ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG HIỆP THÔNG
Dẫn nhập
Thuật ngữ hiệp thông không xuất hiện trong Cựu Ước, tuy nhiên thực tại mà thuật ngữ này diễn tả được bén rễ sâu trong nội dung mặc khải của Thiên Chúa. Những trang đầu tiên sách Sáng Thế cho chúng ta biết con người vừa là đỉnh cao, vừa là trung tâm chương trình sáng tạo. Bởi vì con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và đượcmời gọi sống trong tương quan hiệp thông với Người, với tha nhân và với toàn thể thế giới thụ tạo. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại và thế giới thụ tạo cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa luôn đồng hành, hướng dẫn và nâng đỡ con người trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, sau khi con người sa ngã, Thiên Chúa không đoạn tuyệt tương quan với nhân loại nhưng khởi sự hành trình cứu độ nhằm tái lập sự hiệp thông đã bị tổn thương bởi tội lỗi.Điều đó được thể hiện cách cụ thể trong lịch sử dân Ít-ra-en bằng các giao ước, lề luật, tế tự,lời các ngôn sứcũng như các hình thức tương giao khác.
Cao điểm sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người thể hiện nơi hành trình trần thế của Đức Giê-su. Người là Con Một Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa gia đình nhân loại. Chính Người đã mặc khải cho mọi người biết về sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa trong đời sống nội tại cũng như trong chương trình sáng tạo, cứu độ và thánh hóa con người, đồng thời canh tân toàn thể thụ tạo. Đỉnh cao sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với nhân loại được biểu lộ nơi Biến Cố Vượt Qua của Người. Cụ thể là Người đã trải qua muôn vàn thử thách, đau khổ và cái chết để thông phần vào thân phận con người trong hành trình lữ thứ trần gian. Đặc biệt, Người đã phục sinh để đem lại cho con người sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa và sự sống vĩnh cửu nơi Người.
Chủ đề bài viết ‘Đức Giê-su Ki-tô – Đường Hiệp Thông’ được triển khai qua bốn phần chính: (1) Khái Niệm Hiệp Thông, (2) Hiệp Thông Trong Cựu Ước, (3) Hiệp Thông Trong Tân Ước và (4) Đức Giê-su – Đường Hiệp Thông. Việc tìm hiểu và khai triển chủ đề này giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ trong chương trình sáng tạo, cứu độ và thánh hóa con người cũng như biến đổi muôn vật muôn loài. Chương trình nàyphát xuất từ mầu nhiệm hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi và hướng toàn thể thụ tạo đến sự viên mãn trong Đức Ki-tô. Đồng thời, việc tìm hiểu và khai triển này cũng giúp chúng ta nhận thức rằng hiệp thông với Thiên Chúa là nền tảng và điều kiện cho mọi hình thức hiệp thông và liên đới giữa con người với nhau cũng như với toàn thể thế giới thụ tạo.
1. KHÁI NIỆM HIỆP THÔNG
Đối với người Hy-lạp vào thời Đức Giê-su, khái niệm hiệp thông ‘κοινωνία’ (koinonia) chủ yếu được sử dụng để diễn tả các mối tương quan trong đời sống văn hóa và xã hội của con người. Về mặt ngữ nguyên, danh từ κοινωνία phát xuất từ tính từ κοινός (koinos), nghĩa là ‘chung’, ‘thuộc về nhiều người’, hay’được chia sẻ’. Từ gốc này hình thành một nhóm từ ngữ quan trọng trong tiếng Hy-lạp, chẳng hạn như động từ κοινωνέω (koinōneō), nghĩa là ‘tham dự’, ‘chia sẻ’, ‘thông phần’; danh từ κοινωνός (koinōnos), nghĩa là ‘người cùng tham dự’, ‘người thông phần, ‘người cộng sự’ và danh từ κοινωνία (koinōnia), nghĩa là ‘sự tham dự’, ‘sự chia sẻ’, ‘sự thông phần’, ‘sự hiệp thông’.Trong ngữ cảnh Hy-lạp, κοινωνία không chỉ diễn tả một tình trạng hay mối liên hệ bên ngoài mà còn hàm ý sự cùng tham dự vào một thực tại chung, cùng chia sẻ một đời sống, một lợi ích hay một sứ mệnh.Trong đời sống văn hóa, khái niệm ‘hiệp thông’ diễn tả mối tương quan của những người cùng chia sẻ các giá trị văn hóa thuộc vùng miền, chủng tộc, dân tộc hay quốc gia. Trong đời sống xã hội, khái niệm này diễn tả việc sở hữu chung của nhiều người đối với tài sản, ý thức hệ hay hệ thống luật pháp. Các tác giả Hy-lạp cổ điển còn dùng thuật ngữ này để chỉ tình bằng hữu, sự cộng tác trong đời sống xã hội, sự liên đới giữa các thành viên của một cộng đồng hoặc sự tham gia vào những lợi ích và trách nhiệm chung. Nói cách khác, phổ nghĩa khái niệm ‘hiệp thông’ diễn tả những mối tương quan đa diện của con người trong các hình thức cộng đoàn.
Từ thế kỷ IV trước Công Nguyên đến thế kỷ IV sau Công Nguyên, văn hóa và ngôn ngữ Hy-lạp tỏa lan khắp vùng Địa Trung Hải và ảnh hưởng rộng trong đế quốc Rô-ma. Đó là lý do tại sao toàn bộ 27 sách của Tân Ước được viết bằng tiếng Hy-lạp. Quả thật, khái niệm ‘hiệp thông’ vốn mang nghĩa văn hóa, xã hội đã trở thành khái niệm căn bản trong Kinh Thánh và thần học để diễn tả nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Cuộc gặp gỡ giữa đức tin Ki-tô Giáo và nền văn hóa Hy-lạp đậm chất triết học đã giúp con người ngày càng hiểu biết sâu xa hơn về mầu nhiệm hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người.
Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người không phải là sự hiệp thông qua lại hay hỗ tương giữa những hữu thể tương đồng về phẩm giá và cách thức hiện hữu. Trái lại, đây là sự hiệp thông được chính Thiên Chúa khởi xướng, ban tặng và từng bước thực hiện trong dòng lịch sử cứu độ. Đỉnh cao sự hiệp thông này được biểu lộ nơi Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người, hiện diện và hoạt động giữa gia đình nhân loại. Nơi Người, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau cách trọn vẹn; nơi Người, khoảng cách do tội lỗi gây nên được vượt qua; và nhờ Người, gia đình nhân loại được hiệp thông với Thiên Chúa cách cụ thể và sống động trên hành trình tiến tới sự sống viên mãn trong Nước Thiên Chúa.
Ý tưởng hiệp thông được sử dụng khá sớm nơi các Giáo Phụ, chẳng hạn, thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-khi-a trình bày ý tưởng này khi đề cập đến các tương quan trong Giáo Hội và Bí Tích Thánh Thể cũng như vai trò của giám mục. Chẳng hạn, ngài viết: “Ở đâu có giám mục hiện diện, ở đó cũng phải có cộng đoàn tín hữu; cũng như ở đâu có Đức Giê-su Ki-tô, ở đó có Giáo Hội Công Giáo” (Epistle of Ignatius to the Smyrnaeans 8). Đây là một trong những bản văn sớm nhất cho thấy ý tưởng về sự hiệp thông trong Giáo Hội, trong đó sự liên kết với giám mục được xem là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông với Đức Ki-tô và với toàn thể Giáo Hội. Còn thánh I-rê-nê thành Ly-on dùng khái niệm hiệp thông để trình bày tương quan giữa các Ki-tô hữu với Đức Giê-su nhờ việc Người hiện diện giữa gia đình nhân loại, chẳng hạn: “Làm sao chúng ta có thể được tham dự vào ơn làm nghĩa tử nếu chúng ta không lãnh nhận từ chính Thiên Chúa, nhờ Con của Người, sự hiệp thông với Người? Và nếu Ngôi Lời, sau khi trở nên xác phàm, đã không đi vào sự hiệp thông với chúng ta? Chính vì thế, Người đã đi qua mọi giai đoạn của đời sống con người để phục hồi sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa” (St. Irenaeus of Lyons, Adversus Haereses III,18.7). Ngài cũng sử dụng ý tưởng hiệp thông để diễn tả sự liên kết các tín hữu trong đức tin vào Con Thiên Chúa nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, trong Giáo Hội và trong Bí Tích Thánh Thể (St. Irenaeus of Lyons, Adversus Haereses V,2.2; V,14.2).
Chúng ta cần phân biệt hai khái niệm ‘hiệp thông’ và ‘hiệp nhất’ bởi vì trong thần học cũng như một số lĩnh vực khác, nhiều khi thuật ngữ ‘hiệp thông’ (κοινωνία, communio, communion) và ‘hiệp nhất’ (ἑνότης, unitas, unity) được dùng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, nội hàm hai khái niệm này có những điểm khác biệt đáng lưu ý: Về mặt ngôn ngữ, κοινωνία (koinōnia) nhấn mạnh việc cùng tham dự, chia sẻ và thông phần vào thực tại chung; còn ἑνότης (henotēs) diễn tả tình trạng hợp nhất hay sự toàn vẹn của thực thể.Hiệp thông nhấn mạnh đến các tương quan sống động; hiệp nhất nhấn mạnh đến sự ‘nên một’. Hiệp thông thiên về sự phân biệt nhưng vẫn có sự chia sẻ và tham dự, không xóa bỏ đặc thù hay cá tính, nhấn mạnh sự liên kết trong đa dạng; trong khi đó, hiệp nhất thiên về tình trạng gắn kết, vượt qua chia rẽ, hướng tới sự đồng tâm, đồng lòng. Mục đích hiệp nhất là bảo đảm sự toàn vẹn không để phân mảnh hay đối nghịch của các thành phần trong cùng một thực thể; mục đích hiệp thông là giúp các thành phần tham dự, trao ban và hỗ trợ lẫn nhau hầu làm cho toàn thể được phát triển và đạt tới sự viên mãn. Chẳng hạn, trong Giáo Hội, hiệp nhất nhấn mạnh sự gắn kết hữu hình và cơ cấu; còn hiệp thông nhấn mạnh sự tham dự vào đời sống đức tin, tình yêu và ân sủng; hiệp thông làm phát sinh và kiện toàn hiệp nhất; hiệp nhất biểu lộ và phục vụ hiệp thông. Trong Bí Tích Thánh Thể, cộng đoàn quy tụ biểu thị sự hiệp nhất và đích điểm của việc quy tụ này là được hiệp thông với Đức Ki-tô dưới hình bánh và rượu. Đối với Thiên Chúa: Thiên Chúa duy nhất cũng là Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi Vị đồng bản thể (ὁμοούσιος/ homoousios) và luôn hiệp thông với nhau trong tình yêu trọn vẹn. Hai thuật ngữ, hiệp nhất và hiệp thông giúp con người hiểu biết sâu xa hơn về bản tính, các tương quan, tình yêu cũng như sự sống nội tại của Thiên Chúa.
Thuật ngữ hiệp thông trở thành thuật ngữ quan trọng giúp con người hiểu biết hơn về Chúa Ba Ngôi. Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Vì theo trật tự vĩnh cửu giữa các Ngôi vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi, tức là ‘nguyên lý không nguyên lý’ của Chúa Thánh Thần và đồng thời Người là Cha sinh ra Con duy nhất; nên Chúa Cha và Chúa Con là ‘nguyên lý duy nhất xuất phát Chúa Thánh Thần'” (GLGHCG 248). Như vậy, sự hiệp thông của Thiên Chúa là sự hiệp thông hoàn hảo của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong đời sống nội tại cũng như trong chương trình sáng tạo, cứu độ và thánh hóa. Các Giáo Phụ Hy-lạp thường diễn tả mối tương quan sâu nhiệm giữa Ba Ngôi Thiên Chúa bằng hạn từ περιχώρησις (perichōrēsis), nghĩa là sự hiện diện và thâm nhập hỗ tương giữa Ba Ngôi Vị mà không hề hòa lẫn cũng không phân chiahay táchrời nhau.Đặc biệt, sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa được hiểu như là sự tham dự vào sự sống và tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Giáo Hội là công trình của Chúa Ba Ngôi: Được Chúa Cha tiền định từ muôn thuở, được Chúa Con thiết lập trong dòng lịch sử cứu độ và được Chúa Thánh Thần không ngừng thánh hóa. Giữa gia đình nhân loại, Giáo Hội vừa là thực tại hữu hình vừa là thực tại vô hình, vừa cụ thể vừa siêu việt, vừa hiện diện vừa ẩn giấu, vừa thánh thiêng vừa phàm trần, vừa cao cả vừa mỏng manh và dễ bị tổn thương vì những yếu đuối và muôn hình thức giới hạn của con người. Chúa Ba Ngôi không ngừng nuôi dưỡng, nâng đỡ và biến đổi Giáo Hội để Giáo Hội ngày càng trở nên sáng đẹp hơn. Giáo Hội hướng về Chúa Ba Ngôi để không ngừng đón nhận ân sủng, đồng thời, hướng về nhân loại để trao ban ân sủng. Nhờ đó, Giáo Hội biểu lộ chính mình như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ và là khí cụ hữu hiệu của Nước Thiên Chúa (LG 1; LG 48). Nói cách khác, Giáo Hội hiện tại hóa công trình cứu độ của Thiên Chúa trong dòng lịch sử, nhờ đó, những ai tham dự vào đời sống Giáo Hội thì được thông phần vào ân sủng của Người.
Các thánh thông công hay sự hiệp thông của các thánh (κοινωνία τῶν ἁγίων/ communio sanctorum) được thể hiện trong ba tình trạng Giáo Hội: Giáo Hội lữ hành (Ecclesia peregrinans), Giáo Hội thanh luyện (Ecclesia purgans) và Giáo Hội khải hoàn (Ecclesia triumphans). Hạn từ ‘các thánh thông công’ không xuất hiện trong Kinh Tin Kính Nicea (325) hay Kinh Tin Kính Constantinople (381). Hạn từ này xuất hiện trong Kinh Tin Kính vào cuối thế kỷ IV và đầu thế kỷ V ở Tây Phương; vào khoảng thế kỷ VIII-IX, hạn từ này trở nên phổ biến trong Giáo Hội Tây Phương. Sự hiệp thông giữa ba tình trạng Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng các thành phần Giáo Hội không chỉ gồm những người đã đạt tới sự thánh thiện viên mãn mà còn gồm những người đang trên hành trình hoán cải theo thánh ý Thiên Chúa. Như vậy, sự hiệp thông của các thánh cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn là sự hiệp thông của những người công chính, thánh thiện. Theo thánh Tô-ma A-qui-nô: “Tất cả những ai được liên kết với nhau nhờ đức ái đều nhận được một phần ích lợi từ các việc lành của nhau, dù theo mức độ tương ứng với tình trạng của mỗi người; bởi lẽ ngay cả trên thiên đàng, mỗi người cũng sẽ vui hưởng các thiện ích của người khác. Chính vì thế mà sự hiệp thông các thánh được tuyên xưng như một tín điều đức tin” (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, Supplementum, q.71, a.1). Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII quả quyết: “Nhờ sự hiệp thông các thánh, không điều thiện hảo nào được thực hiện, cũng không nhân đức nào được thực hành bởi từng thành viên mà lại không sinh ích cho phần rỗi của toàn thể mọi người” (Pope Pius XII, Mystici Corporis Christi 89). Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo về các thánh thông công: “Trong sự hiệp thông kỳ diệu này, sự thánh thiện của một người ảnh hưởng trên người khác vượt xa thiệt hại do tội lỗi của một người có thể gây ra cho người khác“ (GLGHCG 1475).
Hơn nữa, khái niệm ‘κοινωνία τῶν ἁγίων/ communio sanctorum’ không chỉ diễn tả sự hiệp thông giữa ba tình trạng của Giáo Hội hay sự hiệp thông của những người thánh, tức các thánh (sancti/ holy persons) mà còn là sự hiệp thông trong những điều thánh hay các thực tại thánh (sancta/ holy things). Trong tiếng La-tinh, từ sanctorum là sở hữu cách số nhiều nên có thể được hiểu theo hai nghĩa: Của những người thánh (sancti) và của những điều thánh (sancta). Chính tính đa nghĩa này làm cho công thức communio sanctorum vừa diễn tả sự hiệp thông giữa các tín hữu vừa diễn tả sự hiệp thông trong các thực tại thánh thiêng của Giáo Hội.Các Ki-tô hữu hiệp thông với nhau trong những thực tại thánh thiêng ấy, chẳng hạn như hiệp thông với nhau trong ân sủng, trong đức tin, trong các bí tích, nhất là Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể hay hiệp thông với nhau trong việc chia sẻ lời Thiên Chúa hay trong các phúc lành thiêng liêng của Giáo Hội.
Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ Công Đồng Vatican II trở đi, khái niệm ‘hiệp thông’ được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện chính thức. Đặc biệt, khái niệm này được dùng để diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh Giáo Hội giữa gia đình nhân loại. Thần học gia Walter Kasper cho rằng: “Khái niệm hiệp thông giữ vị trí trung tâm trong các văn kiện của Công Đồng” (Walter Kasper, Theology and Church [1989], 151). Mở đầu ’Thư Gửi Các Giám Mục Thuộc Giáo Hội Công Giáo Về Một Số Khía Cạnh Của Giáo Hội Được Hiểu Như Là Hiệp Thông’ năm 1992, Bộ Giáo Lý Đức Tin khẳng định: “Khái niệm hiệp thông (koinonia) xuất hiện khá nổi bật trong các văn kiện của Công Đồng Vatican II rất thích hợp để diễn tả cốt lõi của Mầu Nhiệm Giáo Hội và chắc hẳn có thể trở thành chìa khóa cho việc canh tân Giáo Hội Học Công Giáo.” Giáo Hội là thực tại hữu hình và vô hình, vì thế, sự hiệp thông của Giáo Hội cũng mang chiều kích hữu hình và vô hình. Các thành phần trong Giáo Hội liên kết mật thiết với nhau vì được hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đồng thời, cũng hiệp thông với nhau trong việc thực thi căn tính, đời sống và sứ mệnh Giáo Hội.
Khái niệm hiệp thông cho phép Giáo Hội đào sâu ba hình ảnh chủ đạo của Giáo Hội xuyên suốt lịch sử, đó là Dân Thiên Chúa, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô và Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, theo Công Đồng Vatican II, Giáo Hội là Dân Thiên Chúa: “Dân tộc thiên sai ấy được Chúa Ki-tô thiết lập để thông dự [in communionem] vào sự sống, bác ái và chân lý, được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi cho mọi người, và được sai đi khắp thế giới như ánh sáng trần gian và muối đất” (LG 9). Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô: “Giáo Hội ở trong Chúa Ki-tô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (LG 1). Giáo Hội là Đền Thờ Chúa Thánh Thần: “Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong lòng các tín hữu như trong đền thờ. Trong họ, Người cầu thay nguyện giúp và làm chứng rằng họ là nghĩa tử của Thiên Chúa” (LG 4). Ba hình ảnh này tương ứng với ba chiều kích nền tảng của mầu nhiệm Giáo Hội: Dân được quy tụ (λαός/ laos), thân thể được liên kết (σῶμα/ sōma) và đền thờ được Thần Khí ngự trị (ναός/ naos). Nói cách khác, ba chiều kích này quy chiếu về thực tại Giáo Hội được quy tụ bởi Chúa Cha, là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô và là Đền Thờ Chúa Thánh Thần ngự trị, thánh hóa và dẫn dắt.
Khi trình bày tương quan giữa Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương, thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin (1992) nhấn mạnh rằng: “Giáo Hội phổ quát không phải là kết quả của sự hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương, nhưng trong mầu nhiệm cốt yếu của nó, Giáo Hội hoàn vũ là thực tại có trước mọi Giáo Hội địa phương riêng lẻ, cả về phương diện hữu thể lẫn phương diện thời gian” (Thư Gửi Các Giám Mục Giáo Hội Công Giáo, Bàn Về Một Số Khía Cạnh Của Giáo Hội Được Hiểu Như Là Hiệp Thông, 9). Do đó, theo thư này: “Công thức của Công đồng Vaticanô II: Giáo Hội hiện diện trong và phát xuất từ các Giáo Hội (Ecclesia in et ex Ecclesiis) phải được gắn liền với một công thức khác: Các Giáo Hội hiện diện trong và phát xuất từ Giáo Hội (Ecclesiae in et ex Ecclesia)” (Thư Gửi Các Giám Mục Giáo Hội Công Giáo, Bàn Về Một Số Khía Cạnh Của Giáo Hội Được Hiểu Như Là Hiệp Thông, 9). Như vậy, các đặc tính và sự viên mãn của Giáo Hội hoàn vũ hiện diện và hoạt động đích thực trong các Giáo Hội địa phương. Đặc biệt, tương quan giữa Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương là tương quan nhiệm mầu, vượt quá sự diễn tả của ngôn ngữ. Do đó, chúng ta không thể đồng hoá hay so sánh tương quan này với bất cứ loại tương quan nào trong thế giới thụ tạo.
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, một số thuật ngữ đề cập đến tương quan hiệp thông giữa Giáo Hội Công Giáo Rô-ma và các hệ phái Ki-tô hữu khác, chẳng hạn như hiệp thông trọn vẹn hay đầy đủ (full communion), hiệp thông một phần (partial communion), hiệp thông chưa trọn vẹn (imperfect communion). Quả thật, khôi phục và gìn giữ sự hiệp thông giữa các Ki-tô hữu là một trong những sứ mệnh cao cả của các tín hữu trên toàn thế giới. Nói cách khác, sự hiệp thông và gắn bó giữa các Ki-tô hữu thuộc các hệ phái Ki-tô Giáo (Christian denominations/ communions) cùng với gia sản thiêng liêng và các nguồn lực phong phú là điều kiện quan trọng cho công cuộc loan báo Tin Mừng giữa gia đình nhân loại. Trong lãnh vực đại kết (οἰκουμένη/ oikoumenē), thuật ngữ ‘hiệp thông’ được dùng để diễn tả mức độ tham dự chung vào cùng một đức tin, các bí tích và đời sống Giáo Hội, dù sự hiệp thông ấy có thể chưa đạt tới sự viên mãn hữu hình. Việc tìm kiếm sự hiệp thông giữa các hệ phái Ki-tô Giáo luôn là điều cần thiết không chỉ nơi những người có thẩm quyền mà còn nơi mỗi tín hữu. Một trong những chủ đề quan trọng mà Đức Giê-su truyền lại cho các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn là xây dựng và gìn giữ sự liên đới với nhau. Những hình thức hiệp thông theo ‘mức độ nào đó’ giữa các hệ phái Ki-tô Giáo mở đường cho sự hiệp thông trọn vẹn của các tín hữu trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô giữa gia đình nhân loại. Điều này có nghĩa là các tín hữu được mời gọi đi vào mối hiệp thông trong đức tin, đời sống bí tích và sứ mệnh.
Trong bối cảnh thế giới hôm nay, ý tưởng và khái niệm hiệp thông được diễn tả dưới nhiều hình thức khác nhau trong các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo, các truyền thống và các hình thái xã hội. Khái niệm này mang tính năng động hơn là tĩnh tại bởi vì hướng đến những tương quan sống động giữa các chủ thể cũng như giữa các thực tại. Theo đó, việc nhận diện, tiếp cận và hiểu biết thực thể nào đó cần được xem xét trong các tương quan của nó với những thực thể khác, nghĩa là: Các thực thể trong sự hiệp thông hỗ trợ, soi sáng, giải thích cho nhau và định hình lẫn nhau. Cách tiếp cận này khá gần với nguyên nghĩa của κοινωνία (koinōnia) bởi vì thuật ngữ này không chỉ diễn tả một trạng thái đã hoàn thành mà còn diễn tả tiến trình tham dự, chia sẻ và liên kết không ngừng giữa các chủ thể. Như vậy, hiệp thông không bao giờ là sự liên kết theo một chiều mà là mạng lưới tương quan đa chiều và liên quan đến nhiều chủ thể cũng như các đối tượng hỗ tương và tác động lẫn nhau. Nói cách khác, hiệp thông nhấn mạnh các tương quan hơn là xem xét các chủ thể hay các thực tại như những đơn vị riêng lẻ, biệt lập, khép kín nơi chính mình.
Con người sống là sống với, sống vì và sống cho Thiên Chúa, cho anh chị em mình cũng như cho toàn thể thụ tạo. Nói đến hiệp thông là nói đến ‘chúng ta’ (we) hơn là ‘tôi’ (I) bởi vì hiệp thông hướng đến tính cộng đoàn và tính tương quan. Hiệp thông không quy về chủ thể cá nhân nhưng mở ra với các khả thể đa dạng hơn, rộng lớn hơn và sống động hơn. Hiệp thông quan tâm đến thiện ích chung của xã hội (common good of society), của tập thể, của các hình thức cộng đoàn. Hiệp thông quan tâm đến tính phổ quát (universality) hơn là chủ nghĩa địa phương (localism), quan tâm đến công ích (common good) hơn là chủ nghĩa cục bộ (particularism), quan tâm đến cộng đoàn (community) hơn là chủ nghĩa cá nhân (individualism), quan tâm đến tình huynh đệ phổ quát (universal fraternity) hơn là chủ nghĩa dân tộc cực đoan (nationalism). Nói cách khác, hiệp thông mời gọi mọi người luôn mở rộng tâm trí để biết ngạc nhiên trước những gì vượt quá kinh nghiệm vốn có của mình và sẵn sàng đón nhận những điều mới mẻ hướng tới bức tranh toàn cảnh của gia đình nhân loại, gia đình thế giới thụ tạo, Gia Đình Thiên Chúa.
Chúng ta có thể khẳng định rằng muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo đều liên đới với nhau bởi vì tất cả đều được Thiên Chúa sáng tạo, nâng đỡ, biến đổi và quy hướng về Người. Thánh Phao-lô viết: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người? Ai đã cho Người trước, để Người phải trả lại sau? Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người” (Rm 11,33-36). Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô diễn giải: “Trong vũ trụ này, được cấu thành bởi những hệ thống mở và liên thông với nhau, chúng ta có thể nhận ra vô số hình thức tương quan và tham dự. Điều này dẫn chúng ta đến chỗ nghĩ rằng toàn thể vũ trụ mở ra cho sự siêu việt của Thiên Chúa, trong đó, tất cả triển nở” (Pope Francis, Laudato Si’ 79). Cũng theo ngài: “Việc chăm sóc thiên nhiên là một phần của lối sống bao hàm khả năng sống chung với nhau và hiệp thông. Đức Giê-su nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có cùng một Thiên Chúa là Cha và điều đó làm cho chúng ta trở thành anh chị em của nhau” (Pope Francis, Laudato Si’ 228).
Sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người cùng sự liên đới của toàn thể thụ tạo không chỉ liên quan đến những diễn biến trong không gian và thời gian mà còn hướng tới thực tại vĩnh cửu. Bởi lẽ, Thiên Chúa muốn quy tụ con người và muôn vật muôn loài trong thời sau hết, tức là thời cánh chung. Quả thật, một mặt, Thiên Chúa diễn tả sự hiệp thông của Người theo cách thức mà con người có thể cảm nghiệm và tham dự cách tích cực, sống động, hữu hiệu. Mặt khác, sự hiệp thông của Thiên Chúa vẫn luôn siêu việt khả năng hiểu biết hay nắm bắt của con người. Do đó, con người được mời gọi ý thức sâu xa về sự hiệp thông của mình với Thiên Chúa, với anh chị em đồng loại, đồng thời ý thức về sự liên đới của mình với toàn thể thụ tạo trong hành trình tiến về sự hiệp thông viên mãn trong Nước Thiên Chúa.
2. HIỆP THÔNG TRONG CỰU ƯỚC
2.1. Hiệp thông biểu lộ qua Giao ước
Như đã đề cập ở trên, ‘hiệp thông’, xét như một hạn từ thần học, chưa xuất hiện trong Cựu Ước nhưng thực tại hiệp thông lại được diễn tả bằng nhiều hình thức khác nhau xuyên suốt các sách Cựu Ước. Những trang đầu tiên sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Người: Con người không hiện hữu như một hữu thể khép kín nơi chính mình nhưng là hữu thể tương quan, được mời gọi sống trong tình thân với Thiên Chúa, với tha nhân và với toàn thể thụ tạo. Đặc biệt, người nam và người nữ hòa hợp với nhau đến nỗi trở nên ‘một xương một thịt’ (St 2,24). Thiên Chúa luôn gần gũi với con người và sự gần gũi đó được diễn tả qua hình ảnh Thiên Chúa đi dạo trong vườn địa đàng (St 3,8). Thiên Chúa còn truyền cho con người không được ăn quả của cây cho biết điều thiện điều ác. Tuy nhiên, con người đã vô ơn, kiêu ngạo, bất tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Khi con người phạm tội cũng là khi mối hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và với nhau bị tổn thương. Từ đó, con người xa cách Thiên Chúa, xa cách nhau và xa cách chính mình; trật tự hài hòa của công trình sáng tạo cũng bị rạn nứt, xáo trộn. Hơn nữa, do hậu quả tội lỗi, tự sức, con người không thể khôi phục mối hiệp thông thuở ban đầu.
Sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa lập giao ước với Nô-ê bởi vì ông là “người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời, và ông đi với Thiên Chúa” (St 6,9). Hình ảnh Nô-ê gợi lên trong chúng ta hình ảnh con người trước khi tội lỗi xâm nhập trần gian. Nô-ê được xem như là người cha của một nhân loại mới sau biến cố hồng thủy. Hơn nữa, giao ước với Nô-ê còn được gọi là giao ước phổ quát vì liên quan đến con người và vạn vật: “Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này, và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi: Chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tàu đi ra, kể cả dã thú” (St 9,9-10). Thiên Chúa còn mở ra viễn tượng đầy hy vọng, trong đó mọi xác phàm sẽ không bị hồng thủy tiêu diệt và hồng thủy không còn xuất hiện để tàn phá nữa (St 9,11). Đây là giao ước bền vững dành cho toàn thể nhân loại và muôn loài thụ tạo. Qua giao ước này, Thiên Chúa cho thấy Người không bỏ mặc thế giới sau tội lỗi nhưng tiếp tục bảo toàn sự sống, duy trì trật tự sáng tạo và mở ra khởi đầu mới cho gia đình nhân loại. Từ dòng dõi Nô-ê, nhân loại tiếp tục sinh sôi nảy nở và lan tỏa khắp mặt đất: “Các con trai ông Nô-ê ra khỏi tàu là: Sêm, Kham và Gia-phét; ông Kham là cha của ông Ca-na-an. Ba ông này là con trai ông Nô-ê, và con cháu họ phân tán ra khắp mặt đất” (St 9,18-19).
Thiên Chúa lại thiết lập giao ước với Áp-ra-ham. Đây là giao ước rất đặc biệt bởi vì không chỉ là giao ước diễn tả sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với một con người mà còn là giao ước liên quan đến dòng dõi của ông qua các thế hệ mai sau. Trình thuật sách Sáng Thế cho chúng ta biết Áp-ra-ham đã tin vào Thiên Chúa và ông được kể là người công chính (St 15,6). Sự hiệp thông của Áp-ra-ham với Thiên Chúa được thể hiện qua đức tin kiên vững đối với Người. Cụ thể là, Áp-ra-ham hằng tin tưởng vào Thiên Chúa ngay cả khi phải đối diện những thử thách hết sức cam go, chẳng hạn như trong biến cố ông vâng phục Thiên Chúa để hiến dâng I-xa-ác làm lễ toàn thiêu. Nơi Áp-ra-ham, hiệp thông với Thiên Chúa trước hết là lắng nghe, tin tưởng và bước đi theo lời Người, dù hành trình ấy nhiều khi vượt quá khả năng hiểu biết và dự tính của con người. Sự hiệp thông với Thiên Chúa trở thành mẫu gương cho con cháu của ông, cho dân Ít-ra-en và toàn thể gia đình nhân loại qua mọi thời đại.
Hơn nữa, khi mặc khải chương trình cứu độ cho Áp-ra-ham, nghĩa là chương trình hiệp thông giữa Người và dòng dõi của ông, Thiên Chúa cho ông biết rằng, qua ông, mọi dân tộc trong đại gia đình nhân loại được chúc phúc (St 12,3). Sau khi thử thách về lòng trung tín và sự vâng phục của ông liên quan đến việc hiến tế I-xa-ác, Thiên Chúa nói với Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22,18. Người cũng nói với I-xa-ác: “Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi ra nhiều như sao trên trời, sẽ ban cho dòng dõi ngươi tất cả những miền đất này; và nhờ dòng dõi ngươi, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 26,4). Việc mọi dân tộc được chúc phúc không chỉ diễn tả sự kiện họ đón nhận phúc lành từ Thiên Chúa mà còn hàm chứa lời mời gọi tham dự vào sự hiệp thông vĩnh cửu với Người. Như thế, ngay trong giao ước với Áp-ra-ham, chiều kích phổ quát của ơn cứu độ đã được hé mở: Phúc lành Thiên Chúa ban cho một người và một dòng dõi được hướng tới mọi dân tộc trong gia đình nhân loại.
Giao ước giữa Thiên Chúa với A-đam, Nô-ê và Áp-ra-ham là nền tảng căn bản cho việc Thiên Chúa thiết lập giao ước với dân Ít-ra-en qua trung gian Mô-sê. Sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en do Mô-sê lãnh đạo dựa trên lời hứa và sự chúc lành về phía Thiên Chúa cũng như đức tin và sự trung tín về phía con người. Mô-sê đại diện cho một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn, ban lề luật và dẫn dắt: “Ta sẽ nhận các ngươi làm dân riêng của Ta, và đối với các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa” (Xh 6,7). Thiên Chúa thật gần gũi với dân mà Người tuyển chọn: “Ta sẽ đặt Nhà Tạm của ta giữa các ngươi, và sẽ không chán ghét các ngươi. Ta sẽ đi đi lại lại giữa các ngươi; Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta” (Lv 26,11-12). Mô-sê là nhân vật kiểu mẫu trong tương quan hiệp thông với Thiên Chúa bởi vì “Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11). Qua Mô-sê, hiệp thông không chỉ được diễn tả trong tương quan giữa Thiên Chúa với một cá nhân mà còn giữa Thiên Chúa với một dân được tuyển chọn, được quy tụ và được sai đi để làm chứng cho Người giữa các dân tộc.
Các dấu chỉ diễn tả sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en theo tinh thần giao ước thật đa dạng, chẳng hạn: Sự hiện diện của Thiên Chúa qua cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm trong biến cố Xuất Hành (Xh 13,21-22), Lều Hội Ngộ (Xh 33,7-11), Hòm Bia Giao Ước (Xh 25,10-22), Đền Thờ Giê-ru-sa-lem (1 V 8,10-13), các giới răn và lề luật (Xh 20,1-17; Đnl 6,1-9); phép cắt bì (St 17,9-14), các lễ hội phụng tự (Lv 23,1-44). Ngoài ra, còn có các dấu chỉ khác nữa chẳng hạn như việc giữ ngày sa-bát, kinh nguyện, các lời chúc lành, các bữa ăn giao ước, việc xức dầu phong vương, việc quy tụ dân Chúa cũng như việc thực hành lòng thương xót và tha thứ. Tóm lại, các dấu chỉ hiệp thông bao gồm mọi thực tại, biểu tượng, hành động diễn tả mối tương quan giao ước với Thiên Chúa, đồng thời được thực hiện theo thánh ý Người. Những dấu chỉ ấy không chỉ nhắc nhở dân Ít-ra-en về sự hiện diện của Thiên Chúa nhưng còn giúp họ tham dự cách cụ thể vào đời sống giao ước và lớn lên trong tương quan hiệp thông với Người.
Nói đến các giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en là nói đến những dấu chỉ hữu hình diễn tả sự hiệp thông. Đặc biệt, máu các con vật dùng trong lễ tế tượng trưng mối dây hiệp thông sâu xa giữa dân Ít-ra-en với Thiên Chúa: “Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ…. Ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24,6.8). Như vậy, máu là dấu chỉ hữu hình diễn tả tương quan giao ước sống động giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en; đồng thời, máu cũng là dấu chỉ sự thánh hiến, ơn cứu độ và sự giải thoát mà Thiên Chúa thực hiện cho dân Người. Trong truyền thống Kinh Thánh, máu được xem là thuộc về Thiên Chúa vì máu là biểu tượng của sự sống (Lv 17,11). Do đó, việc rảy máu giao ước diễn tả cách đặc biệt sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với dân Người trong tương quan giao ước thánh thiêng.
Các hy lễ trong Cựu Ước đều mang chiều kích hiệp thông. Chẳng hạn, trong lễ kỳ an (שְׁלָמִים/ Shelamim), dân chúng tiến dâng hy lễ, máu được rảy và những người tham dự dùng bữa trước nhan Thiên Chúa. Với hy lễ này, con người được mời gọi hòa giải với Thiên Chúa, với anh chị em để được sống trong tình trạng ân phúc và bình an. Ai được hòa giải với Thiên Chúa thì được hiệp thông với Người, đồng thời được củng cố mối hiệp thông với anh chị em trong cộng đoàn. Đó là lý do tại sao hy lễ kỳ an thường được gọi là hy lễ hiệp thông. Sách Ma-ca-bê quyển thứ nhất trình thuật: “Toàn dân sấp mặt xuống thờ lạy và chúc tụng Trời, Đấng đã giúp họ thành công. Họ cử hành lễ cung hiến bàn thờ trong tám ngày liên tục, hoan hỷ dâng lễ toàn thiêu, hy lễ hiệp thông và tạ ơn” (1 Mcb 4,55-56).
Để diễn tả và củng cố sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với dân Người, Thiên Chúa không chỉ thiết lập giao ước mà còn quy định các nghi thức phụng tự để dân Ít-ra-en hiệp thông với Người cách xứng hợp. Quả thật, sự hiệp thông không chỉ thuộc chiều kích nội tâm mà còn được biểu hiện ra bên ngoài qua những thời gian và không gian nhất định. Nhờ đó, dân Ít-ra-en không chỉ cảm nghiệm được sự hiệp thông với Thiên Chúa mà còn biểu lộ sự hiệp thông đó nơi các cá nhân hay cộng đoàn trong suốt hành trình lịch sử. Những thực hành phụng tự ấy góp phần định hình căn tính của dân giao ước, đồng thời duy trì ký ức sống động về những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Người.
2.2. Đổ vỡ và phục hồi hiệp thông
Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng khi con người vô ơn, kiêu ngạo, bất tuân huấn lệnh Thiên Chúa thì cũng là lúc tội lỗi xâm nhập trần gian. Lời cám dỗ của con rắn (hình ảnh của ma quỷ) về việc ăn cây biết điều thiện điều ác thật hấp dẫn: “Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,5). Khi tội lỗi xâm nhập trần gian, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người bị đổ vỡ, đồng thời, con người trốn tránh Thiên Chúa, sống trong sợ hãi và đổ lỗi cho nhau. Quả thật, tội lỗi không chỉ là sự vi phạm một giới luật nhưng còn là sự khước từ tương quan giao ước với Thiên Chúa và là nguyên nhân sâu xa làm tổn thương mọi tương quan khác của con người. Hậu quả Tội Nguyên Tổ tiếp tục lan rộng nơi dòng dõi A-đam, chẳng hạn như việc Ca-in giết A-ben. Tình trạng ấy ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Ông La-méc nói với các bà vợ: “Vì một vết thương, ta đã giết một người, vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy!” (St 4,23-24). Như vậy, con người ngày càng hung bạo hơn, sự báo thù càng khủng khiếp hơn và họ còn coi đó là niềm kiêu hãnh. Báo thù (thậm chí báo thù ‘gấp bảy mươi lần bảy’, nghĩa là báo thù không ngừng và không có giới hạn) dần trở thành một thứ văn hóa, một lối sống của con người sau Tội Nguyên Tổ. Từ sự đổ vỡ hiệp thông với Thiên Chúa, sự đổ vỡ hiệp thông giữa con người với nhau và với toàn thể thụ tạo ngày càng lan rộng trong lịch sử nhân loại.
Theo tác giả sách Sáng thế: “Đức Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày” (St 6,5). Hậu quả là con người phải đối diện với hồng thủy. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, không phải mọi người đều phải chết bởi vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Nô-ê và qua ông, Người thiết lập giao ước với con người cùng muôn vật muôn loài. Dấu chỉ giao ước này được diễn tả qua hình ảnh cây cung: “Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa” (St 9,13-15). Điều này cho thấy rằng mặc dù tội lỗi làm tổn thương sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người, Thiên Chúa vẫn luôn trung tín với công trình sáng tạo của Người.
Thiên Chúa trung tín với giao ước Người đã thiết lập với Nô-ê nhưng con người vẫn tiếp tục phạm tội. Quả thật, nước lũ không triệt tiêu nguồn gốc sự dữ trong lòng con người. Đỉnh điểm sự đổ vỡ sau thời Nô-ê là việc con người đồng tâm nhất trí trong việc xây tháp Ba-ben (בָּבֶל/ Babel). Sự kiêu ngạo của con người cao vút trời xanh được thể hiện qua việc họ tự nâng mình lên với xác tín rằng họ có thể làm mọi sự mà không cần quy chiếu về thánh ý Thiên Chúa: “Họ nói: Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất” (St 11,4). Đây được xem là biểu hiện sự tự cao tự đại, của việc tìm kiếm vinh quang cho bản thân và xây dựng sự hiệp thông mà không quan tâm đến sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Nói cách khác, con người muốn thiết lập sự hiệp thông theo ý riêng mình thay vì đón nhận sự hiệp thông như là hồng ân đến từ Thiên Chúa. Hậu quả là: “Đức Chúa phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa. Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Ba-ben, vì tại đó, Đức Chúa đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó, Đức Chúa đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất” (St 11,8-9). Con người phản loạn, bất tuân, gây tổn thương cho giao ước hiệp thông nhưng Thiên Chúa vẫn trung thành với giao ước và từng bước thực hiện kế hoạch cứu độ nhằm phục hồi sự hiệp thông giữa Người với con người.
Ba chủ đề căn bản của Cựu Ước là: (1) Thiên Chúa thiết lập giao ước hiệp thông với con người; (2) con người phá vỡ giao ước và (3) Thiên Chúa khôi phục sự hiệp thông qua giao ước mới. Ba chủ đề này đan xen với nhau và tạo thành trục chính của lịch sử cứu độ trong Cựu Ước. Khi sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa bị đổ vỡ, các tương quan khác của con người cũng bị xáo trộn: Tương quan với chính mình, tương quan với anh chị em đồng loại, tương quan với muôn vật muôn loài và với Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự bất trung của con người không thể làm suy giảm sự trung tín của Thiên Chúa. Xuyên suốt lịch sử dân Ít-ra-en, Người luôn chủ động tìm kiếm, quy tụ và dẫn đưa dân Người trở về trong tương quan giao ước.
Quả thật, dưới nhãn quan Cựu Ước, tội lỗi con người là sự xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng luôn hiệp thông và yêu thương mình. Đồng thời, tội lỗi cũng làm cho sự hiệp thông trong cộng đoàn dân Chúa bị tổn thương. Hậu quả là, trên bình diện cá nhân cũng như tập thể, con người ngày càng sống xa đường lối Thiên Chúa, trong khi tình yêu của Người đối với con người luôn là tình yêu vô điều kiện. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa không ngừng mời gọi dân Ít-ra-en hoán cải, trở về, thay đổi đời sống dựa trên giáo huấn của Người. Lời kêu gọi hoán cải của các ngôn sứ thực chất là lời mời gọi dân Chúa tái lập tương quan giao ước và trở về sống trong sự hiệp thông với Người. Việc củng cố và thăng tiến sự hiệp thông với Thiên Chúa chỉ có thể được thực hiện khi con người thành tâm cộng tác với ân sủng của Người.
Đức Chúa truyền cho Mô-sê nói với dân Ít-ra-en như sau: “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en” (Xh 19,5-6). Người cũng phán với Mô-sê: “Chúng sẽ dựng cho Ta một nơi thánh để Ta ngự ở giữa chúng. Theo như các mẫu chính Ta sẽ chỉ cho ngươi: Nhà Tạm và mọi đồ dùng, các ngươi sẽ làm như vậy” (Xh 25,8-9). Con người thường chủ quan và đề cao khả năng bản thân, muốn ý mình được thể hiện hơn là ý Thiên Chúa được tỏ bày. Để có thể hiệp thông với Thiên Chúa, con người được mời gọi làm theo ‘mẫu’ Thiên Chúa chỉ định, chứ không phải ‘mẫu’ do mình nghĩ ra. Nguyên tắc này không chỉ đúng trong việc xây dựng Nhà Tạm hay cử hành phụng tự nhưng còn đúng cho toàn bộ đời sống giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người. Quả thật, Thiên Chúa đã truyền cho Mô-sê thiết kế Nhà Tạm, Hòm Bia Giao Ước, bàn thờ, chân đèn, phẩm phục tư tế, các nghi thức phụng tự cũng như nhiều chi tiết khác theo sự chỉ dạy của Người (Xh 25-40). Khi tư tưởng, lời nói và việc làm con người quy hướng về Thiên Chúa, mọi điều họ thực hiện đều sinh nhiều hoa trái tốt đẹp. Trái lại, khi con người quy hướng về chính mình, những dự tính và công trình do họ thực hiện dễ rơi vào đổ vỡ và thất bại. Bởi lẽ, hiệp thông đích thực không hệ tại ở việc con người áp đặt ý riêng của mình lên Thiên Chúa nhưng ở việc đón nhận và thực thi thánh ý Người trong đức tin, đức cậy và đức mến.
Dân Ít-ra-en luôn đối diện với nhiều thử thách trong tương quan hiệp thông với Thiên Chúa. Điều này được thể hiện qua thực tế rằng: Thiên Chúa luôn hiện diện với họ nhưng họ lại không hiện diện với Thiên Chúa; Thiên Chúa luôn yêu thương họ nhưng họ không đáp lại tình yêu của Người; Thiên Chúa luôn dẫn dắt họ nhưng họ không quan tâm đến thánh ý của Người. Thiên Chúa dùng nhiều hình ảnh để giúp họ nhận ra sự lệch lạc của mình, chẳng hạn, Thiên Chúa như là người chồng trung tín, còn dân Ít-ra-en như là người vợ bất trung; Thiên Chúa như là người cha giàu lòng thương xót, còn dân Ít-ra-en như là những người con bất hiếu; Thiên Chúa như là mục tử tận tâm, còn dân Ít-ra-en như là đàn chiên tản mác. Mô-sê nói với họ: “Anh (em) phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành: Cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người” (Đnl 7,9). Quả thật, dân Ít-ra-en nhiều lần bất trung nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với giao ước của Người.
Nhiều trình thuật trong Cựu Ước cho chúng ta biết rằng khi Thiên Chúa thiết lập giao ước, Người cũng trao ban lề luật để dân Ít-ra-en sống trung tín với Người. Qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa phán: “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó – sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31,33). Nói cách khác, tương quan giao ước giữa Thiên Chúa với Ít-ra-en chỉ có thể duy trì và triển nở khi họ biết đón nhận và sống theo lề luật của Người. Trong nhãn quan Kinh Thánh, lề luật không phải là gánh nặng áp đặt từ bên ngoài nhưng là hồng ân giúp dân Chúa sống trong tự do và hiệp thông với Người. Lề luật Thiên Chúa không đơn thuần là những điều phải làm và việc phải tránh mà còn là nguyên lý định hướng toàn bộ cuộc sống con người. Tác giả Thánh Vịnh 18 viết: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn. Huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng, làm hoan hỷ cõi lòng. Mệnh lệnh Chúa xiết bao minh bạch, cho đôi mắt rạng ngời” (Tv 19,8-9).
Lịch sử dân Ít-ra-en cho thấy những tương phản rõ nét: Thiên Chúa luôn yêu thương và trung tín, còn dân Ít-ra-en thì bất trung, phản bội; Thiên Chúa bảo vệ giao ước, còn dân Ít-ra-en ngày càng xa rời giao ước ấy. Chẳng hạn, Đức Chúa phán với Mô-sê về dân Ít-ra-en: “Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập” (Xh 32,8). Biến cố con bê vàng diễn tả sự khủng hoảng hiệp thông nghiêm trọng. Thay vì phụng thờ Thiên Chúa duy nhất, chân thật, hằng sống, họ lại tôn thờ ngẫu tượng vô tri vô giác do chính tay mình làm ra. Đó là hình thức đổ vỡ giao ước tận căn vì con người đặt thụ tạo vào vị trí vốn chỉ thuộc về Đấng Tạo Hóa.
Sự ngoan cố của dân Ít-ra-en làm tổn thương mối hiệp thông với Thiên Chúa không chỉ xuất hiện trong những biến cố riêng lẻ mà còn mang tính hệ thống. Sau thời lưu đày Ba-by-lon, Nơ-khe-mi-a thẳng thắn nhìn nhận tình trạng này nơi tổ tiên mình: “Tổ tiên chúng con đã tỏ ra ngoan cố, đã cứng đầu cứng cổ không vâng lệnh Chúa truyền. Họ giả điếc làm ngơ, cũng chẳng thèm ghi nhớ những kỳ công Chúa làm. Họ cứng đầu cứng cổ muốn phản loạn cùng Ngài, nuôi trong lòng ý định trở lại kiếp làm tôi. Nhưng Chúa là Thiên Chúa luôn sẵn sàng thứ tha, Ngài từ bi nhân hậu, chậm giận, giàu tình thương, đã không bỏ rơi họ” (Nkm 9,16-17). Trong Cựu Ước, sự ngoan cố ấy được biểu hiện qua nhiều hình thức: Bất tuân phục, thờ ngẫu tượng, cứng lòng, bất công, cậy dựa vào sức riêng, giả hình, không tín thác vào Thiên Chúa và không thực thi thánh ý Thiên Chúa. Hậu quả là dân tộc lâm cảnh chia rẽ, rơi vào tay ngoại bang, bị lưu đày và chịu nhiều hình thức áp bức khác. Do đó, trở về với Thiên Chúa cũng có nghĩa là ‘tái lập sự hiệp thông’ với Người để được Người dạy dỗ, hướng dẫn trên đường ngay nẻo chính. Lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa giúp con người hoán cải, đồng thời được biến đổi nhờ lòng thương xót và ân sủng của Người.
2.3. Khát vọng hiệp thông trọn vẹn
Dù sống bất tín, bất tuân, bất tương hợp với lề luật Thiên Chúa và sa ngã trong muôn hình thức tội lỗi, niềm khát mong hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa luôn hiện diện trong tâm khảm dân Ít-ra-en. Đối với họ, chỉ trong Thiên Chúa, lòng họ mới tìm được bình an; chỉ nhờ Thiên Chúa, họ mới có thể vượt thắng được những gian lao và thử thách; chỉ với Thiên Chúa, dân tộc của họ mới được bảo tồn, phát triển và thịnh vượng. Khát vọng ấy không chỉ liên quan đến những nhu cầu trước mắt của cuộc sống nhưng còn hướng tới việc được sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa và hưởng nhờ các phúc lành của giao ước. Chính niềm mong mỏi đó đã giúp họ kiên vững trước những thử thách mà không nao núng, chịu đựng những đau khổ mà không tuyệt vọng, đối diện với những nghịch cảnh mà không đánh mất niềm tin, cậy, mến.
Như đã đề cập ở trên, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en bị tổn thương vì sự mỏng giòn và yếu đuối của dân Người. Tự sức mình, họ không thể đạt tới sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa như lòng hằng mong ước. Tuy nhiên, qua các giao ước, các ngôn sứ và lề luật, Thiên Chúa không ngừng mặc khải chương trình cứu độ và hứa ban sự hiệp thông trọn vẹn cho họ. Để đón nhận hồng ân này, họ được mời gọi hoán cải, từ bỏ tội lỗi và luôn hướng về Thiên Chúa bởi vì Người luôn gìn giữ giao ước và giàu lòng từ bi nhân hậu với dân được tuyển chọn. Đặc biệt, Người luôn đi bước trước trong việc tha thứ và mời gọi họ ở lại trong mối hiệp thông với Người. Niềm hy vọng ấy ngày càng trở nên rõ nét hơn nơi lời hứa về giao ước mới, trong đó Thiên Chúa sẽ đổi mới tâm hồn con người và thiết lập mối hiệp thông bền vững với dân Người (Gr 31,31-34; Ed 36,24-28).
Trong hành trình từ Ai-cập về Đất Hứa, dân Ít-ra-en đối diện với nhiều khó khăn, thử thách cũng như các thế lực hùng mạnh, chẳng hạn như người A-ma-lếch. Theo trình thuật sách Xuất Hành: “Khi nào ông Mô-sê giơ tay lên, thì dân Ít-ra-en thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì A-ma-lếch thắng thế. Nhưng ông Mô-sê mỏi tay, nên người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông A-ha-ron và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên” (Xh 17,11-12). Cử chỉ Mô-sê giơ tay lên là cử chỉ diễn tả sự hiệp thông, cầu nguyện, khẩn cầu và tín thác vào Thiên Chúa. Nhờ sự hiệp thông với Thiên Chúa của Mô-sê mà con cái Ít-ra-en chiến thắng. Nói cách khác, ai cậy trông và hướng lòng về Thiên Chúa thì sẽ tìm được sức mạnh nội tâm để vượt qua những gian nan, thử thách. Đồng thời, hình ảnh Mô-sê cầu nguyện cho dân cũng cho thấy rằng ngài được Thiên Chúa tuyển chọn không chỉ để sống hiệp thông với Thiên Chúa cho riêng mình nhưng còn để chuyển cầu và nâng đỡ toàn thể cộng đoàn con cái Ít-ra-en.
Việc dân Ít-ra-en bị lưu đày là một trong những khủng hoảng hiệp thông nghiêm trọng nhất trong lịch sử cứu độ bởi vì họ không chỉ mất quê hương mà còn bị tước đoạt những thực tại biểu thị và nuôi dưỡng sự hiệp thông với Thiên Chúa, chẳng hạn như đất đai, Đền Thờ, các nghi thức tế tự cũng như quyền tự do sống theo giao ước. Cảnh lưu đày luôn mang ý nghĩa đau thương và tiêu cực trong tâm thức của họ. Đây là kinh nghiệm mất mát toàn diện về tôn giáo, văn hóa và xã hội. Hơn nữa, nơi đất khách quê người, họ phải đối diện với áp lực đồng hóa và nguy cơ tham gia vào việc phụng thờ các thần minh dân ngoại, điều mà họ xem là sự xúc phạm nặng nề đối với căn tính giao ước của mình. Đó là lý do tại sao họ khát vọng được tái lập sự hiệp thông với Thiên Chúa, được sống trong tình yêu và sự dẫn dắt của Người. Hình ảnh Đất Hứa, Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ luôn hiện diện trong ký ức tập thể và thấm đượm tâm hồn mỗi người cho dù họ đang sống tha phương ở bất cứ nơi nào. Chính trong hoàn cảnh lưu đày, dân Ít-ra-en càng ý thức sâu xa hơn rằng nền tảng đích thực của đời sống họ không hệ tại ở quyền lực trần thế hay sự thịnh vượng vật chất nhưng ở mối hiệp thông giao ước với Thiên Chúa.
Khát vọng hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa là chủ đề xuyên suốt toàn bộ Cựu Ước. Chẳng hạn, tác giả Thánh Vịnh 27 viết: “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng” (Tv 27,4). Tác giả Thánh Vịnh 42 dùng hình ảnh nai rừng mong đến với suối nước để diễn tả lòng khao khát hiệp thông của con người với Thiên Chúa: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42,2-3). Tương tự như vậy, tác giả Thánh Vịnh 73 đặt câu hỏi rồi tự mình trả lời, qua đó bày tỏ niềm xác tín và khát vọng được ẩn náu trong Thiên Chúa; “Con còn ai chốn trời xanh? bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham. Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn” (Tv 73,25-26). Giữa cuộc đời đau khổ, bấp bênh, tạm bợ, con người không ngừng hướng lòng về Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Sống, Niềm Hy Vọng và Cùng Đích tối hậu của đời mình.
Triển vọng hiệp thông trọn vẹn không chỉ dành riêng cho dân Ít-ra-en được Thiên Chúa tuyển chọn mà còn cho mọi dân tộc. Quả thật, như đã đề cập ở trên, khi tuyển chọn và thử thách Áp-ra-ham, Thiên Chúa không chỉ hứa ban phúc lành cho con cháu ông mà còn cho mọi dân tộc trên hoàn cầu. Lời hứa đó tiếp tục được lặp lại dưới nhiều hình thức khác nhau không chỉ trong Ngũ Thư mà còn trong nhiều sách khác nữa của Cựu Ước, đặc biệt là các sách ngôn sứ. Chẳng hạn ngôn sứ I-sai-a loan báo: “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi” (Is 2,2-3). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en cũng công bố: “Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta. Bấy giờ, các dân tộc sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hóa Ít-ra-en, khi Ta đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời” (Ed 37,27-28). Tương tự như vậy, ngôn sứ Kha-ba-cúc khẳng định: “Sự hiểu biết Đức Chúa quang vinh sẽ tràn ngập cõi đất cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Kb 2,14). Những lời hứa này cho thấy rằng chương trình cứu độ của Thiên Chúa hướng đến mọi người trong gia đình nhân loại, nghĩa là Thiên Chúa muốn quy tụ muôn dân vào sự hiệp thông với Người.
Lịch sử Cựu Ước là lịch sử sự mặc khải tiệm tiến trong đó dân Ít-ra-en được Thiên Chúa yêu thương nâng đỡ qua các sứ giả của Người. Các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn để sống hiệp thông với Người. Nhờ đó, họ trở thành khí cụ chuyển đạt thánh ý Thiên Chúa, đồng thời kêu gọi dân Ít-ra-en hoán cải, trở về với Người. Qua ngôn sứ I-sai-a, Đức Chúa phán với vua A-khát và nhà Đa-vít: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14). Đối với dân Ít-ra-en, ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ (Em-ma-nu-en) chính là niềm khát vọng sâu xa. ‘Ở cùng’ bao gồm sự hiệp thông liên lỉ với Thiên Chúa, được Người chăm sóc, gìn giữ và bảo toàn trước mọi thế lực thù nghịch, đồng thời hướng tới sự hiệp thông viên mãn với Người trong sự sống vĩnh cửu. Lời hứa về Em-ma-nu-en cho thấy rằng sáng kiến hiệp thông luôn phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng muốn đến gần con người và ở cùng họ trong dòng lịch sử cứu độ.
Trong Cựu Ước, Thiên Chúa phán qua ngôn sứ Ê-dê-ki-en về tương lai của dân Ít-ra-en đang sống trong cảnh lưu đày tại Ba-by-lon: “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt” (Ed 11,19). Lời hứa này trước hết được dành cho dân Ít-ra-en, đồng thời cũng mở ra viễn tượng cứu độ cho toàn thể gia đình nhân loại. Dưới ánh sáng Tân Ước, hình ảnh ‘trái tim bằng thịt’ có thể được hiểu như dấu chỉ về trái tim con người được đổi mới theo khuôn mẫu Trái Tim Đức Giê-su, Đấng đã mang lấy bản tính nhân loại để hiệp thông trọn vẹn với con người. Cũng vậy, ‘thần khí mới’ báo trước hồng ân Chúa Thánh Thần, Đấng ban dồi dào ân sủng cho những ai đặt niềm tin, tình yêu và hy vọng vào Đức Giê-su. Nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, trái tim con người được đổi mới để có thể đón nhận, sống và triển nở trong sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nói cách khác, những lời hứa ấy chuẩn bị cho Biến Cố Đức Giê-su xuất hiện trong lịch sử như Đấng hoàn tất các giao ước, hiện thực hóa lời hứa Em-ma-nu-en và thiết lập sự hiệp thông mới giữa Thiên Chúa với gia đình nhân loại.
3. HIỆP THÔNG TRONG TÂN ƯỚC
3.1. Đức Giê-su nhập thể – Nền tảng hiệp thông
Sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người đạt đến đỉnh điểm trong mầu nhiệm nhập thể của Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại. Bởi vì nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa mang lấy những yếu tố của thế giới thụ tạo do chính Người tác tạo. Đặc biệt, Người mang lấy những hậu quả tội lỗi do con người gây nên và tiêu diệt mọi hình thức tội lỗi một lần thay cho tất cả hầu tẩy rửa con người khỏi những gì nhơ uế và xa lạ với bản tính nguyên tuyền của mình trước sa ngã. Qua đó, Người thiết lập sự hiệp thông bền vững, khôi phục phẩm giá và làm cho con người trở thành con cái Thiên Chúa. Nơi mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa không chỉ đến gần con người nhưng còn thực sự đi vào lịch sử nhân loại để con người được tham dự vào sự sống thần linh của Người.
Quả thật, chương trình Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện thật nhiệm mầu: Đấng tạo nên không gian và thời gian lại đặt mình trong giới hạn không gian và thời gian; Đấng tác tạo lịch sử lại trở thành thành phần trong lịch sử; Đấng dựng nên con người lại mang lấy những gì thuộc về con người, ngoại trừ tội lỗi; Con Thiên Chúa lại trở thành con của Đức Ma-ri-a, thôn nữ Na-da-rét thuộc miền Ga-li-lê; Đấng tác tạo vạn vật lại trở thành ‘con bác thợ mộc’, trực tiếp tham gia vào những công việc lao động hàng ngày để làm ra những gì cần thiết cho cuộc sống con người và góp phần thăng tiến phẩm giá con người. Như vậy, Người hiệp thông với con người trong mọi chiều kích và gắn bó với thế giới thụ tạo trong mọi hoàn cảnh. Biến Cố Đức Giê-su nhập thể và trở thành thành phần trong gia đình nhân loại quả là điều vượt quá sự hiểu biết và mong đợi của con người qua mọi thời đại.
Nơi Đức Giê-su, những gì mà con người cho là không thể liên kết, không thể tha thứ, không thể hòa giải lại được liên kết, tha thứ và hòa giải. Đối với con người, luôn tồn tại những vực thẳm không thể vượt qua, chẳng hạn: Vực thẳm giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, giữa Thiên Chúa thánh thiện và con người tội lỗi, giữa Thiên Chúa hằng sống và con người phải chết, giữa Thiên Chúa trung tín và con người bất trung, giữa Thiên Chúa chân thật và con người lầm lạc. Nhờ Đức Giê-su hiện diện và hoạt động giữa gia đình nhân loại, những vực thẳm ấy được nối kết và giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa. Đức Giê-su vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, vì thế, nơi Người, Thiên Chúa kết hợp với con người cách trọn vẹn và độc nhất vô nhị.
Nhờ Đức Giê-su hiệp thông với con người mà Thiên Chúa hòa giải thế gian với chính Người. Trong thư gửi tín hữu Cô-lô-xê, thánh Phao-lô viết: “Xưa kia anh em là những người xa lạ, là thù địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa của anh em. Nhưng nay nhờ Đức Giê-su là con người bằng xương bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hòa giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người” (Cl 1,21-22). Điều này cũng được thánh Phao-lô diễn tả trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải” (2 Cr 5,19). Đối với thánh Phao-lô, chương trình cứu độ nhân loại được Đức Giê-su thực hiện vừa cụ thể vừa kỳ diệu. Điều kỳ diệu được biểu lộ nơi điều cụ thể nhất, cụ thể đến mức con người có thể nghe, thấy và đụng chạm được (1 Ga 1,1). Như vậy, với Đức Giê-su, con người được gần gũi Thiên Chúa, cảm nhận sự hiện diện của Người và hiệp thông với Người theo cách thức chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhờ đó, con người có thể đón nhận Thiên Chúa, khám phá ý nghĩa đời mình và tìm thấy con đường chân thật để hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa.
Tiếp nối tư tưởng thánh Phao-lô, chủ đề nhập thể, hiệp thông, hòa giải tiếp tục được khai triển bởi các Giáo Phụ và các nhà thần học sau này. Chẳng hạn, thánh I-rê-nê viết: “Ngôi Lời đã cứu chính nhân tính thật sự đã được tạo thành và đã bị hư mất bằng cách thực hiện nơi chính mình sự hiệp thông với nhân tính ấy và mang lại cho nó ơn cứu độ. Điều đã bị hư mất ấy chính là thực tại mang xác thịt và máu huyết. Quả thật, Chúa đã lấy bụi đất mà nắn nên con người và toàn thể chương trình cứu độ trong cuộc quang lâm của Chúa đã được thực hiện vì con người ấy” (St. Irenaeus of Lyons, Adversus Haereses V,14.2). Theo thánh Tô-ma A-qui-nô: “Việc kết hợp con người với Thiên Chúa một cách hoàn hảo thuộc về Đức Ki-tô, qua Người, loài người được hòa giải với Thiên Chúa” (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae III, Q.26, A.1). Đối với thánh I-rê-nê và thánh Tô-ma A-qui-nô, Đức Giê-su mang lấy những gì thuộc về con người để hiệp thông và hòa giải hầu biến đổi con người từ tình trạng nô lệ tội lỗi và sự chết đến tình trạng được giải thoát và chia sẻ sự sống Thiên Chúa.
Là Thiên Chúa thật và là con người thật, Đức Giê-su trở thành khuôn mẫu hay mô thức cho sự hiệp thông giữa trời và đất, giữa vĩnh cửu và thời gian, giữa vô biên và hữu hạn, giữa thiên quốc và trần thế, giữa sự sống và sự chết, giữa tự do và nô lệ, giữa ân sủng và công trạng, giữa hiện tại và cánh chung. Sự hiệp thông theo khuôn mẫu của Đức Giê-su cho phép con người nhận diện những chiều kích khác nhau của sự hiệp thông nơi các yếu tố hữu hình, mang tính lịch sử, xã hội và văn hóa cũng như những thực tại vô hình thuộc lãnh vực thiêng liêng và siêu việt. Nhờ Đức Giê-su, Thiên Chúa vừa khôi phục, vừa kiện toàn sự hiệp thông giữa Người và con người. Nhờ đó, con người được Thiên Chúa đón nhận, được tham dự vào sự sống Người cũng như hạnh phúc vĩnh cửu. Nói cách khác, Đức Giê-su vừa là Đấng trung gian vừa là con đường hiệp thông hoàn hảo giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại.
Thánh Phê-rô viết: “Đức Ki-tô đã lấy thần lực của Người mà ban tặng chúng ta tất cả những gì giúp chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Người cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” (2 Pr 1,3-4). Con người ‘thông phần bản tính Thiên Chúa’ (θείας κοινωνοὶ φύσεως/ divinae consortes naturae). Thánh A-tha-na-xi-ô viết: “Đức Giê-su làm người để chúng ta được thần hóa” (St. Athanasius, On the Incarnation of the Word 54.3). Thánh Au-gút-ti-nô nhiều lần cũng khẳng định tương tự. Điều này có nghĩa là, nhờ Đức Giê-su, con người được biến đổi trong Chúa Thánh Thần, được tham dự vào sự sống Thiên Chúa. Quả thật, Đức Giê-su mang lấy bản tính con người và chính nhân tính ấy được đưa vào trong tương quan hiệp thông với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Như vậy, mục đích tối hậu của công trình cứu độ không chỉ là giải thoát con người khỏi tội lỗi mà còn là đưa con người vào sự hiệp thông với chính sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa.
Là Thiên Chúa nhưng Đức Giê-su hiệp thông với con người cách nhiệm mầu đến nỗi mang lấy thân phận con người, kể cả cái chết để tiêu diệt sự chết một lần là đủ (once and for all) hầu đem lại sự sống vĩnh cửu cho con người. Đặc biệt, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cho các môn đệ biết rằng Người là Bạn của họ và hy sinh tính mạng vì họ: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,12-13). Thánh Au-gút-ti-nô trình bày thật khúc chiết sự đối nghịch giữa hành động ma quỷ và sự hiệp thông cứu độ của Đức Giê-su đối với con người như sau: “Nơi nào ma quỷ đã xô đẩy tội nhân rơi xuống mà bản thân nó không phải đi theo thì tại chính nơi ấy, Đấng Cứu Chuộc đã hạ mình bước xuống. Bởi đó, Con Thiên Chúa đã đoái thương trở nên bạn hữu của chúng ta khi chia sẻ thân phận phải chết của con người. Chính vì không tham dự vào sự thông phần ấy mà ma quỷ tự cho mình cao trọng và quyền thế hơn loài người” (St. Augustine, On the Trinity IV,13.17). Tình bằng hữu mà Đức Giê-su dành cho các môn đệ không chỉ là một tương quan nhân loại nhưng còn là lời mời gọi họ bước vào sự hiệp thông với chính sự sống và tình yêu của Thiên Chúa.
Nhờ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa mang lấy bản tính nhân loại mà bản tính nhân loại (vốn bị tổn thương vì tội lỗi) được chữa lành, biến đổi và đi vào mối hiệp thông với Thiên Chúa; nhờ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa trở thành Con Người mà con cái loài người được trở nên con cái Thiên Chúa; nhờ Đức Giê-su, Đấng thánh của Thiên Chúa mang lấy tội lỗi con người mà con người được trở nên thánh thiện; nhờ Đức Giê-su mang lấy những yếu đuối của con người mà con người nhận được sức mạnh Thiên Chúa; nhờ Đức Giê-su mang lấy những thương tích của con người mà con người được phục hồi khỏi mọi vết thương do tội lỗi gây nên.
Biến Cố Nhập Thể (incarnation) của Đức Giê-su cũng là biến cố hiệp thông (communion) trọn vẹn nhất giữa Thiên Chúa và con người bởi vì nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa thật đã trở nên con người thật giữa gia đình nhân loại. Chính Người, Đấng hằng hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, lại đến để hiệp thông trọn vẹn với con người. Theo ngôn ngữ của tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Điều này có nghĩa là Người không chỉ ‘mang lấy bản tính con người’ mà còn thực sự hiệp thông với con người trong tất cả những gì thuộc về thân phận của họ, ngoại trừ tội lỗi, hầu đem lại cho con người ơn cứu độ vĩnh cửu.
3.2. Hiệp thông nơi sứ mệnh Đức Giê-su
Theo nội dung đức tin Ki-tô Giáo, sứ mệnh trần thế của Đức Giê-su là khôi phục sự hiệp thông đã bị tổn thương và đổ vỡ vì tội lỗi con người. Đồng thời, sứ mệnh Người cũng kiện toàn sự hiệp thông mà Thiên Chúa đã tiên báo trong dòng lịch sử cứu độ. Do đó, các hình thức hiệp thông trong thế giới thụ tạo, trong gia đình nhân loại, trong xã hội loài người, trong Giáo Hội hay trong bất cứ cộng đoàn nào đều sẽ thiếu nền tảng vững chắc nếu không quy chiếu về Biến Cố Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại bởi vì đây là biến cố trung tâm của lịch sử cứu độ và của tương quan giữa Thiên Chúa với con người. Nói cách khác, toàn bộ sứ vụ của Đức Giê-su đều quy hướng về việc quy tụ con người vào mối hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau trong Nước Thiên Chúa.
Đức Giê-su hiện diện giữa gia đình nhân loại để công bố Nước Thiên Chúa. Nói cách cụ thể hơn, với Biến Cố Nhập Thể, sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su chính là sự hiện diện và hoạt động của Nước Thiên Chúa. Bởi vì Đức Giê-su thể hiện quyền năng Thiên Chúa theo cách thức vượt quá tầm hiểu biết con người. Chẳng hạn, khi Gio-an Tẩy Giả đang ngồi tù và nghe biết về Đức Giê-su thì ông đã sai các môn đệ đến hỏi Đức Giê-su có phải là ‘Đấng phải đến?’. Người nói với họ: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,4-6). Quả thật, những phép lạ và dấu chỉ Đức Giê-su thực hiện minh chứng cho sự hiện diện và hoạt động của Nước Thiên Chúa. Sau này, trong hành trình loan báo Tin Mừng, thánh Phao-lô viết: “Thật vậy, Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói, nhưng ở quyền năng” (1 Cr 4,20). Quyền năng Đức Giê-su chính là quyền năng đưa con người trở về hiệp thông với Thiên Chúa. Những phép lạ hay dấu chỉ Đức Giê-su thực hiện đồng thời báo trước sự phục hồi toàn diện của con người và vũ trụ trong thời cánh chung. Vì thế, nơi nào con người được chữa lành, được giải thoát và được hòa giải với Thiên Chúa thì nơi đó Nước Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động.
Khi Đức Giê-su trừ quỷ chính là lúc Người phục hồi sự hiệp thông cho người bị quỷ ám. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng ma quỷ luôn tìm cách kéo con người xa rời Thiên Chúa. Khi Đức Giê-su trừ quỷ cũng là khi Người kéo con người khỏi sự thống trị của ma quỷ và đưa họ về hiệp thông với Thiên Chúa. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mác-cô cho chúng ta biết Đức Giê-su trừ quỷ cho một người ở Ghê-ra-sa: “Khi Người xuống thuyền, thì kẻ trước kia đã bị quỷ ám nài xin cho được ở với Người. Nhưng Người không cho phép, Người bảo: Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào” (Mc 5,18-19). Khi Đức Giê-su trừ quỷ cũng là khi Người giải thoát người bị quỷ ám khỏi quyền lực sự dữ và đưa họ vào tương quan hiệp thông với Thiên Chúa như chính Người khẳng định: “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11,20). Triều Đại Thiên Chúa hay Nước Thiên Chúa là thực tại của sự hiệp thông bởi vì thực tại này cho phép con người sống trong niềm vui và bình an của Thiên Chúa ngay giữa dòng đời đầy bất trắc này.
Hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng là hành trình tha thứ tội lỗi và giao hòa thế gian với Thiên Chúa. Quả thật, tội lỗi làm tổn thương và phá vỡ mối hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa. Chẳng hạn, dụ ngôn ‘Người Cha Nhân Hậu’ giúp chúng ta hiểu rõ thực tại này. Người con thứ tưởng rằng khi rời xa cha mình thì được tự do, tự lực, tự cường và mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, hậu quả là rơi vào cảnh khốn cùng vì đói khát: “Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng nhưng chẳng ai cho” (Lc 15,16). Phẩm giá người con bị tổn thương nghiêm trọng khi không hiệp thông với cha mình, không ở lại với cha mình, không cùng cha chia sẻ cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, người cha luôn hiệp thông và không ngừng mong đợi người con trở về. Niềm vui của ông được diễn tả qua lời tuyên bố: “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,24). Dụ ngôn này cho thấy tội lỗi trước hết là sự đổ vỡ hiệp thông, còn ơn tha thứ là sự phục hồi hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và với cộng đoàn.
Trong sứ mệnh hiệp thông của Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại, Người không chỉ quan tâm đến ‘sự hiệp thông thiêng liêng’ mà còn quan tâm đến sự hiệp thông toàn diện của con người, nghĩa là quan tâm đến mọi chiều kích trong cuộc sống con người. Đặc biệt, dưới nhãn quan dân Do-thái thời Đức Giê-su, bệnh tật thường được liên kết với tội lỗi hoặc được xem là dấu chỉ sự trừng phạt từ Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao nhiều bệnh nhân bị loại trừ, bị cô lập khỏi xã hội và không được tham dự đầy đủ vào các sinh hoạt phụng tự. Chính Đức Giê-su chữa lành họ và giúp họ khôi phục sự hiệp thông với cộng đoàn. Chẳng hạn, sau khi chữa người bị phong hủi, Đức Giê-su bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết” (Mc 1,44). Như vậy, nhờ Đức Giê-su, người phong hủi được cứu chữa, được khôi phục sự hiệp thông với anh chị em đồng bào mình. Việc chữa lành của Đức Giê-su không chỉ phục hồi sức khỏe thể lý mà còn phục hồi phẩm giá, các tương quan xã hội và đời sống phụng tự của con người.
Để mọi người trong gia đình nhân loại trở về hiệp thông với Thiên Chúa, Đức Giê-su đã phải đối diện với muôn vàn nghịch lý bởi vì: Người là Đấng thánh thiện nhưng lại sống trong môi trường tội lỗi; Đấng toàn năng nhưng lại sống trong cảnh yếu hèn; Đấng là tình yêu nhưng lại đối diện với sự thù ghét; Đấng hằng sống nhưng lại đối diện với cái chết; Đấng là bình an nhưng lại sống trong môi trường bạo lực; Đấng là sự thật nhưng lại bị vu khống; Đấng là ánh sáng nhưng lại bước vào bóng tối của nhân loại; Đấng giải thoát con người nhưng lại chịu đóng đinh thập giá; Đấng là hy vọng nhưng lại phải đối diện cảnh cô đơn; Đấng tha thứ nhưng lại bị kết án. Những nghịch lý trong cuộc đời trần thế của Đức Giê-su giúp con người nhận thức rằng Thiên Chúa vừa là Đấng siêu việt, vừa là Đấng gần gũi. Người hiện diện với con người ở mọi nơi, mọi lúc, nhất là trong những hoàn cảnh đau khổ, tức là những hoàn cảnh mà con người cho rằng ‘vắng bóng Thiên Chúa’. Chính bằng việc đi vào những nghịch lý hay nghịch cảnh ấy mà Đức Giê-su mặc khải tình yêu hiệp thông của Thiên Chúa, Đấng không cứu độ con người từ bên ngoài nhưng từ bên trong chính thân phận con người.
Như đã đề cập ở trên, trong Cựu Ước, máu là biểu tượng giao ước, sự sống và hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người. Trong Tân Ước, Máu Đức Giê-su đổ ra để khôi phục và kiện toàn sự hiệp thông đã được tiên báo trong Cựu Ước. Một trong những hình ảnh in dấu sâu đậm trong tâm hồn các Ki-tô hữu là hình ảnh khi Đức Giê-su chịu chết trên thập giá thì một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người: “Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Giê-su là dấu chỉ khơi nguồn các bí tích của Giáo Hội, đặc biệt là Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta biết rằng Bí Tích Thánh Thể duy trì và nuôi dưỡng sự hiệp thông Giáo Hội, sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa, với nhau và với toàn thể thụ tạo. Bởi vì Mình và Máu Đức Giê-su hiện diện dưới hình bánh và rượu là sự kết tinh hoa màu ruộng đất, công lao con người, quyền năng Chúa Thánh Thần và nhất là lời Đức Giê-su. Nhờ đó, bánh không còn là bánh bình thường nữa mà là Mình Thánh Đức Giê-su; rượu không còn là rượu thường nữa mà là Máu Thánh Người. Các tín hữu đón nhận Đức Giê-su trong Bí Tích Thánh Thể để hiệp thông với Người, để ở lại với Người (Ga 6,54-56). Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Bí tích Thánh Thể còn được gọi là bí tích Hiệp Thông, vì kết hợp chúng ta với Chúa Ki-tô, Đấng ban Mình và Máu Người để tất cả trở nên một thân thể” (GLGHCG 1331).
Cạnh sườn Đức Giê-su bị đâm thâu và Trái Tim Người mở rộng tượng trưng cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu được biểu lộ trong hoàn cảnh bi thương nhất trên thập giá. Tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giê-su là tình yêu tự hiến, tình yêu tự hủy và mở ra cho tất cả. Trái Tim Đức Giê-su là Trái Tim nhân loại của Con Thiên Chúa nhập thể. Xét về phương diện hữu hình, Trái Tim Đức Giê-su có giới hạn; xét về phương diện vô hình, Trái Tim của Đức Giê-su mở ra với mọi người trong mọi thời và khắp mọi nơi. Như vậy, sự hiệp thông của Đức Giê-su là sự hiệp thông vượt qua mọi biên giới của không gian, thời gian cũng như mọi hình thức ngăn cách mà con người có thể đặt tên hay phân loại. Từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giê-su, tình yêu cứu độ của Thiên Chúa tuôn trào để quy tụ nhân loại trong mối hiệp thông mới.
Đức Giê-su không để con người đơn độc một mình. Trước khi về trời, Người cho các môn đệ biết rằng Người ở lại với họ mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Người ở lại theo nhiều cách thức khác nhau nhưng cách đặc biệt nhất là Bí Tích Thánh Thể. Người không chỉ ở lại mà còn trở nên của ăn của uống để con người ngày càng được biến đổi theo thánh ý Thiên Chúa. Trong Diễn Từ Bánh Hằng Sống, Đức Giê-su nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,54-56). Khi lãnh nhận Mình và Máu Đức Giê-su, con người đang sống trong thời gian được đón nhận lương thực đem lại sự sống vĩnh cửu như lời Người: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,58). Trong Cựu Ước, Mô-sê nói với dân Ít-ra-en: “Người đã bắt anh (em) phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh (em) ăn man-na là của ăn anh (em) chưa từng biết và cha ông anh (em) cũng chưa từng biết” (Đnl 8,3). Man-na mà Thiên Chúa ban cho dân Ít-ra-en ăn trong sa mạc hoang vu trên hành trình về với Đất Hứa thật kỳ diệu nhưng Mình và Máu Đức Giê-su trở thành của ăn của uống cho các Ki-tô hữu trong sa mạc tâm hồn trên hành trình về với Quê Hương Vĩnh Cửu còn kỳ diệu hơn. Vì thế, Bí Tích Thánh Thể vừa là bí tích của sự hiệp thông hiện tại vừa là bảo chứng cho sự hiệp thông viên mãn trong Nước Thiên Chúa mai ngày.
Các Ki-tô hữu được mời gọi đặt trọn niềm tin vào quyền năng biến đổi và hiệu lực thiêng liêng của Bí Tích Thánh Thể. Thánh Lê-ô Cả khẳng định: “Khi thông phần Mình và Máu Đức Ki-tô, không có điều gì khác được thực hiện ngoài việc chúng ta được biến đổi nên chính Đấng mà chúng ta lãnh nhận; và cả trong tinh thần lẫn thân xác, chúng ta mang Người đi khắp nơi, Đấng mà trong Người và với Người, chúng ta đã chết, đã được mai táng và đã sống lại” (St. Leo the Great, Sermon 63.7). Khi trình bày Bí Tích Thánh Thể, thánh Tô-ma A-qui-nô trích dẫn lời thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô (676-749) rằng: “Bí tích này được gọi là Hiệp Thông vì nhờ đó chúng ta được thông phần vào Đức Ki-tô, vừa bởi chúng ta dự phần vào thịt và thần tính của Người, vừa bởi nhờ đó chúng ta hiệp thông và kết hợp với nhau” (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae III, q.73, a.4). Đức Giê-su hoàn tất sứ mệnh trần thế nhưng tính lịch sử của Biến Cố Đức Giê-su vẫn tiếp tục hiện diện giữa gia đình nhân loại nơi Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Đức Giê-su trong việc loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể, nguồn mạch và chóp đỉnh đời sống Ki-tô hữu (LG 11). Nhờ đó, trong Chúa Thánh Thần, sự hiệp thông mà Đức Giê-su thiết lập trong dòng lịch sử cứu độ tiếp tục được hiện tại hóa và triển nở trong đời sống Giáo Hội.
3.3. Hiệp thông trong Chúa Thánh Thần
Trong Cựu Ước, công trình sáng tạo được quy về Thiên Chúa duy nhất, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của ‘Lời’ và ‘Thần Khí’. Tác giả Thánh Vịnh 33 diễn tả: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6). Chương trình cứu độ của Thiên Chúa cũng bởi hành trình trần thế của Đức Giê-su gắn liền với sự đồng hành của Chúa Thánh Thần như đã được tiên báo trong Cựu Ước (Is 61,1-3; Is 48,16). Quả thật, Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với Đức Giê-su trong sứ mệnh trần thế của Người, chẳng hạn như trong Biến Cố Nhập Thể của Người (Lc 1,35); khi Người chịu phép rửa tại sông Gio-đan (Mt 3,13-17); khi Người chịu cám dỗ trong hoang địa (Lc 4,1-2); đặc biệt, khi Người khởi đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng cách công khai (Lc 4,16-19).
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su mặc khải Chúa Thánh Thần cách rõ ràng và cụ thể nhất: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” (Ga 14,16-17). Hơn nữa, chính Đức Giê-su cũng cho các môn đệ biết về vai trò của Chúa Thánh Thần, chẳng hạn: Người dạy các môn đệ và làm cho các môn đệ nhớ lại những lời Đức Giê-su (Ga 14,26); làm chứng về Đức Giê-su (Ga 15,26); cho thế gian thấy họ sai lầm về tội lỗi, sự công chính và việc xét xử (Ga 16,8); dẫn các môn đệ tới sự thật vẹn toàn (Ga 16,13). Sau khi phục sinh, Đức Giê-su đã trao ban Chúa Thánh Thần để họ tiếp tục sứ mệnh Người giữa gia đình nhân loại (Ga 20,19-22). Như vậy, Chúa Thánh Thần vừa là Đấng duy trì sự hiệp thông của các môn đệ với Đức Giê-su vừa là Đấng hướng dẫn họ trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng.
Trong biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống, những người Do-thái và những người theo đạo Do-thái từ Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, và A-xi-a, Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, Li-by-a, Rô-ma và nhiều vùng khác đang hiện diện tại Giê-ru-sa-lem đều nghe các kỳ công của Thiên Chúa bằng tiếng bản xứ của mình (Cv 2,5-11). Đây thật là hình ảnh cả gia đình nhân loại đang quy tụ trong biến cố cứu độ dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tại sao các môn đệ Đức Giê-su nói ngôn ngữ Do-thái mà những người thuộc nhiều dân tộc khác nhau hiểu được? Chúng ta có thể lý giải rằng chính Chúa Thánh Thần tác động để những ai chăm chú lắng nghe lời các môn đệ Đức Giê-su đều có thể hiểu được sứ điệp các ngài loan báo. Khi con người hiệp thông với nhau trong Chúa Thánh Thần thì những khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa hay nguồn gốc chủng tộc không còn là rào cản ngăn họ tin tưởng, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Biến cố này thường được xem là sự đảo ngược biến cố xây tháp Ba-ben (St 11,1-9). Tại Ba-ben, con người cùng chung ngôn ngữ tự mãn muốn xây tháp chọc trời nhưng đã không thành công và hậu quả là ngôn ngữ phân tán, muôn người chia rẽ. Trong biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống, sự khác biệt ngôn ngữ không gây chia rẽ nhưng hiệp thông, hòa hợp bởi vì mọi người đều hiểu ‘ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần’, ‘ngôn ngữ tình yêu’ và ‘ngôn ngữ hiệp thông’ mà các môn đệ học được từ Đức Giê-su. Quả thật, xây dựng sự hiệp thông mà không quy chiếu về Thiên Chúa hoặc không ý thức sự hiện diện và hoạt động của Người thì con người phải chuốc lấy thất bại, đổ vỡ. Do đó, con người cần hiệp thông với Thiên Chúa để có thể hiệp thông và cộng tác với nhau trong công việc vì mục đích tốt và lợi ích chung cho mọi người. Biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống cũng đánh dấu sự khai sinh công khai của Giáo Hội, cộng đoàn được quy tụ và hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần (Cv 2,1-12).
Sau khi hoán cải và trở thành môn đệ cũng như tông đồ của Đức Giê-su, thánh Phao-lô mời gọi mọi người sống theo Thần Khí và bước theo Thần Khí, chẳng hạn, ngài viết: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí” (Gl 5,16). Đồng thời thánh nhân cũng viết: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25). Ngài quả quyết: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an” (Rm 8,5-6). Như vậy, sống theo Thần Khí và bước theo Thần Khí giúp các Ki-tô hữu ngày càng trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, nhờ đó, họ có thể vượt qua những thử thách, gian truân trong cuộc sống hằng ngày. Ai hiệp thông với Đức Giê-su thì cũng hiệp thông với Chúa Thánh Thần. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô” (Rm 8,9). Đối với thánh nhân, chỉ trong Chúa Thánh Thần, con người mới có thể đặt niềm tin vào Đức Giê-su và trở thành môn đệ của Người, bởi vì: “Không ai có thể nói rằng ‘Đức Giê-su là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Như vậy, trong Chúa Thánh Thần, con người được kết hợp với Đức Giê-su cũng như với Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội không ngừng được canh tân, tăng trưởng và triển nở trong sự hiệp thông với Thiên Chúa và với toàn thể gia đình nhân loại.
Thánh I-rê-nê trình bày tương quan giữa Giáo Hội và Chúa Thánh Thần như sau: “Nơi nào có Giáo Hội, nơi đó có Thần Khí Thiên Chúa và nơi nào có Thần Khí Thiên Chúa, nơi đó có Giáo Hội và mọi ân sủng; mà Thần Khí là chân lý. Do đó, những ai không thông phần vào Thần Khí thì không được nuôi dưỡng để đạt tới sự sống từ dòng sữa của người Mẹ, cũng không được hưởng nguồn suối tinh tuyền phát xuất từ Thân Mình Đức Ki-tô” (St. Irenaeus of Lyons, Adversus Haereses III, 24.1). Theo thánh Au-gút-ti-nô: “Linh hồn đối với thân xác con người thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng là như thế đối với Thân Thể Đức Ki-tô là Giáo Hội. Chúa Thánh Thần thực hiện trong toàn thể Giáo Hội điều mà linh hồn thực hiện trong mọi chi thể của một thân xác duy nhất” (St. Augustine, Sermons 267.4). Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần là ‘linh hồn’ Giáo Hội. Chính Chúa Thánh Thần giúp duy trì sự hiệp thông các thành phần, các tương quan trong đời sống nội tại cũng như trong sứ mệnh Giáo Hội đến với muôn dân. Chính sự hiệp thông trong Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội phân biệt với các thực thể khác trong xã hội loài người. Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Chúa Thánh Thần là Đấng ban ơn thông hiệp, luôn ở trong Hội Thánh; nhờ đó, Hội Thánh là bí tích cao cả hiệp thông con người với Thiên Chúa và tập họp con cái Thiên Chúa tản mát khắp nơi về một mối” (GLGHCG 1108).
Trong Chúa Thánh Thần, các Ki-tô hữu được đi vào mối hiệp thông với Đức Giê-su và với Chúa Cha như lời thánh Phao-lô: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4,6). Điều này có nghĩa là các Ki-tô hữu được phép gọi Thiên Chúa là ‘Áp-ba, Cha ơi!’ như Đức Giê-su đã thưa với Chúa Cha (Mc 14,36). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết rõ hơn: “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: Áp-ba! Cha ơi! Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,15-16). Hai trích đoạn này giúp chúng ta nhận thức rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn các Ki-tô hữu cầu nguyện hầu được liên kết với Chúa Cha nhờ Đức Giê-su, Con Yêu Dấu của Người.
Như đã đề cập ở trên, ai hiệp thông với Chúa Thánh Thần thì cũng hiệp thông với Đức Giê-su và với Chúa Cha bởi vì Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hiệp thông trọn vẹn với nhau trong đời sống nội tại cũng như trong chương trình cứu độ nhân loại. Chính Chúa Thánh Thần liên kết, đồng hành và hướng dẫn các Ki-tô hữu để mọi người biết hiệp thông với nhau và cùng nhau hướng về Thiên Chúa. Theo Công Đồng Vatican II: “Mọi tín hữu rải rác trên khắp hoàn cầu đều hiệp thông trong Thánh Thần với tất cả các tín hữu khác, và vì thế ‘kẻ ở Rôma biết rằng người Ấn Ðộ là chi thể mình'” (LG 13). Cũng theo Công Đồng Vatican II: “Chúa Thánh Thần ngự trong lòng các tín hữu, đổ đầy ơn và cai trị Giáo Hội, Ngài thực hiện sự hiệp thông kỳ diệu ấy nơi các tín hữu, và liên kết tất cả trong Chúa Ki-tô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là Nguyên Lý Hiệp Nhất Giáo Hội” (UR 2). Nói cách khác, Chúa Thánh Thần dẫn đưa các tín hữu vào mối hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau, mối hiệp thông vượt trên mọi biên giới, nghịch cảnh cũng như những giới hạn của thân phận con người.
Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: “Chính ơn hiệp thông của Thánh Thần trong Hội Thánh, làm cho những người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy lại được nên ‘giống Thiên Chúa’, điều họ đã mất vì tội” (GLGHCG 734). Như vậy, cộng đoàn Ki-tô hữu hay toàn thể Giáo Hội được hiệp thông với nhau trong Chúa Thánh Thần. Thực tại hiệp thông này được thánh Phao-lô diễn tả trong lời chúc cuối cùng của thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13). Đây không chỉ là lời chúc thông thường mà còn là lời khẳng định rằng ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần là nguyên lý sống động và hữu hiệu của Giáo Hội như là hiệp thông (communion), đồng thời nuôi dưỡng căn tính, đời sống và sứ mệnh Giáo Hội cũng như các Ki-tô hữu.
4. ĐỨC GIÊ-SU – ĐƯỜNG HIỆP THÔNG
4.1. Đường hiệp thông giữa gia đình nhân loại
Trong Bữa Ăn Cuối Cùng, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, ông Tô-ma hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14,5). Đức Giê-su trả lời rằng Người là Đường (Ga 14,6). Những trình bày trên đây cho phép chúng ta hiểu rằng Đường của Người là Đường Hiệp Thông. Bởi vì Người hằng hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong đời sống nội tại cũng như hành trình trần thế. Đặc biệt, nhờ Đức Giê-su, con người được tái lập hiệp thông với Thiên Chúa, với anh chị em đồng loại và với muôn vật muôn loài. Nói cách khác, Đức Giê-su không chỉ hướng dẫn con người tới con đường hiệp thông mà chính Người là Đường Hiệp Thông giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại.
Công Đồng Vatican II khẳng định rằng con người là “tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ” (GS 24). Điều này có nghĩa là con người được Thiên Chúa sáng tạo với phẩm giá nội tại cao quý; con người là ‘ai đó’ chứ không phải ‘cái gì đó’. Con người không phải là phương tiện, công cụ hay đồ vật để phục vụ cho bất cứ mục đích nào đi ngược lại hoặc làm tổn hại đến phẩm giá bất khả nhượng, phẩm giá vô biên (dignitas infinita) của mình. Điều này có nghĩa là con người có giá trị tự thân và không ai có thể lượng định hay đánh giá giá trị con người bởi công dụng, năng suất, quyền lực, hiệu quả kinh tế hay bất cứ tiêu chí nào khác chỉ mang tính văn hóa, xã hội hay bất cứ hình thức phân loại nào trong xã hội loài người. Quả thật, vì tình yêu, Thiên Chúa sáng tạo con người và cho phép con người được tham dự vào sự hiệp thông tình yêu của Người.
Tình yêu Thiên Chúa không chỉ thể hiện qua việc trao ban ân huệ mà còn đưa con người vào mối tương quan hiệp thông năng động và bền vững. Thiên Chúa là Đấng khởi xướng, Đấng không ngừng biến đổi và dẫn đưa con người tới sự hiệp thông trọn vẹn với Người. Thánh Gio-an viết: “Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). Tương tự như vậy, thánh Phao-lô viết: “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8). Tình yêu của Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại là tình yêu tự hiến. Điều này có nghĩa là Người đã trút bỏ chính mình, vâng phục thánh ý Chúa Cha và hiến dâng chính mình để phục hồi sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với nhân loại. Tình yêu tự hiến của Đức Giê-su chính là tình yêu agape (ἀγάπη/ agápē), tình yêu vô điều kiện, tình yêu trao ban đến giọt máu cuối cùng trên thập giá. Chính tình yêu ấy là nền tảng, là động lực và là khuôn mẫu cho mọi hình thức hiệp thông đích thực trong gia đình nhân loại.
Con người được hiệp thông với Đức Giê-su, Thiên Chúa trong thân phận con người, là Tin Mừng lớn lao cho mọi người trong gia đình nhân loại. Điều này có nghĩa là nhờ Đức Giê-su, với Đức Giê-su và trong Đức Giê-su, con người được tha thứ tội lỗi, được giao hòa với Thiên Chúa và được nhận làm nghĩa tử của Người. Hiệp thông với Đức Giê-su giúp con người không còn phải sống trong đơn độc hay bị đe dọa bởi muôn hình thức sự dữ đang hoành hành trong thế giới thụ tạo. Hiệp thông với Đức Giê-su cũng có nghĩa là được sống trong bình an của Người, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng như lời Người nói với các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).
Hiệp thông với Đức Giê-su giúp con người vượt thắng ‘cơn cám dỗ’ của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa pháp lý, chủ nghĩa duy linh, chủ nghĩa chủ quan cũng như các khuynh hướng loại trừ, khép kín và độc tôn. Hiệp thông với Đức Giê-su đòi hỏi sự tôn trọng tính hiệp nhất trong đa dạng, sự hòa hợp giữa hữu hình và vô hình, sự liên kết giữa thực tại linh thiêng và trần thế, sự quân bình giữa chiều kích cá nhân và cộng đoàn. Nhờ hiệp thông với Đức Giê-su, kẻ yếu đuối được Người nâng đỡ, kẻ bất toàn được Người dẫn dắt và kẻ tội lỗi được Người hoán cải. Đồng thời, hiệp thông với Đức Giê-su cũng giúp con người vượt thắng mọi hình thức chia rẽ, thù nghịch và khép kín để ngày càng mở ra với Thiên Chúa, với tha nhân và với toàn thể thụ tạo.
Ai hiệp thông với Đức Giê-su thì cũng hiệp thông trong sự thật bởi vì chính Người mặc khải rằng Người là Sự Thật (Ga 14,6). Hiệp thông trong sự thật cũng đồng nghĩa với việc luôn bước theo ánh sáng của Đức Giê-su giữa những bóng tối của ma quỷ, thế gian, xác thịt cũng như nhiều hình thức đêm tối khác giữa thế gian này. Thánh Gio-an Tông Đồ nhắc nhở các môn đệ của Đức Giê-su: “Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối và không hành động theo sự thật” (1 Ga 1,6). Là con người, ai cũng khao khát sống theo sự thật và bước đi trong ánh sáng. Tuy nhiên, do hậu quả tội lỗi cùng muôn hình thức cám dỗ, con người bị giằng co giữa những điều tốt đẹp mà mình khát vọng và những điều xấu xa mà mình muốn xa lánh. Vì thế, cuộc chiến nội tâm của con người vẫn luôn tiếp diễn cho đến khi đạt tới sự hiệp thông viên mãn nhờ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa (Rm 7,15-25).
Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, mọi người trong gia đình nhân loại đều phát xuất từ cùng một Nguồn Gốc và hướng về cùng một Cứu Cánh. Trong diễn từ tại Hội đồng A-rê-ô-pa-gô, thánh Phao-lô nói về Thiên Chúa rằng: “Chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu” (Cv 17,28). Vì cùng phát xuất từ Thiên Chúa và cùng hiện hữu trong Người, mọi người có chung nền tảng nhân bản và tự nhiên cho sự hiệp thông với nhau. Từ nền tảng đó, con người được mời gọi ngày càng ý thức sâu xa hơn về sự hiệp thông theo chiều kích thiêng liêng và tôn giáo, nhất là sự hiệp thông với Thiên Chúa. Do đó, ‘ơn gọi hiệp thông’ là ơn gọi phổ quát của mọi người trong mọi thời và khắp mọi nơi. Khi con người ý thức về điều đó cũng là lúc con người nhận ra trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và cổ vũ các hình thức hiệp thông lành mạnh trong đời sống gia đình, xã hội, văn hóa và truyền thống. Nói cách khác, hiệp thông không chỉ là một khả thể hay một chọn lựa nhưng còn là ơn gọi nền tảng gắn liền với căn tính và cùng đích của con người.
Trong Buổi Tiếp Kiến Chung (General Audience) tại quảng trường thánh Phê-rô (29.3.2006), Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI nói: “Bất cứ nơi đâu sự hiệp thông với Thiên Chúa, tức là sự hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần bị phá hủy, thì cội rễ và nguồn mạch của sự hiệp thông giữa chúng ta với nhau cũng bị phá hủy. Và bất cứ ở đâu chúng ta không sống hiệp thông với nhau, thì sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi cũng không còn sống động và chân thật nữa”. Còn Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô thì viết: “Con người càng lớn lên, càng trưởng thành và càng được thánh hóa hơn khi đi vào các mối tương quan, bước ra khỏi chính mình để sống hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với mọi loài thụ tạo. Nhờ đó, họ tham dự vào chính năng động tính Ba Ngôi mà Thiên Chúa đã ghi khắc nơi họ khi họ được tạo thành” (Laudato Si’ 240). Như vậy, dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, sự hiệp thông chân thành và sinh nhiều hoa trái đích thực cho con người chỉ có thể bắt nguồn từ sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đặc biệt, sự hiệp thông này được biểu lộ cách sung mãn nơi Biến Cố Đức Giê-su, Đấng đến thế gian không chỉ khôi phục sự hiệp thông đã bị tổn thương vì tội lỗi mà còn đem lại sự hiệp thông viên mãn cho con người cũng như quy tụ và biến đổi toàn thể thụ tạo theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Ý muốn của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là con người được hiệp thông với nhau, nên một với nhau như chính Người hằng hiệp thông và nên một với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, trong lời nguyện dâng lên Chúa Cha trước cuộc khổ nạn: “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (Ga 17,22-23). Quả thật, chỉ trong sự hiệp thông với Đức Giê-su, con người mới tìm được ý nghĩa đích thực của đời mình và đóng góp phần mình vào việc xây dựng gia đình nhân loại trong bình an, công lý và phát triển bền vững.
Khi gặp gỡ ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su nói: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết: “Không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giê-su Ki-tô” (1 Cr 3,11). Trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân tiếp tục khẳng định: “Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2 Cr 5,15). Thánh nhân viết cho môn đệ Ti-mô-thê rằng: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: Đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1 Tm 2,3-6). Như vậy, Đức Giê-su vừa là nền tảng, vừa là trung tâm, vừa là Đường Hiệp Thông quy tụ mọi người trong gia đình nhân loại về với Thiên Chúa. Nhờ Đức Giê-su, mọi người được quy tụ trong gia đình đức tin và cùng nhau hướng về sự hiệp thông viên mãn trong Nước Thiên Chúa.
Trong Giáo Hội sơ khai, các Ki-tô hữu ý thức rằng chính sự hiệp thông của họ với Đức Giê-su làm cho họ nên một với nhau, vượt trên mọi hình thức phân biệt hay chia rẽ của xã hội. Thánh Phao-lô quả quyết rằng: “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,27-28). Quả thật, sự hiệp nhất nên một ấy được nuôi dưỡng nhờ việc cùng chia sẻ một đức tin, một niềm hy vọng, các bí tích và những thực tại thánh thiêng khác trong các cộng đoàn được quy tụ nhân danh Đức Giê-su như lời thánh Phao-lô: “Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su” (Ep 2,19-20).
Dưới nhãn quan Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, sự hiệp thông giữa người với người dưới bất cứ hình thức nào đều tạo nên những ảnh hưởng tích cực và tốt lành nơi thế giới thụ tạo. Trong Thông Điệp Laudato Si’, ngài viết: “Một cảm thức hiệp thông sâu xa với phần còn lại của thiên nhiên không thể là điều chân thật nếu trong tâm hồn chúng ta thiếu sự dịu dàng, lòng trắc ẩn và sự quan tâm đối với tha nhân” (Pope Francis, Laudato Si’ 91). Cũng theo ngài: “Khi tâm hồn chúng ta thực sự mở ra cho sự hiệp thông phổ quát thì cảm thức huynh đệ không loại trừ bất cứ điều gì hay bất cứ ai. Vì thế, sự dửng dưng hoặc tàn nhẫn của chúng ta đối với các thụ tạo khác trong thế giới này sớm muộn gì cũng sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta đối xử với tha nhân” (Pope Francis, Laudato Si’ 92). Đối với Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, con người và toàn thể thụ tạo có mối tương quan mật thiết với nhau. Do đó, bất cứ tương quan hiệp thông nào trong gia đình nhân loại bị tổn thương đều gây ảnh hưởng tiêu cực đến các tương quan khác trong thế giới thụ tạo.
4.2. Sống theo Đường Hiệp Thông
Sự hiệp thông với Thiên Chúa được thể hiện cách cụ thể trong cuộc sống hằng ngày của các tín hữu. Điều đó có nghĩa là ai hiệp thông với Thiên Chúa thì được mời gọi đóng góp phần mình trong việc làm cho cộng đoàn mình hiện diện và hoạt động luôn được biến đổi theo thánh ý Người. Sự hiệp thông với Thiên Chúa thúc đẩy con người hướng về anh chị em đồng loại, hướng về đời sống cộng đoàn, hướng về muôn vật muôn loài. Sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết về lối sống cộng đoàn Ki-tô hữu sơ khai: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4,32). Quả thật, họ đã thay đổi tâm thức từ lối sống quy ngã sang lối sống hướng tha, nghĩa là hướng về anh chị em trong cùng gia đình đức tin để hiệp thông, chia sẻ. Theo đó, họ không chỉ hiệp thông với nhau trong việc chia sẻ gia sản thiêng liêng mà còn hiệp thông với nhau trong mọi chiều kích của đời sống hằng ngày. Lối sống hiệp thông, chia sẻ trở thành chứng từ hữu hiệu diễn tả sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại.
Ai hiệp thông với Đức Giê-su thì cũng ý thức rằng mình cần có tầm nhìn mới mẻ hơn so với những gì mình đã kinh nghiệm và thực hành như thánh Phao-lô viết: “Trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Vấn đề đặt ra là mọi người cần ý thức xây dựng Giáo Hội trong sự thật và bác ái hầu làm cho Giáo Hội ngày càng tăng trưởng. Thánh Phao-lô căn dặn các tín hữu Ê-phê-sô: “Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu” (Ep 4,15). Điều này có nghĩa là mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của mỗi người cần phải hướng về việc xây dựng và củng cố hiệp thông của cộng đoàn Dân Chúa cũng như toàn thể Giáo Hội. Để thực hiện điều đó, mọi người được mời gọi: Luôn học hỏi và suy niệm lời Thiên Chúa trong sự hiệp thông với Giáo Hội; đối xử với anh chị em đồng loại trong sự hiệp thông với Giáo Hội; phục vụ mọi người trong sự hiệp thông với Giáo Hội; gặp gỡ, lắng nghe và phân định trong sự hiệp thông với Giáo Hội.
Như đã đề cập ở trên, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người được thể hiện nơi các bí tích của Giáo Hội, trong đó, Bí Tích Thánh Thể thường được gọi là bí tích hiệp thông (sacrament of communion). Việc đón nhận Mình và Máu Đức Ki-tô được gọi là ‘Hiệp Lễ’ (Holy Communion) bởi vì khi đó con người được hiệp thông với Đức Giê-su, với nhau và với toàn thể Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Thánh Phao-lô viết: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,16-17). Như vậy, đối với thánh Phao-lô, hiệp thông không chỉ là tham dự việc cử hành Bí Tích Thánh Thể mà còn là cùng chia sẻ Mình và Máu Đức Giê-su trong cùng một Thân Thể là Giáo Hội. Việc cử hành Bí Tích Thánh Thể không chỉ diễn tả sự hiệp thông của những người hiện diện trong cộng đoàn phụng vụ mà còn diễn tả sự hiệp thông các Ki-tô hữu trong toàn thể Giáo Hội. Do đó, Bí Tích Thánh Thể vừa xây dựng vừa biểu lộ sự hiệp thông của Giáo Hội qua mọi thời đại và mọi nơi trên thế giới.
Ai tham dự Bí Tích Thánh Thể thì hiệp thông với Đức Giê-su, Đấng vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời (Dt 13,8). Nói cách khác, ai tham dự Bí Tích Thánh Thể thì tưởng nhớ Đức Giê-su: Đấng đã hiện diện và hoạt động giữa gia đình nhân loại, Đấng đang hiện diện dưới hình bánh và rượu, đồng thời cũng là Đấng hiển thắng mà các Ki-tô hữu sẽ gặp gỡ trong thời cánh chung. Sự hiệp thông với Đức Giê-su Thánh Thể cho phép con người hiệp thông với Người cách sâu xa và đặc biệt hơn so với những phương thế hiệp thông khác, chẳng hạn như hiệp thông qua lời Thiên Chúa, qua các bí tích hay qua những ân phúc thiêng liêng khác. Quả thật, mầu nhiệm cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giê-su tiếp tục được hiện tại hóa nơi Bí Tích Thánh Thể bởi vì trong bí tích này, con người được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, đồng thời được liên kết với nhau và với toàn thể thụ tạo.
Ai hiệp thông với Đức Giê-su thì được mời gọi yêu mến, gắn bó và quy hướng toàn tâm toàn ý về Người. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô cảnh báo họ về việc thờ ngẫu tượng và tham dự các bữa tiệc tế thần ngoại giáo. Đối với thánh Phao-lô, các tín hữu phải có thái độ dứt khoát, không chút lưỡng lự trước những gì nghịch lại mối hiệp thông thánh thiện và lành mạnh với Đức Giê-su bởi vì không ai có thể vừa hiệp thông với Mình và Máu Đức Giê-su, vừa hiệp thông với các thế lực sự dữ hay ma quỷ. Thánh Phao-lô quả quyết: “Tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỷ” (1 Cr 10,20). Đồng thời, ngài nói với họ: “Anh em không thể vừa uống chén của Chúa, vừa uống chén của ma quỷ được; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được” (1 Cr 10,21). Nói cách khác, thái độ nước đôi, thái độ hai lòng, thái độ nửa vời, thái độ do dự và thái độ thiếu kiên định không có chỗ đứng trong tâm hồn các môn đệ chân chính của Đức Giê-su.
Thánh Au-gút-ti-nô quả quyết: “Nếu anh em là Thân Thể Đức Ki-tô và là các chi thể của Người thì chính mầu nhiệm của anh em được đặt trên bàn tiệc của Chúa; điều anh em lãnh nhận chính là mầu nhiệm nói về anh em. Anh em đáp ‘Amen’ đối với điều anh em ‘là’ và khi đáp như thế, anh em diễn tả sự ưng thuận của mình. Điều anh em nghe là: Mình Thánh Đức Ki-tô và anh em đáp: ‘Amen’. Vậy hãy trở nên chi thể của Thân Thể Đức Ki-tô để tiếng ‘Amen’ của anh em được chân thật” (St. Augustine, Sermon 272). Ý thức về điều đó, mỗi người trong cộng đoàn Bí Tích Thánh Thể được mời gọi không ngừng biến đổi để ngày càng biết sống xứng hợp với căn tính, đời sống và sứ mệnh mình. Chính Bí Tích Thánh Thể giúp các tín hữu ý thức sâu sắc hơn về sự hiệp thông không thể phân ly theo ‘chiều đứng’ và ‘chiều ngang’, nghĩa là hiệp thông với Đức Giê-su, với Ba Ngôi Thiên Chúa và với nhau cũng như với toàn thể thụ tạo.
Nhận thức tầm quan trọng của Bí Tích Thánh Thể vừa giúp các tín hữu không ngừng biến đổi để ngày càng đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su, vừa thúc đẩy họ ý thức sâu xa hơn về Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, như lời thánh Au-gút-ti-nô: “Các tín hữu nhận biết Thân Thể Đức Ki-tô, miễn là họ không xao lãng việc trở nên chính Thân Thể Đức Ki-tô. Họ hãy trở nên Thân Thể Đức Ki-tô, nếu họ muốn sống nhờ Thần Khí của Đức Ki-tô. Không ai sống nhờ Thần Khí của Đức Ki-tô ngoài Thân Thể Đức Ki-tô” (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John, 26.13). Cũng theo thánh nhân, “anh em cũng muốn sống nhờ Thần Khí của Đức Ki-tô sao? Hãy ở trong Thân Thể Đức Ki-tô. Chắc chắn thân xác tôi không sống nhờ linh hồn của anh em. Thân xác tôi sống nhờ linh hồn tôi, còn thân xác anh em sống nhờ linh hồn anh em. Cũng vậy, Thân Thể Đức Ki-tô chỉ sống nhờ Thần Khí của Đức Ki-tô mà thôi” (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John, 26.13). Ở đây, thánh nhân dùng hình ảnh thân xác và linh hồn con người để diễn tả Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần là nguyên lý sự sống hay ‘linh hồn’ của Giáo Hội.
Bổn phận của các Ki-tô hữu không chỉ là đồng tâm xây dựng và cổ vũ sự hiệp thông giữa các hệ phái Ki-tô Giáo mà còn góp phần xây dựng sự hiệp thông trong gia đình nhân loại như lời Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II: “Là Ki-tô hữu trong thời đại hôm nay có nghĩa là trở nên những người xây dựng sự hiệp thông trong Giáo Hội và trong xã hội. Điều này đòi hỏi sự cởi mở đối với tha nhân, sự cảm thông lẫn nhau và sự sẵn sàng cộng tác qua việc quảng đại trao đổi những giá trị văn hóa và thiêng liêng” (Pope John Paul II, Slavorum Apostoli [1985], 27). Tiếp nối tư tưởng ấy, các Ki-tô hữu được mời gọi quan tâm hơn đến bổn phận của mình trong Giáo Hội cũng như trong xã hội, nhất là biết tôn trọng phẩm giá cao quý và bất khả nhượng của mỗi người bởi vì mọi người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi hiệp thông với Người ngay trong cuộc sống hiện tại cũng như trong Nước Thiên Chúa. Do đó, ý thức về sự hiệp thông với Thiên Chúa, đồng thời góp phần xây dựng, củng cố và phát triển sự hiệp thông luôn là đòi hỏi thiết yếu trong sứ mệnh các Ki-tô hữu, những người được diễm phúc nhận biết Đức Giê-su và Tin Mừng của Người.
4.3 Loan báo Tin Mừng Đường Hiệp Thông
Sau khi phục sinh, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, các môn đệ Đức Giê-su đã ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Quả thật, nhiều trình thuật Tin Mừng cho chúng ta biết rằng các môn đệ Đức Giê-su vốn là những người đơn sơ, chậm hiểu, yếu hèn và còn nhiều giới hạn khác nữa. Tuy nhiên, nhờ đồng hành với Đức Giê-su trong khoảng ba năm và nhất là với biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống, họ đã trở nên những chứng nhân can đảm của Đức Giê-su và Tin Mừng của Người khắp vùng Địa Trung Hải. Hiệu quả của biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống không ngừng củng cố sự hiệp thông giữa các môn đệ, đồng thời thúc đẩy họ tiếp tục sứ mệnh quy tụ muôn dân về với Thiên Chúa. Như vậy, hiệp thông (communion) không khép kín nơi cộng đoàn môn đệ nhưng luôn mang tính loan báo Tin Mừng (mission), hướng tới việc quy tụ muôn dân vào gia đình Thiên Chúa.
Thánh Gio-an Tông Đồ diễn tả sự cần thiết của việc loan báo Tin Mừng hiệp thông cho mọi người khi viết: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người” (1 Ga 1,3). Quả thật, Tin Mừng Đức Giê-su là Tin Mừng mời gọi mọi người hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau để cùng nhau đón nhận ơn cứu độ viên mãn của Người. Các môn đệ Đức Giê-su đã có kinh nghiệm sâu đậm về Đức Giê-su. Các ngài đã thấy, đã nghe, đã cảm nghiệm, do đó, các ngài không muốn giữ lại cho riêng mình kinh nghiệm gặp gỡ và gắn bó với Đức Giê-su nhưng đã loan báo và mời gọi mọi người hiệp thông với Người ngay trong hành trình trần thế này.
Các môn đệ Đức Giê-su luôn ý thức rằng hiệp thông và sứ mệnh liên kết mật thiết với nhau, bổ túc cho nhau và làm sáng tỏ ý nghĩa của nhau. Hiệp thông với Đức Giê-su đem lại cho các ngài sức mạnh trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Đối với các ngài, ai hiệp thông sâu xa với Đức Giê-su thì cũng ý thức về sự cần thiết phải làm cho sự hiệp thông đó lan tỏa đến anh chị em mình. Do đó, sứ mệnh loan báo Tin Mừng không chỉ dành riêng cho một nhóm người hay một cộng đoàn đặc thù nào đó mà là sứ mệnh của những ai nhìn nhận Đức Giê-su là Chúa, là Thầy và là Bạn của mình. Điều này có nghĩa là ai hiệp thông với Đức Giê-su thì được mời gọi lắng nghe những lời Người nói, thực hành những điều Người dạy, phục vụ anh chị em đồng loại như chính Người đã phục vụ, đặc biệt, yêu thương mọi người như Đức Giê-su đã yêu, yêu cho đến tận cùng (Ga 13,1).
Mục đích tối hậu của việc loan báo Tin Mừng là giúp mọi người đón nhận, sống và thực thi thánh ý Thiên Chúa theo giáo huấn Đức Giê-su để được hiệp thông trọn vẹn với Ba Ngôi Thiên Chúa. Để đạt được mục đích đó, các Ki-tô hữu cần trở về với Đức Giê-su, ở lại với Người và suy niệm lời Người trong mọi biến cố đời mình. Đặc biệt, các Ki-tô hữu cần ý thức rằng họ là những người tiếp tục sứ mệnh Đức Giê-su, sứ mệnh vô cùng cao quý là làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Do đó, các Ki-tô hữu cần ý thức rằng mình phải thấm nhuần lời Đức Giê-su cũng như giáo huấn và lối sống của Người khi đến với anh chị em đồng loại. Việc ở lại với Đức Giê-su luôn dẫn tới việc được Người sai đi bởi vì người môn đệ đích thực không chỉ sống cho chính mình mà còn trở thành khí cụ đưa người khác hiệp thông với Thiên Chúa.
Các môn đệ Đức Giê-su được mời gọi đến với anh chị em mình theo cách thức Người đã đến, quan tâm đến những người nghèo khổ như Người đã quan tâm, tha thứ cho anh chị em mình như Người đã tha thứ, kiên nhẫn với anh chị em mình như Người đã kiên nhẫn và đồng hành với anh chị em mình như Người đã đồng hành với các môn đệ trong hành trình trần thế. Có như vậy, âm hưởng hiệp thông sứ mệnh Đức Giê-su mới có thể vang mãi trong gia đình nhân loại. Kinh nghiệm của các tín hữu trong Giáo Hội sơ khai cho thấy rằng việc loan báo Tin Mừng hiệp thông chỉ có thể đem lại hiệu quả khi chính người loan báo luôn ý thức cũng như thực hành tinh thần hiệp thông ngay trong cộng đoàn mình trong khi quy hướng về sứ mệnh hiệp thông và loan báo Tin Mừng của toàn thể Giáo Hội.
Hiệp thông với Đức Giê-su trong Chúa Thánh Thần để loan báo Tin Mừng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh Giáo Hội cũng như của các Ki-tô hữu. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI viết: “Hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô lôi kéo chúng ta vào trong chính hữu thể ‘vì mọi người’ của Người và làm cho điều đó trở thành cách thức hiện hữu của chúng ta. Người thúc đẩy chúng ta sống cho tha nhân nhưng chỉ nhờ hiệp thông với Người mà chúng ta mới thực sự có thể hiện diện cho người khác, cho toàn thể nhân loại” (Pope Benedict XVI, Spe Salvi [2007], 28). Cũng theo ngài: “Là Ki-tô hữu, chúng ta không bao giờ chỉ giới hạn mình trong câu hỏi: Làm thế nào để cứu lấy chính mình? Chúng ta cũng phải tự hỏi: Tôi có thể làm gì để người khác được cứu độ và để vì họ mà ngôi sao hy vọng cũng được bừng lên? Khi đó, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể cho chính phần rỗi của mình” (Pope Benedict XVI, Spe Salvi [2007], 48). Các Ki-tô hữu trong Giáo Hội sơ khai luôn là những gương mẫu sống động giúp các Ki-tô hữu qua mọi thời đại nỗ lực hơn nữa trong việc mời gọi mọi người đến với Đức Giê-su và bước đi trên Đường Hiệp Thông của Người.
Bao lâu các giá trị Tin Mừng chưa thấm nhuần mọi chiều kích trong đời sống con người, bấy lâu việc loan báo Tin Mừng chưa thực sự đạt được hiệu quả theo thánh ý Thiên Chúa. Tin Mừng Đức Giê-su là Tin Mừng về Nước Thiên Chúa giữa thế gian nhằm biến đổi con người cách toàn diện. Do đó, trong khi loan báo Tin Mừng, các thành phần Giáo Hội được mời gọi đóng góp phần mình vào việc xây dựng, cổ vũ công lý và hòa bình trong các cộng đoàn mà mình hiện diện cũng như trong toàn thể gia đình nhân loại. Quả thật, đây là một trong những nhu cầu cấp thiết của thế giới hôm nay khi nhân loại vẫn đang đối diện với vô số nghịch lý và bất công dưới nhiều hình thức khác nhau. Để mọi người được sống xứng đáng với phẩm giá cao quý của mình, các hình thức loại trừ, kỳ thị và bất công cần phải được loại bỏ; đồng thời, tinh thần liên đới, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau cần được cổ vũ giữa các dân tộc, quốc gia, thể chế cũng như các tầng lớp xã hội. Nói cách khác, những gì làm tổn hại đến phẩm giá con người cần được biến đổi để mọi người có thể sống trong bình an, hòa thuận và chung sức đóng góp cho sự phát triển con người toàn diện. Thực tế cho thấy rằng tại nhiều nơi trên thế giới, sự tăng trưởng kinh tế và khoa học kỹ thuật không đồng nhịp với sự phát triển nhân bản và việc nâng cao phẩm giá con người, khi khoảng cách giàu nghèo ngày càng lan rộng, kéo theo sự gia tăng tình trạng thất nghiệp cũng như nhiều hình thức bất công khác trong các hình thái xã hội.
Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng hiệp thông vừa thuộc về bản chất, vừa thuộc về sứ mệnh Giáo Hội đối với muôn dân muôn nước. Là thực tại hiệp thông của Thiên Chúa, Giáo Hội thể hiện chính mình như là bí tích cứu độ phổ quát của Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại (LG 48; GS 45). Sự hiệp thông trọn vẹn trong đời sống đức tin, đời sống bí tích của các Ki-tô hữu dẫn tới sự hiệp thông năng động của mọi người trong sứ mệnh loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại. Để được như vậy, các Ki-tô hữu cần luôn ý thức về lời thánh Phao-lô rằng chỉ có một thân thể, một thần khí, một hy vọng, một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người (Ep 4,4-6). Đặc biệt, các Ki-tô hữu được mời gọi loan báo Đức Giê-su là Đường Hiệp Thông và Tin Mừng hiệp thông của Người với niềm xác tín rằng: “Thiên Chúa đã và đang kêu gọi con người đem toàn thân kết hợp với Ngài trong sự thông hiệp vĩnh viễn vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa” (GS 18). Nhờ đó, Giáo Hội tiếp tục thực hiện sứ mệnh quy tụ nhân loại trong Đức Ki-tô để mọi người được tham dự vào sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
5. Kết luận
Sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa là nguyên lý và mô thức mọi hình thức hiệp thông trong thế giới thụ tạo. Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, khái niệm hiệp thông được sử dụng rộng rãi để diễn tả các thực tại cũng như các tương quan khác nhau trong đời sống đức tin, chẳng hạn như sự hiệp thông các thành phần trong ba tình trạng hiện hữu của Giáo Hội (Giáo Hội lữ hành, Giáo Hội thanh luyện và Giáo Hội khải hoàn), sự hiệp thông trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiệp thông trong phẩm trật Giáo Hội, sự hiệp thông trong sứ vụ thánh Phê-rô, sự hiệp thông trong tính duy nhất và đa dạng của Giáo Hội, sự hiệp thông giữa Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương, sự hiệp thông các hệ phái Ki-tô Giáo, sự hiệp thông các Ki-tô hữu trong việc loan báo Tin Mừng. Nói một cách tổng quát, khái niệm hiệp thông diễn tả các tương quan sống động giữa Thiên Chúa, con người và toàn thể thụ tạo. Đồng thời, đây cũng là một trong những khái niệm nền tảng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh Giáo Hội, công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa, giữa gia đình nhân loại.
Con người được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, nên mang phẩm giá cao quý và được mời gọi sống trong sự hiệp thông với Người, với nhau và với toàn thể thụ tạo. Tuy nhiên, vì sự vô ơn, kiêu ngạo và bất tuân thánh ý Thiên Chúa, con người đã phạm tội. Khi tội lỗi xâm nhập trần gian cũng là khi sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, với nhau và với toàn thể thụ tạo bị tổn thương. Tự sức mình, con người không thể khôi phục sự hiệp thông vốn được Thiên Chúa ban tặng từ thuở ban đầu. Để cứu độ và thánh hóa con người, đồng thời khôi phục sự hiệp thông đã bị đổ vỡ, Thiên Chúa không ngừng biểu lộ tình yêu của Người qua nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như thiết lập giao ước, trao ban lề luật, sai các ngôn sứ và hứa ban ơn cứu độ vĩnh cửu.
Khi tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Một Yếu Dấu của Người là Đức Giê-su đến trần gian để thực thi chương trình tái lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người, đồng thời dẫn đưa con người về sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa. Thông phần bản tính con người, Đức Giê-su đã đến với mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bị bỏ rơi hay phải đối diện với muôn hình thức khổ đau. Người đã trừ quỷ, tha tội, chữa lành bệnh tật và cho kẻ chết hồi sinh để minh chứng rằng chính Người đem đến sự hiệp thông đích thực cho con người ngay trong cuộc sống trần thế này. Sau hoàn tất chương trình theo thánh ý Thiên Chúa ở trần gian, Đức Giê-su trao phó sứ mệnh hiệp thông của Người cho Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, để Giáo Hội tiếp tục thực thi sứ mệnh ấy cho muôn dân muôn nước. Trong Chúa Thánh Thần, Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là khí cụ của sự hiệp thông mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi toàn thể gia đình nhân loại.
Là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, các Ki-tô hữu được mời gọi đi trên Đường của Người, Đường Hiệp Thông, để đóng góp phần mình trong việc cổ vũ sự hiệp thông trong Giáo Hội, giữa Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương, giữa các hệ phái Ki-tô Giáo, giữa các tôn giáo và giữa các dân tộc trong gia đình nhân loại. Đức Giê-su là Đường Hiệp Thông của Thiên Chúa vì con người, với con người và cho con người. Đường giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau và cùng nhau chăm sóc thế giới thụ tạo. Để hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, nghĩa là được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Người, mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đến với Đức Giê-su, lắng nghe lời Người và thực thi lời Người trong mọi hoàn cảnh đời mình.
Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên
#ducgiesukito #duonghiepthong




































