư hữu hóa giống như vậy làm cho các dây liên kết Gia Đình nên mỏng manh hơn, từ từ làm cho mất đi ý nghĩa riêng của các mối dây liên kết này.
c) Trách nhiệm của Giáo Hội và Việc Giáo Dục
Với Giáo Hội được trao cho việc loan báo và làm chứng tá phẩm vị cao nhất của con người. Giáo Hội không giới hạn trong việc nói với các tín hữu và với những người có thiện chí, điều gì họ phải làm, nhưng người ta liên đới với họ. Giáo Hội chia sẻ các niềm hy vọng của họ, các ước vọng của họ và các khó khăn của họ. Điều này là một dấu chỉ mạnh của tính khả tín trước con mắt của thế giới. Một sự lo lắng đặc biệt được dành theo chiều hướng lo việc giáo dục tình cảm và phái tính. Thực vậy trước hết cần phải biết đánh giá việc giáo dục này và loan báo giá trị của nó. Tầm quan trọng của các hành trình giáo dục phải được xác quyết theo chiều hướng này. Chứng tá từ phía các người lớn tăng thêm tính khả tín cho các lý tưởng phải được trình bày với sự minh bạch rõ ràng. Chắc chắn, với các thế hệ trẻ chứng tá của một tình yêu trung tín và sâu xa được làm nên với sự dịu dàng, kính trọng, tiếp nhận lẫn nhau, tha thứ, có khả năng lớn lên trong thời gian mà không bị tiêu hao mình đi trong tính cách trực tiếp. Tuy nhiên cùng lúc cần phải tránh những gì tầm thường, chỉ có bề mặt và các hình thức “dung thứ” giấu kín một sự thờ ơ chính yếu và sự không khả năng chú ý.
Ngoài ra cũng cần tiếp tục trong đề nghị một nhãn giới cá nhân của tình yêu vợ chồng được mô tả bởi Công Đồng Chung Vatican II (xem Hiến chế Vui Mừng và hy vọng, số 49), lưu ý cả những thách đố được gợi ra bởi cách thế trình bày tình yêu và Gia Đình trong nhiều phương tiện truyền thông xã hội. Ngay cả điều này cũng là một đề tài đòi được nghiên cứu hơn.
d) Các đề tài liên hệ tới Humanae Vitae
Về các viễn tượng này có thể một việc tái đề nghị tích cực của sứ điệp trong Thông điệp Humanae vitae qua một việc chú giải lịch sử thích hợp, mà biết đón nhận các dữ kiện lịch sử và các ưu tư đã hướng dẫn việc soạn thảo Thông điệp này từ Đức Giáo Hoàng Phaolô VI. Nói cách khác, cần phải đọc lại Thông điệp này trong viễn tượng mà chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉ ra trong buổi triều yết ngày 31 tháng 7 năm 1968: “. . . không chỉ là việc tuyên bố một luật luân lý tiêu cực, nghĩa là việc loại trừ mọi hành động, được đề ra làm cho việc sinh sản con cái không có thể thực hiện được (số 14), nhưng nhất là việc trình bày tích cực vấn đề luân lý vợ chồng để sứ mạng yêu thương của mình và sứ mạng sinh sản “trong cái nhìn toàn diện của con người và của ơn gọi của con người, không chỉ trong phạm vi tự nhiên và thế trần, nhưng cũng về phương diện siêu nhiên và đời đời” (số 7).Đó là một việc làm sáng tỏ một vấn đề nền tảng của sự sống cá nhân, vợ chồng, gia đình và xã hội của con người, nhưng là bài trình bày toàn vẹn những gì liên hệ tới con người trong phạm vi hôn nhân, Gia Đình, tính ngay thẳng của các tập tục, phạm vi lớn lao trong đó huấn quyền của Giáo Hội có thể và có lẽ phải trở lại với kế đồ rộng lớn hơn, có cơ cấu hơn và tổng hợp hơn“. Cần phải xác định rằng nguyên tắc luân lý được nhắc lại trong đó được thực hiện dưới ánh sáng của “luật tiệm tiến“, theo các chỉ dẫn đã được thành hình trong số 34 của Tông huấn Cuộc sống chung Gia Đình (Familiaris consortio); khi nhắc lại rằng con người như là một hữu thể lịch sử ” . . . biết yêu và hoàn thành điều thiệ luân lý theo các giai đoạn của việc tăng trưởng“.
Kết luận
Nếu chúng ta nhìn vào nguồn gốc của Kitô Giáo, chúng thấy, làm sao Kitô Giáo đã thành công để được chấp nhận và đã được chấp nhận – mặc dầu mọi từ khước và các khác biệt văn hóa – do tính sâu xa và sức mạnh bên trong của sứ của sứ điệp của Kitô Giáo Quả thật, Kitô Giáo đã thành công soi sáng phẩm vị của con người dưới ánh sáng của Mặc Khải, ngay cả trong vấn đề tình cảm, phái tính và Gia Đình.
Thách đố chấp nhận từ phía THĐGM / TG chính là thành công đề ra một cách mới mẻ cho thế giới ngày nay, qua một vài câu giống như điều của các thời đại đầu tiên của Giáo Hội, vẻ huy hoàng của sứ điệp Kitô liên hệ tới hôn nhân và Gia Đình khi nhấn mạnh tới niềm vui mà chúng đem lại, cùng lúc cũng cho những câu trả lời đúng và dấn thân về đức ái (xem Ep 4, 15) cho biết bao nhiêu vấn đề đặc biệt ngày này đụng chạm tới sự hiện hữu của Gia Đình. Khi làm sáng tỏ rằng sự tự do đích thực không hệ tại việc làm điều người ta cảm thấy, nhưng sống theo những cảm xúc, nhưng chỉ thực hiện trong việc chiếm hữu được sự thiện đích thực.
Trong cụ thể, người ta đòi hỏi trước tiên về việc đặt chúng ta bên các anh chị em của chúng ta với tinh thần của người Samaritano nhân hậu (xem Lc 10, 25-37): là chú ý tới đời sống của họ, là đặc biệt gần gũi những người đã “bị thương” từ cuộc sống và đang chờ đợi một lời hy vọng, mà chúng ta biết, chỉ Đức Kitô mới có thể ban cho chúng ta (xem Ga 6, 68). Thế giới cần Đức Kitô. Thế giới cũng cần tới chúng ta, bởi vì chúng ta thuộc về Đức Kitô.
(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng Báo Chí của Tòa Thánh phổ biến ngày 6-10-2014.
Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 8-10-2014).

































