CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY – NĂM A

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973 2
ĐÃ TRÔNG THẤY DẤU CHỈ (*)- Chú giải của Noel Quesson. 8
DỊP LỄ ÁNH SÁNG – Chú giải của Fiches Dominicales. 18
ÁNH SÁNG CHO NGƯỜI MÙ- Lm. FX Vũ Phan Long, ofm.. 27
DẤU LẠ (*) – Chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 44
THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC ÁNH SÁNG- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 58
CON MẮT ĐỨC TIN CỦA ANH MÙ- Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 67
NGỌN ĐÈN ĐỨC TIN – ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt. 82
CHÚA LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 87
MÙ LÒA VÀ MÙ QUÁNG- Lm. Inhaxio Trần Ngà. 92
BƯỚC NHẢY CỦA NIẾM TIN- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 96
MỞ MẮT NHÌN ĐỜI- Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 104
ĐÔI MẮT TÂM HỒN- Trích Logos A.. 108
CHÚA GIÊSU, ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN- Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn 114
—————————————————————–
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY – NĂM A
BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973
BÀI ĐỌC I: Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a
“Ðavit được xức dầu làm vua Israel”.
Bài trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua”. Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
BÀI ĐỌC II: Ep 5, 8-14
“Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b
Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”.
PHÚC ÂM: Ga 9, 1-41 (bài dài)
“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?” Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được. Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn!” Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không biết”. Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một tiên tri”. Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng: “Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”. Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài. Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”. Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói “Chúng tôi xem thấy”, nên tội các ngươi vẫn còn”.
Ðó là lời Chúa.
——————————————————————-
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
ĐÃ TRÔNG THẤY DẤU CHỈ (*)- Chú giải của Noel Quesson
Đi ngang qua, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh
Khác với nhiều phép lạ, phép lạ này được làm không phải do một lời cầu xin. Chính Đức Giêsu chủ động đưa ra sáng kiến: “Đức Giêsu trông thấy một người mù”. Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy một người mù”. Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy những thử thách của tôi.
Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Đức Giêsu trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.
Câu hỏi của các môn đệ cũng là của chúng ta. Của tất cả mọi thời đại. Trước cái xấu, chúng ta tìm một giải đáp và chúng ta muốn tìm một người phạm tội. Những người xưa chỉ bằng lòng với một lý thuyết cổ xưa hơi quá đơn sơ một chút; sự xấu do bởi một tội lỗi. Nhưng chính Đức Giêsu lại không đặt vấn đề như vậy. Hơn nữa người không đề ra một giải đáp nào: cái xấu vẫn không chấp nhận được, không thể biện minh được. Chỉ có một phản ứng bình thường, có tính nhân bản nhất về nền tảng, đó là cố mà loại bỏ cái xấu xa này chẳng nào chúng ta có thể làm được. Và cuộc chiến đấu chống lại đau khổ không phải vô ích, hay cuối cùng chịu thất bại, bởi vì Đức Giêsu tỏ cho chúng ta biết rằng đấy là cuộc chiến đấu của chính Thiên Chúa: hành động rõ rệt mà vì thế Đức Giêsu tự xưng mình “là người được sai đi”. Được sai đi? Bởi ai? Thế thì, Đức Giêsu này. Người từ đâu mà đến?
Vấn đề về nguồn gốc của Người này lại còn quan trọng hơn thế, vì hẳn là Người trông thấy toàn bộ việc thế gian chấm hết: Người biết Người sắp chết, đêm đã tới, và Người phải hành động bao lâu Người còn ở thế gian.
Cái chết mà Người thấy trước qua nỗi thù hận của các đối phương của Người (Ga 7,19-32.44; 8,59), đó sẽ là chiến thắng bề ngoài của sự xấu, chiến thắng của bóng đêm (Ga 13,30).
Nhưng bóng tối không chặn được ánh sáng” (Ga 1,5-9). Cám ơn Người, lạy Đức Giêsu. Vinh quang thuộc về Người, vì Người đã soi chiếu đêm tối của chúng con!
Nói xong, Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
Một mô tả cụ thể để lộ người chứng tận mắt, Gioan. Nước bọt của một số người, theo những người xưa, có một giá trị dược liệu. Nhưng nhất là, chúng ta khám phá ở đó, thêm một lân nữa, cái thiên tài của Gioan, nhà thần học biểu tượng chủ nghĩa… và nhà thần học nhiệm tích… Vâng, người đàn ông mù từ thuở mới sinh này, bên kia trượng hợp cá nhân đầy xúc cảm, thực sự là một biếu tượng của nhân loại bị nhận chìm trong đêm tối, khi họ không biết Đức Giêsu, khi những đau khổ của loài người có vẻ như không có ý nghĩa. Và cái giếng Si-lo-ê này, bên kia vùng nước có thật của nó trong khu vực thấp trũng của Giêrusalem, thực sự là một biểu tượng của phép rửa thanh tẩy và chiếu sáng.
Điều làm cho Gioan, nhà thần học, chú ý, đó trước hết không phải là con người kỳ diệu lạ lùng, được kể ngắn gọn chỉ bằng ba dòng, đó chính là dấu hiệu biểu trưng mà Đức Giêsu đưa ra về chính mình và được biểu lộ qua cái tên huyền nhiệm của cái giếng “Si-lô-ê có nghĩa trong tiếng Do Thái là “Shilloah” Người được sai đi”. Được sai đi? Do ai?
Cái bản vị Giêsu, Đấng được sai đi, nêu ra nhiều vấn đề hoài nghi xác định lập trường, tranh cãi, Người là ai? Không người nào đã từng bao giờ đặt nhiều câu hỏi như thế. Tại sao? Định mệnh của Người là gì? Phép lạ của người mù được chữa khỏi mới xong khi Đức Giêsu dường như vừa đi khỏi hiện trường. Nhưng vấn đề chính là về Người trong quá trình một vụ án kỳ lạ tập tục, thông qua bản thân của người đã được hưởng lòng tốt của Đức Giêsu. Chúng ta sắp dự vào bốn cuộc hỏi cung liên tiếp, ngày càng bắt nhân. Nhưng cuối cùng, chính Đức Giêsu can thiệp lại để kiện lại những đối phương của Người.
VỤ KIỆN I: Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” có người nói: “Chính hắn đó!”. Kẻ khác lại rằng: ‘không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giồng hắn đó thôi!”. Còn anh ta thì quả quyết: “Chính tôi đây!”. Người ta liền hỏi: “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?”. Anh ta trả lời: “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi rồi bảo: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ê mà rửa”. Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được” Họ lại hỏi anh: “ông ấy ở đâu?”. Anh ta đáp: “Tôi không biết”.
Đó là những người làng xóm đã làm cuộc điều tra ưu tiên: Cái gì đã diễn ra? Nó đã diễn ra như thế nào? ai đã làm chuyện đó? Lúc này chúng ta chỉ nghĩ tới một động tác tự nhiên vì có thiện cảm nên tò mò. Ngày nay vẫn còn. Có một số đông người cùng thời với chúng ta chỉ chú ý đến Đức Giêsu tới chỗ đó: người ta nhận xét một sự kiện… nhưng người ta không muốn rắc rối cuộc đời và người ta không đi xa hơn. Còn về anh mù được chữa lành, chính anh ta trở về từ rất xa. Chúng ta lưu ý là anh ta chưa biết gì về Đức Giêsu cả, anh ta chỉ biết người ta gọi ông ấy là Giêsu.
VỤ KIỆN II: Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. Nhưng ngày Đức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát”; kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Người là một vị ngôn sứ!”
Đứng trước Đức Giêsu, ý kiến bị phân rẽ: người này thì ủng hộ… người kia thì chống đối… Người, con người có thiện chí, bắt đầu từ từ mà tiến lên. Ngoài ra đó là những điều phiền nhiễu của những người điều tra muốn đây anh ta đi xa hơn. Bây giờ anh ta khẳng định: Đó là một ngôn sứ. Lạy Chúa. xin giúp chúng con tiến đi trong đức tin.
VỤ KIỆN III: Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. Họ hỏi: “Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?” Cha mẹ anh đáp: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Vì thế, cha mẹ anh mới nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.
Thế là một thái độ khác đối diện với Đức Giêsu đó là một sự trốn chạy. Nhưng người ta chối từ, không muốn tự đặt cho mình một số vấn đề có thể gây ra liên lụy. Không thể tôi thường thuộc vào loại này ư? Người ta có thể đừng nên làm gì để khỏi có nhiều chuyện!
VỤ KIỆN IV: Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” Anh ta đáp: “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!” Họ mới nói với anh: “Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?” Anh trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?” Họ liền mắng nhiếc anh: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giêsu ấy bởi đâu mà đến.” Anh đáp: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” Rồi họ trục xuất anh.
Những người Pha-ri-sêu, bị lún sâu vào trong hệ thống của họ: Họ “biết”! Đó tà tiếng họ lặp lại và tỏ rõ lòng tự mãn của họ. Họ chối từ, biến đổi, trong khi dựa vào truyền thống. Chấp nhận cái mới của một người vi phạm. Ngày Sa-bát sẽ làm cho hệ thống giáo điều của họ lâm nguy. Như vậy họ chối từ bằng chứng hiển nhiên. Và như thế họ phạm tội duy nhất có trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: chối từ lòng tin… muốn là một người không tin…bịt mắt trước huyền nhiệm Đức Giêsu. Ta hãy chú ý đến cách sử dụng tinh vi của động từ “biết” nhờ đó, người ta thấy rõ các cửa mở vào đức tin hay lối chặn cho sự không tin. 1. Cha mẹ “biết” đó chính là con trai họ… nhưng họ không muốn “biết” ai đã mở mắt cho con họ, để không bị liên lụy (9,20-21). 2. Những người Pha-ri-sêu “biết” Đức Giêsu đã từ đâu đến (9,24-29). 3. Anh mù chính anh ta không “biết” Đức Giêsu đi đâu, không “biết” đó có phải là một người tội lỗi không… nhưng anh ta “biết rằng anh ta đã được chữa khỏi và “biết” rằng Thiên Chúa không đoái nghe những người tội lỗi (9,12-25-31). Còn chúng ta, chúng ta có đi tìm chân lý không? Chúng ta có bị chặn trước những hiểu biết của chúng ta không? Chúng ta có ham hiểu biết nhiều hơn không, mở con mắt đui mù của chúng ta ra không?
Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh đáp: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Đức Giêsu trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
Trong khi những người Pha-ri-sêu bị giam hãm trong sự vô tín của họ, thì anh mù, chính anh lại không ngừng tiến lên trong lòng tin, và chúng ta chú ý là lòng tin này chỉ đạt tới đỉnh cao theo sáng kiến và vấn đề bản vị của chính Đức Giêsu. Tất cả những câu hỏi mà các đối thủ đặt ra cho anh ta, đâu làm cho anh tiến lên, nhưng sự tuyên xưng đức tin của anh ta chỉ thành tựu nhờ cuộc gặp gỡ bản thân của Đức Giêsu. Còn chúng ta, đức tin cửa chúng ta có tiến lên, theo gương của người mù này, người dần dần mở mắt trước huyền nhiệm, một cách tiệm tiến không? ban đầu người ta chỉ đứng trước “người mà người ta gọi là Giêsu (9,11). Và rồi người ta phát hiện “một ngôn sứ “(9,17)… một người nào đến từ “Thiên Chúa” (9,88)… và sau cùng “Con Người” (9,35) và “Chúa (9,38). Đây là sự trả miếng của Thiên Chúa. Người bất hạnh đáng thương đã tìm thấy hạnh phúc đích thực duy nhất. Mù từ thuở mới sinh, không được những người hàng xóm giúp đỡ nhiều lắm, không được cha mẹ nâng đỡ bị đuổi ra khỏi giáo đường như một tên bị bệnh ôn dịch… Nhưng mềm vui tin tưởng to lớn biết bao!
Đức Giêsu nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” Đức Giêsu bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: `Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”
Đó là sự lật ngược hoàn hoàn các tình huống: “tội lỗi không ở chỗ những người Pha-ri-sêu đã đặt nó, chính họ là những người khinh miệt người tội lỗi bẩn thỉu này bị đánh dấu từ thuở mới sinh… và coi sự đui mù đích thực không hề ở chỗ mà họ đặt ra. Chính họ là những người mù, chỉ mình họ chối từ, không trông thấy cái đập thẳng vào mắt họ.
Ta hãy chú ý đến điều Đức Giêsu khẳng định: không phải Thiên Chúa lên án họ theo bề ngoài,… chính họ là những người tự lên án mình.
Cuộc Phán xét chỉ đến chuẩn nhận cái mà người ta đã quyết đinh một cách tự do. Đó chính là sự phi lý tự sát của việc chối bỏ đức tin. Với Ni-cô-đê-mô, Đức Giêsu đã nói: Ai chối bỏ lòng tin thì đã bị lên án rồi… phán đoán là như thế này đây: những người ưa thích bóng tối hơn là ánh sáng (Ga 8,18-19). Bản thân Đức Giêsu buộc phải có một chọn lựa: phải chọn lựa! Trong Thánh Gian, có một tác dụng thường xuyên giữa hai động từ “thấy” và “tin”…Người ta trông thấy những dấu chỉ muốn mời gọi tin tưởng (Ga 1,50; 3,86; 4,48; 6,26-36.40; 9,39-41; 11,45; 20,8; 20,29). Và Chúa Giêsu, ở đây, khẳng định mạnh mẽ rằng những người Pha-ri-sêu không thể dung tha vì không tin, bởi vì họ đã trông thấy dấu chỉ, bởi vì các ông trông thấy… tội các ông vẫn còn.
————————————————
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
DỊP LỄ ÁNH SÁNG – Chú giải của Fiches Dominicales
Cũng như cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người đàn bà xứ Samaria gần giếng Giacob, Tin Mừng về người mù từ lúc mới sinh là một trong những bản văn lớn của Gioan mà Giáo Hội ở thế kỷ đầu dành cho việc nhập môn của các tân tòng.
Nếu sự việc xảy ra trong một ngày Sabbat ở cửa ra vào Đền thờ, sự việc ấy diễn ra trong khung cảnh lễ Lều. Trong lễ này, ngoài nghi lễ rảy nước từ chính giếng Siloê còn nghi lễ ánh sáng buổi chiều tối, với cuộc rước đuốc, diễn tả sự chờ đợi ánh sáng tràn đầy đã hứa cho Israel trong ngày của Đấng Messia. Cũng trong khung cảnh này, Đức Giêsu tuyên bố: “Ta là ánh sáng thế gian”.
Chúng ta ở trung tâm cuộc luận chiến. Suốt hai chương trên, Đức Giêsu luôn là mục tiêu cho đối phương quấy rầy. Ở đây sự chống đối của người Pharisêu tập trung trên việc kẻ mù được lành và đang trở thành môn đệ của Đức Giêsu.
Hành trình để nhận biết.
Cũng như Chúa nhật vừa rồi, nay Gioan đang đưa ta đến sự nhận biết.
Sự ra vào của các nhân vật ăn nhịp với các giai đoạn và kết cấu của câu chuyện.
Lúc đầu có mặt, sau đó Đức Giêsu vắng mặt ở sân khấu cho đến lúc tìm thấy lại người mù, Ngài đặt cho anh ta một câu hỏi căn bản: “Anh có tin Con Người không”.
Giữa khởi đầu và kết thúc của câu chuyện, người mù được lành chỉ trơ trọi một mình, mặc cho các người “thân cận” và “người quen” tự đặt câu hỏi về anh, người Pharisêu thì quấy rầy anh ta bằng những câu hỏi, với cha mẹ ruột đang tìm cách tránh né vì sợ bị liên luỵ, người Pharisêu đòi anh ta đến lần thứ hai, và sau một cuộc đối thoại gay gắt, họ “tống anh ra ngoài”.
Sự thay đổi danh xưng của Đức Giêsu, một sự tiến bộ trong sự nhận biết: trước hết Chúa được chỉ như là “người mà người ta gọi là Giêsu, sau đó một “tiên tri” và như kẻ từ Thiên Chúa mà đến, cuối cùng anh mù tuyên xưng Ngài như là “Con Người”.
Những từ chính (mots clés) được dùng nơi đây với ý nghĩa sâu xa trong vai trò của chúng:
Trong suốt hành trình, từ “bị mù” (cụm từ được lặp lại 15 lần) đối lại với “thấy” (13 lần).
Ở mỗi một giai đoạn, cùng một công thức được lặp lại “Ngài đã mở mắt cho tôi”. Tất cả đến 7 lần, con số ấy là hoàn hảo, chỉ ý nghĩa tượng trưng rằng người được lành hoàn toàn.
Đúng vậy cuộc gặp gỡ lần thứ hai với Đức Giêsu cho ta thấy rõ sự chữa lành thể xác chỉ là một dấu chỉ một sự chữa lành sâu xa hơn, cho phép từ nay anh “thấy” trong việc “tin”. Anh hỏi: “Ai là Con Người để tôi tin?”. Chúa Giêsu trả lời: “Anh đang thấy đấy, chính Ngài đang nói với anh”.
Dồn về một tuyên xưng đức tin.
Tất cả bắt đầu bằng cái nhìn của Đức Giêsu khi Ngài ra khỏi đền thờ. Ngài “thấy trên đường đi một người mù từ thuở mới sinh”. Theo niềm tin dân gian, bệnh hoạn là kết quả của tội lỗi, vì thế các môn đệ liền hỏi Ngài: “Thưa Thầy, tại sao người này mù từ lúc mới sinh? Tại tội lỗi của anh ta hay tội lỗi của cha mẹ của anh?” “Không phải do tội lỗi của anh ta, cũng không do của cha mẹ anh”, Đức Giêsu trả lời, nhưng nhờ sự dữ mà con người khốn khổ này đang chịu, “hành động của Thiên Chúa” được biểu lộ, và việc anh ta được tỏ ra như dấu chỉ “ánh sáng trần gian” nhờ dấu lạ buộc mỗi người phải có thái độ đối với anh ta.
Đức Giêsu lấy bùn trộn với nước miếng. Từ thế kỷ thứ II thánh Irênê de Lyon đã thấy trong cử chỉ của Đức Giêsu đắp mắt người mù, chính là sự hoàn thiện cử chỉ của Thiên Chúa đắp nên thân xác của Adam. Bôi bùn lên mắt người tàn tật, Đức Giêsu ra lệnh cho anh ta đứng dậy đi rửa mắt tại giếng Siloê” (Siloê có nghĩa là được sai đi). “người mù liền đi và rửa mắt, khi anh trở lại anh thấy được”. Phép lạ này được kể lại cách đơn sơ vỏn vẹn trong hai câu, vì thánh sử có ý dẫn ta từ dấu chỉ đến Đấng mà dấu chỉ mặc khải! Đấng được sai đến “.
Anh đã được lành. Đức Giêsu đã bỏ đi khỏi nơi xảy ra sự kiện. Từ nay anh chỉ một mình ở giữa cuộc tranh luận về việc anh đã được lành và về lai lịch của người đã chữa anh lành.
Trước hết là những “kẻ lân cận” và những người “quen” anh ta. Cái nhìn của họ chỉ ở trên bề mặt của biến cố. Họ sinh ra chia rẽ trên chính thực tế của việc được chữa lành (Người thì nói: phải chăng chính là người thường đứng ăn mày ở đó? Kẻ khác nói: chính anh ta, kẻ khác nữa lại bảo không phải anh ta, đó là kẻ giống anh ta thôi). Họ tỏ ra lưu ý đặc biệt đến việc “tại sao” được lành, và đến tung tích của người đã thực hiện: “và ông ta, ông ta đâu rồi?”.
Câu hỏi cuối cùng làm cho anh mù ngày xưa không biết trả lời sao: “Tôi không biết. A. Marchadour quảng diễn: Anh phải trải qua một hành trình dài trước khi khẳng định đức tin mình vào Đức Giêsu, đi từ dấu chỉ đến việc tiếp nhận Đức Giêsu, ánh sáng thế gian… Nhưng việc Đức Kitô đi qua trong đời của anh mù và giữa mọi người đã có một hậu quả chắc chắn là chia người ta ra làm hai phe: “những người chấp nhận dấu chỉ và những người từ chối Đức Giêsu” (Tin Mừng thánh Gioan, Centurin, 1992, trang 135).
Sau là những người “Pharisêu” với ánh mắt đầy vẻ nghi ngờ, vì việc làm trên diễn ra trong ngày Sabbat. Họ cũng hỏi. Họ cũng chia rẽ. Và người Pharisêu nói.: “Ông này không từ Thiên Chúa mà đến vì không giữ luật nghỉ ngày Sabbat”, kẻ khác đáp lại: “Làm sao người tội lỗi lại làm được những phép lạ như thế?”
Nực cười là chính anh mù lại trở thành một trọng tài: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh trả lời: “Là một tiên tri”.
Sau cùng là “cha mẹ ruột anh mù”. Người Do Thái đòi họ đến, họ xác nhận anh ta là con của họ thật, và mù từ thuở mới sinh. Nhưng né tránh để khỏi liên luỵ cuộc tranh cãi, họ đề nghị một cách giễu cợt: “Các ông hãy hỏi nó, nó đã đủ khôn lớn để trả lời”.
Đề cập đến nguy hiểm bị người Do Thái trục xuất khỏi hội đường, A. Marchadour viết: “Có lẽ thánh sử diễn dịch ra đây những nguy hiểm bị dứt phép thông công ở cuối thế kỷ thứ nhất đối với những ai tin vào Đức Giêsu. Thời Đức Giêsu chưa có chuyện này. Nhưng trên bình diện câu chuyện, sự tách biệt đối với người mù nói lên rằng, tin vào Đức Giêsu luôn luôn là một hành động cá nhân, trong đó cha mẹ đâu có thể định đoạt thay cho người môn đệ được. Sự chọn lựa này không phải không nguy hiểm vì có thể dẫn tới sự gẫy đổ với tôn giáo của anh ta? (O.C. trang 137).
Từ đó sự căng thẳng giữa người mừ xưa và người Pharisêu bị mù mắt bởi đam mê của họ lên đến tột độ. Họ đòi anh đến lần thứ hai và yêu cầu anh một lần nữa phải nói Đức Giêsu đã làm thế nào để mở mắt anh, anh bạo dạn đáp lại cách mỉa mai: “Sao các ông lại muốn nghe tôi nói lần nữa? Hay các ông cũng muốn làm Môn đệ của Ngài?”. Và việc hỏi cung thành dịp nguyền rủa. Anh tuyên bố với họ: “Nếu người này không từ Thiên Chúa mà đến thì không làm được chuyện gì đâu. Quá quắt lắm rồi, người Pharisêu đuổi anh ra ngoài và đứt phép thông công anh.
Đức Giêsu tái xuất hiện với một sáng kiến mới: “Biết họ đã trục xuất anh, Ngài liền giúp anh”. Và cuộc đối thoại với anh mù đã được lành, dẫn anh tới việc tuyên xưng đức tin và Đức Giêsu là “Con Người”: “Lạy Thầy con tin” anh tuyên xưng và “sấp mình xuống trước mặt Ngài “.
Marchadour giải thích: Đức Giêsu đã đưa anh qua một giai đoạn quyết định, từ một “Giêsu tiên tri” đến một Giêsu là Con Người”, Đấng Cứu Thế đưa anh vào cộng đồng của thời kỳ cuối cùng. Người mù sấp mình xuống trước con Người”, nhận ra thiên tính của Ngài, bởi vì theo thánh Gioan, sự thờ lạy chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa; và danh xưng Chúa (Seigneur) nói lên căn tính thần linh của Đức Giêsu. Nhận ra Đức Giêsu như là Đấng mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa việc thờ lạy Ngài là đỉnh cao của cuộc hành trình của anh mù” (O.C. trang 139).
Giai thoại được kết thúc với một lời tuyên bố của Đức Giêsu dưới hình thức một lời phán xét. Nó bộc lộ những gì diễn ra trong thầm kín của tâm hồn: “Tôi đến thế gian này để đặt lại vấn đề: cho những ai không thấy được thấy và ai thấy lại không được thấy”. Từ “để cho”, cha Guillet cắt nghĩa, ở đây không chỉ mục đích, nhưng là hậu quả.
Đối với mọi người, anh mù trước Đền thờ không có của cải: anh ăn xin, một người không quyền thế: anh mất hút trong đám người cùng khổ đến chung quanh nơi thánh, một người không hiểu biết: sinh ra mù, không không đọc được sách luật, người ta cho anh là suốt đời tội lỗi.
Nhưng thật ra con người này đã trải qua một hành trình tuyệt diệu, con đường từ tối tăm đến nhận ra “Đấng là ánh sáng”.
Về phần người Pharisêu, họ theo một hành trình ngược lại. Họ là những con người danh giá, những con người được coi như là điểm tựa của xã hội thời đó, họ cho họ “biết” và tưởng mình “thấy”, nhưng họ lại đi sâu vào trong sự mù tối (câu 15-18; 29,34). Họ tố cáo Đức Giêsu là “người tội lỗi và người mù thì trầm mình trong tội lổi từ lúc mới sinh”, họ “ở trong tội lỗi của mình. Lời tố cáo họ định gán cho Đức Giêsu, quay trở lại gán người đi kiện trở thành người bị cáo.
Potin kết luận; “Trong lúc người mù được thấy, người Do thái lại lao mình vào sự mù tối. Những dấu lạ Đức Giêsu làm cho họ thêm cứng lòng: Họ tưởng mình biết vì cho rằng mình biết Môsê và lúc Luật cấm chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thật ra họ từ chối ánh sáng thật. Với Đức Giêsu, thảm trạng này làm thành một trường hợp phải đặt thành “vấn đề” trong tiến trình ý định của Thiên Chúa, bởi lẽ những người không tin, người ngoại tìm thấy ánh sáng cho đức tin vào “Con Người”, trong lúc đó, những kẻ “thấy”, những người Do Thái lại trở nên mù tối, bị loá mắt vì những sự thật giả dối của họ. Đức Giêsu nói: “Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ (“Jésus, l’histoire vraie” Cent. 1994, trang 364)
BÀI ĐỌC THÊM:
Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta. (H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi” Déchée Brouwer, trang 123-124).
Dĩ nhiên người ta nói nhiều về Phép Rửa trong khi hướng về Phục Sinh. Đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà chúng ta gợi chuyện anh mù từ thuở mới sinh, nhờ vào câu chuyện rất sống động ấy, mà thánh Gioan đã viết cho chúng ta. Tại sao lại người mù từ thuở mới sinh? Vì đó là bước di của một tân tòng, là đường nhập môn của Phép Rửa. Trước hết phép Rửa là một sự toả sáng. Điều đó không có nghĩa là mọi người chịu phép rửa đều chìm trong trạng thái thiên cảm (illuminisme), cũng không phải là một hành động ma thuật, bởi vì người mù phải đi tới giếng Siloê. Nhưng điều đó có nghĩa là có một bước đường mầu nhiệm, từ tối tăm đến ánh sáng, từ một nhân loại còn đóng kín trong vô nghĩa và trong lầm lạc, tới một nhân loại mở ra đón ánh sáng Đức Giêsu, một nhân loại được đánh thức trước một sự sống viên mãn.
Nhưng chúng ta biết anh mù được chữa lành phải đối đầu vôi biết bao nhiêu là cản trở, cũng vì anh được lành. Người tín hữu mới cũng phải trải qua thử thách, nhất là khi so sánh đức tin mình với sự không tin hay dửng dưng của gia đình (đức tin không di truyền), hơn nữa còn phải đụng chạm với những thế lực khác biệt về chính kiến hay về tôn giáo, coi người chịu phép rửa là kẻ phải loại trừ hay đáng nghi ngờ (Phép rửa không lẫn lộn với sự thừa nhận của xã hội, quốc gia, chính trị hay tôn giáo).
Sau hết, đến ngày người mù được lành sẽ thừa nhận Đấng Cứu chuộc mình chứ không phải chỉ được lành mà thôi. Mọi Kitô hữu, mọi người chịu phép ngày nào đó cũng được mời gọi, rất sớm hay muộn màng hơn, sống một cuộc gặp gỡ có tính quyết định, bởi vì Đức Giêsu đã không tìm thấy họ đó sao? Ngày ấy các bạn sẽ hỏi: Ai là “Con Người”. Và Ngài sẽ trả lời bạn: “Chính tôi, người đang nói với anh đây. Lúc ấy sấp mình xuống, bạn sẽ nói: “Lạy Chúa, con tin”. Đó là ngày phục sinh của bạn.
Hãy chỗi dậy từ cõi chết,
Ngày đã bừng sáng,
Hãy thức dậy đi từ cõi chết.
Hãy toả sáng (cf. Eph 5,14).
———————————————————
CHÚA NHẬT Iv MÙA CHAY- NĂM A
ÁNH SÁNG CHO NGƯỜI MÙ– Lm. FX Vũ Phan Long, ofm
Ngữ cảnh
Bản văn đọc hôm nay thuộc về “Các công việc, các dấu lạ và các cuộc tranh luận của Đức Giêsu (dịp các đại lễ Do Thái)” (Ga 5,1–10,42) với bố cục như sau:
B (5,1-47) : Công việc Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, chữa người nằm liệt (vào một ngày sa-bát)
C (6,1-71) : Dấu lạ nuôi năm ngàn người ăn no do bánh hằng sống (trước lễ Vượt Qua)
D (7,1–8,59) : Đức Giêsu, nguồn nước hằng sống và ánh sáng cho trần gian (dịp lễ Lều)
D’(9,1-41) : Hành vi ban khả năng nhìn cho một người mù nhờ ánh sáng của trần gian (vào một ngày sa-bát)
C’ (10,1-21) : Các dụ ngôn về đàn chiên, cửa, việc trao ban mạng sống và người mục tử nhân lành
B’(10,22-42) : Các công việc và chân tính của Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (dịp lễ Cung hiến)
Việc chữa lành anh mù bẩm sinh được tác giả TM IV ghi nhận như là một trong những “dấu lạ” quan trọng “để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (20,31).
Tác giả trung thành với cách viết của ngài: trình bày biến cố (= bình diện thực hành) và diễn từ giải nghĩa (= bình diện nhận thức). Phân tích kỹ hơn, ta thấy truyện được trình bày như một phiên tòa xử Đức Giêsu xuyên qua những cuộc gặp gỡ của anh mù với nhiều hạng người, để rồi cuối cùng lại chính Đức Giêsu là người đứng ra kết án. Tấn bi kịch đã được báo trước trong hai chương 7 và 8. Khi các thuộc hạ trở về mà không bắt Đức Giêsu, các thượng tế và người Pharisêu đã kêu lên: “Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa” (7,49). Đấy là như tiền đề cho việc họ nổi giận với người mù, vì anh ta “sinh ra trong tội”, mà lại dám lên mặt sửa dạy các “môn đệ của ông Môsê” (9,28-34). Câu truyện người đàn bà ngoại tình là một lý do thứ hai, bởi vì trong sự cố này, cũng vẫn là Đức Giêsu đã “tước vũ khí” của họ khi nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (8,7). Rồi sau đó là những câu nói đầy thách thức: 8,21.24.35-44.46.
Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
-Đức Giêsu và các môn đệ đối diện với anh mù (9,1-5);
-Đức Giêsu chữa lành anh mù (9,6-7);
-Cuộc xử án (9,8-33):
+Láng giềng anh mù (9,8-12),
+Người Pharisêu (9,13-17),
+Cha mẹ anh mù (9,18-23),
-Người Pharisêu (9,24-34a);
-Tuyên án (9,34b-41):
+Anh mù bị người Pharisêu tống ra ngoài (9,34b),
+Anh mù được Đức Giêsu đón tiếp và anh tin nhận Người (9,35-38),
+Đức Giêsu kết án người Pharisêu (9,39-41).
Chúng ta có thể nhận ra bảy cuộc gặp gỡ trong truyện này:
-Đức Giêsu và anh mù (chữa mắt: c. 6);
-Anh mù và láng giềng (c. 8);
-Anh mù và người Pharisêu (c. 13);
-Anh mù và người Do Thái và cha mẹ (c. 18);
-Anh mù và người Do Thái (c. 24);
-Đức Giêsu và anh mù (tin: c. 35);
-Đức Giêsu và người Pharisêu (c. 40).
Vài điểm chú giải
– ai đã phạm tội (2): Mặc dù có sách Gióp, lý thuyết cổ truyền vẫn tồn tại: người ta nghĩ rằng có một quan hệ nhân quả trực tiếp giữa tội và bệnh tật. Về trường hợp một em bé mới sinh đã mắc bệnh tật, xem Xh 20,5.
– như vậy là để công trình của Thiên Chúa nơi anh được tỏ hiện (3): Các kinh sư nói đến việc Thiên Chúa ban cho loài người “những hình phạt tình yêu”, nghĩa là những sửa dạy mà nếu người ta quảng đại chấp nhận, sẽ đưa đến cho họ đời sống dài lâu và những phần thưởng. Nhưng hình như tư tưởng của Đức Giêsu ở đây hoăc ở Ga 11,4 không phải là như thế; Đức Giêsu lại cho thấy rằng Thiên Chúa vận hành lịch sử để tôn vinh Danh Người. Chúng ta có một ví dụ rõ ràng ở Xh 9,16, được trích dẫn trong Rm 9,17.
– Thầy là ánh sáng cho trần gian (5): Rất có thể lời này được rút từ Is 49,6, trong đó Người Tôi Trung của Đức Chúa được mô tả như là một ánh sáng cho muôn dân. Chính là trong dịp Lễ Lều mà Đức Giêsu đã tuyên bố lần đầu: “Chính tôi là ánh sáng cho trần gian” (8,12).
– nhổ nước miếng (6): Chỉ có Ga và Mc (7,33; 8,23) ghi lại rằng Đức Giêsu nhổ nước miếng. Người xưa coi nước miếng như là một thứ thuốc chữa mắt và cả những phần khác trên thân thể (Tacite, Historiae IV, 81). Dường như sức chữa bệnh của nước miếng sẽ gia tăng nếu trộn với đất hay đất sét. Đức Giêsu đã làm cử chỉ nhổ nước miếng mà trộn bùn không phải vì các thứ này cần để có thể làm phép lạ, nhưng là để “gây chuyện” với người Pharisêu.
– hồ Silôác (7): Hôm nay, ta còn thấy cái hồ này ở phía đông nam Giêrusalem, ở cuối thung lũng Tyrôpêôn. Con suối Gihôn đã cung cấp nước cho hồ này nhờ con kênh vua Xítkigia (Ézéchias) đã cho đào trong đá (x. 2 V 20,20; 2 Sb 32,30; Hc 48,17). Silôác có nghĩa là “người sai phái” (= người gửi [nước]). Tác giả Ga ghi nhận tên này, nhưng lại dịch như mộttừ ngữ ở thụ động cách: “Silôác có nghĩa là: người được sai phái” (c. 7). Rõ ràng ngài dùng từ ngữ như một biểu tượng. Trong TM IV, hơn 40 lần Đức Giêsu được gọi là “Đấng được sai phái”, và Người cũng vừa nói với các môn đệ là Người phải “thực hiện công trình của Đấng đã sai phái Thầy” (c. 4). Vậy tác giả muốn nói rằng hồ Silôác, cũng như Đền Thờ, như lễ Vượt Qua, như ngày sa-bát, như mọi sự trong Israel, đều được quy hướng về Đức Giêsu và rút ra từ Người ý nghĩa vĩnh viễn và chân thật. Chính tên của cái hồ loan báo rằng Đấng Mêsia sẽ đến múc nước và thông ban cho nước hồ một sức mạnh thần linh.
Ngoài ra cái hồ này còn có một ý nghĩa thiêng liêng. Ngôn sứ Is (8,6) đã coi cái hồ có dòng nước chảy êm ả này như một biểu tượng về đời sống an bình của Israel dưới sự che chở của Thiên Chúa. Nhưng vị ngôn sứ cũng nhân danh Đức Chúa mà than thở rằng “dân này khinh dể nước mương Silôác chảy lững lờ”. Có lẽ tác giả coi sự từ khước này như một lời loan báo sự cứng lòng của người Do Thái thời Đức Giêsu.
Ngoài ra, nước hồ còn được dùng trong Lễ Lều. Mỗi ngày trong tuần Lễ Lều, người ta đi rước xuống hồ. Một tư tế long trọng múc nước, rồi đi rước lên Đền Thờ. Vị tư tế ấy vừa đổ nước trên bàn thờ vừa đọc những lời kinh theo nghi thức: họ xin Thiên Chúa ban mưa xuống cho mùa sắp tới; họ đọc những bài đọc Kinh Thánh tưởng niệm phép lạ nước vọt ra từ tảng đá trong sa mạc và loan báo việc canh tân thiêng liêng Sion vào thời Đấng Mêsia. Nhiều liên hệ giữa truyện anh mù và những biến cố dịp Lễ Lều trong TM IV (ch. 7 và 8) mời ta đọc phép lạ này dưới ánh sáng của lễ nghi Lễ Lều. Điều này càng có lý khi ta biết rằng lễ nước, Lễ Lều cũng là lễ ánh sáng. Mỗi buổi chiều, người ta đốt đèn đuốc trong Đền Thờ. Và ngôn sứ Dacaria đã mô tả Ngày của Đức Chúa như là mở đầu cho việc muôn dân cử hành Lễ Lều thật hùng vĩ (x. Dcr 14,7). Đây là khung cảnh rất phù hợp với lời tuyên bố của Đức Giêsu: “Tôi là ánh sáng cho trần gian” và với “dấu lạ” anh mù: có lễ ánh sáng, có việc rưới nước hồ Silôác và có những niềm hy vọng vào Đấng Mêsia.
Những dây liên hệ này soi sáng cho thấy ý nghĩa của biểu tượng “Đức Giêsu-Ánh-sáng-cho-trần-gian”, cũng như “dấu lạ” diễn tả biểu tượng này. Những phúc lành và việc tuôn đổ Thánh Thần, được tượng trưng trong dịp Lễ Lều bằng nước Silôác, sẽ được Đức Giêsu ban cho trần gian: trong tay Người, “nước mương Silôác chảy lững lờ” sẽ chan hòa ánh sáng và sức sống.
– những người Pharisêu (13): Những người phỏng vấn được gọi là Pharisêu trong cc. 13.15.16 (cả c. 40); ở cc. 18 và 22, thì được gọi là “người Do Thái”, là từ ngữ quen thuộc hơn với Ga.
– vì không giữ ngày sa-bát (16): Trong TM IV, từ ngữ sabbaton được dùng 13 lần (Ga 5,9.10.16.18; 7,22.23[2x]; 9,14.16; 19,31[2x]; 20,1.19). Những bản văn quan trọng nhất là các tranh luận về ngày sa-bát trong Ga 5,1-18; 7,19-24 và 9,14-16. Về việc chữa người mù, có những nhận định sau: Thứ nhất, bởi vì mạng sống của anh mù không bị đe dọa, lẽ ra Đức Giêsu nên chờ đến một ngày khác mà chữa anh. Thứ hai, trong số ba mươi chín việc bị cấm làm trong ngày sa-bát (Mishna, Shabbath 7,2), có việc nhào trộn bột. Thứ ba, thể theo truyền thống sau này của Do Thái giáo (TalBab, Abodah Zarah 28b), có một ý kiến nói rằng không được phép xức dầu vào mắt ngày sa-bát. Thứ tư, truyền thống (TalJer, Shabbath 14d và 17f) cũng cấm nhổ nước miếng lên mắt ngày sa-bát.
– một vị ngôn sứ (17): Hai vị ngôn sứ nổi tiếng với việc làm phép lạ chữa bệnh là Êlia và Êlisa (x. cả Is 38,21). Có lẽ anh này đang nghĩ đến việc ngôn sứ Êlisa bảo Naaman đi tắm trong sông Giođan. Ít ra có lẽ anh mù tin rằng Đức Giêsu có quyền lực thần linh và “ngôn sứ” là hạng người như thế.
– trục xuất khỏi hội đường (22): Dịch sát câu 22 là: “… kẻ nào tuyên xưng Người là Đấng Kitô, sẽ trở thành người-bị-trục-xuất-khỏi-hội-đường (aposynagôgos, do apo và synagôgê)”. Có lẽ tác giả đang nghĩ đến việc giới chức Do Thái loại các Kitô hữu gốc Do Thái khỏi hội đường (= dứt phép thông công) vào cuối thế kỷ I, sau khi Đền Thờ bị phá hủy.
– Chúng ta (24): Nicôđêmô đã dùng chủ ngữ này (3,2) để nói về uy tín của người Do Thái có học thức.
– Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa (24): Đây là một công thức để thề trước khi làm chứng hoặc thú nhận một lỗi lầm (x. Gs 7,19). Nhưng cũng rất có thể tác giả muốn chơi chữ, bởi vì anh mù sẽ tôn vinh Thiên Chúa.
– Thiên Chúa đã nói với ông Môsê (29): Xem Xh 33,11; Ds 12,2-8.
– Chúng ta biết (30): Anh mù dùng chủ ngữ “chúng ta” của người Pharisêu (c. 24), y như Đức Giêsu ở 3,11 đã lấy lại chủ ngữ “chúng ta/tôi” của Nicôđêmô. Rõ ràng những đoạn này được dùng trong những cuộc bút chiến giữa người Do Thái và các Kitô hữu.
– Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi (31): Đây là một nguyên tắc Kinh Thánh quen thuộc (x. Is 1,15; 1 Ga 3,21).
– họ tống anh ra ngoài (34): Đây không phải là một việc dứt phép thông công đúng nghĩa, nhưng chỉ là việc đuổi anh cho khuất mắt họ.
– Khi gặp lại anh (35): Hành vi này ngược lại với hành vi của người Pharisêu khi đuổi anh ra ngoài, và minh họa cho lời hứa của Đức Giêsu ở 6,37: “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài”.
Ý nghĩa của bản văn
Trong TM IV, truyện anh mù được chữa lành có một vị trí trung tâm. Truyện này giống như một tổng hợp về sứ mạng làm ánh sáng của Đức Giêsu trong thế gian và về cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối xảy ra giữa Đức Giêsu và người Do Thái. Bản văn đã được trình bày như một cuộc xử án, nhưng Đức Giêsu không trực tiếp đối đầu với các đối thủ. Bản án của Người chỉ được xác định qua việc kết án anh mù; Đức Giêsu chỉ xuất hiện lúc đầu để thực hiện “dấu lạ” và xác định ý nghĩa của “dấu lạ”, rồi xuất hiện ở cuối để uy nghi công bố bản án.
* Đức Giêsu và các môn đệ đối diện với anh mù (1-5)
Không ai xin Đức Giêsu chữa cho anh mù: chính Người bột phát chữa lành anh (9,1-7). Nghĩ đến số phận đáng thương của anh mù, các môn đệ nại đến một luận điểm quen thuộc trong dân Do Thái: Tại sao anh bị như thế? Do lỗi của ai? Các ông tìm cách quy kết trách nhiệm. Các ông nghĩ đến một lỗi chống lại Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu loại bỏ lối suy luận này. Sau này bản văn sẽ cho thấy tội lỗi thật chống lại Thiên Chúa là tội lỗi gì và nó đưa đến sự đui mù nào. Còn đối với người mù bẩm sinh, Đức Giêsu không nhìn lại đàng sau, Người nhìn tới trước: nhờ anh, Người có thể tỏ mình ra rõ ràng là ánh sáng thế gian. Cho ai đang ngạc nhiên về sự thiếu may mắn của anh mù, lòng thương xót và quyền lực của Thiên Chúa lại được tỏ lộ. Như thế, Đức Giêsu cho thấy ý nghĩa của những việc Người làm.
* Đức Giêsu chữa lành anh mù (6-7)
Khác với những hành vi quyền lực khác của Người, ở đây Đức Giêsu không chỉ hành động bằng lời nói của Người. Tác giả mô tả chi tiết những gì Người làm cho anh mù (9,6.11.14.15). Và cả anh này cũng phải làm một việc: Tin vào lời Đức Giêsu, anh đi đến hồ nước rửa mắt và thấy được. “Silôác có nghĩa là: người được sai phái” (c. 7): Đức Giêsu chính là Đấng được Chúa Cha sai phái; chính là nước của Người, thứ nước đã hứa ban cho người phụ nữ Samari, mới chữa khỏi đui mù. Đức Giêsu không có mặt trong bốn cuộc gặp gỡ sau đó, nhưng tất cả đều xoay quanh những gì Người đã làm cho anh mù và về tương quan của Người với Thiên Chúa. Chính là qua các cuộc tranh luận này mà người lành bệnh được dẫn từng bước một đến chỗ thấy ai là người đã chữa lành anh. Các con mắt mà Đức Giêsu đã mở cho anh để anh thấy ánh nắng mặt trời, bây giờ lại mở ra để thấy “ánh sáng cho trần gian”.
* Cuộc xử án (8-34a)
Trong cuộc gặp gỡ với những người láng giềng (cc. 8-12), có một toan tính đầu tiên là giữ khoảng cách với sự thật quá hiển nhiên về cuộc chữa lành và tránh lấy lập trường đối với chuyện này. Người ta nghi ngờ về căn cước của người được chữa lành: không chắc chắn kẻ đang thấy đây là người mù từ lúc mới sinh lâu nay vẫn phải sống bằng việc hành khất, mà ai cũng biết. Tuy nhiên, anh khẳng định căn cước của anh và nói rõ ràng về những gì Đức Giêsu đã làm cho anh.
Khi ra trình diện người Pharisêu, anh lại phải mô tả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh và cách thức anh lại thấy được (cc. 13-17). Họ tỏ ra khó chịu vì Đức Giêsu đã làm việc ấy trong ngày sa-bát, và thế là nêu lên câu hỏi, từ bây giờ sẽ là vấn đề nổi bật, về tương quan của Người với Thiên Chúa. Có những người coi quan niệm của họ về ngày sa-bát là tiêu chuẩn đánh giá duy nhất, nên cho rằng Đức Giêsu không thể đến từ Thiên Chúa. Những người khác nhìn nhận rằng việc chữa lành này là đặc biệt và không thể cho rằng Đức Giêsu là một người tội lỗi. Bây giờ chính người được lành cũng bị buộc phải lấy lập trường: anh nhìn nhận Đức Giêsu là một ngôn sứ, một người được Thiên Chúa sai phái.
Mẩu đối thoại giữa người Do Thái và cha mẹ anh (cc. 18-23) đưa vào một toan tính khác nhằm giữ khoảng cách đối với sự thật. Bây giờ người ta nghi ngờ về tình trạng mù lòa trước đây của anh. Cha mẹ anh công nhận căn cước của anh và tình trạng mù lòa của anh từ khi mới chào đời, nhưng không muốn biết gì về việc chữa lành. Họ cúi đầu sợ hãi trước áp lực của quyền bính. Họ không muốn bị cô lập về mặt xã hội; do đó họ nhắm mắt lại trước ánh sáng.
Cuộc đối diện thứ hai của anh được lành với người Pharisêu (cc. 24-34a) đã phân rẽ các tâm trí. Sau khi mọi lý do đã bị loại bỏ và việc chữa lành đã được xác nhận, người ta không thể tránh khỏi việc lấy lập trường đối với người đã làm việc này. Người Pharisêu chỉ quan tâm tới “cách thức” chữa lành (x. cc. 15.19.26). Và bởi vì cách thức này vi phạm quan niệm của họ về ngày sa-bát, họ biết chắc chắn rằng Đức Giêsu là một kẻ tội lỗi. Lỗi mà Đức Giêsu đã phạm không phải là một lệnh truyền cho người được chữa lành, nhưng là hành động chính Người đã làm: “nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù” vào ngày sa-bát (c. 6). Một trường hợp như thế đã được minh nhiên tranh luận trong sách Talmud Babylon (x. Strack-Billerbeck II 533t). Thật ra, các kinh sư cho phép, trong ngày sa-bát, được chữa con mắt bị bệnh trong trường hợp cấp tính, chứ không cho phép trong trường hợp mãn tính, như trường hợp anh mù bẩm sinh này. Ở đây “sự kiện” là việc chữa lành đã thực sự xảy ra không hề có tầm quan trọng nào đối với người Pharisêu. Nhưng đây lại chính là điểm mà anh mù bám vững, nhất định không nao núng (x. cc. 25.30.32). Khởi đi từ hành vi Đức Giêsu đã làm, anh nhận ra càng lúc càng rõ tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Đối lại với sự hiểu biết mà người Pharisêu cho rằng họ có về Đức Giêsu (cc. 24.29), anh đề ra sự hiểu biết của anh về Thiên Chúa, mà cả người Pharisêu cũng phải công nhận: “Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy” (c. 31). Do không chấp nhận Đức Giêsu, người Pharisêu cứ thắc mắc, nên đã phải nghe giọng mỉa mai của anh mù: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không nghe. Tại sao các ông lại còn muốn nghe nữa? Chẳng lẽ các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy sao?” (c. 27). Từ hành vi phi thường Đức Giêsu đã làm và từ sự hiểu biết này về Thiên Chúa, anh rút ra hệ luận là Đức Giêsu không phải là một kẻ tội lỗi, nhưng là một người làm theo ý muốn của Thiên Chúa và đến từ Thiên Chúa.
Ở đây, chúng ta có một ví dụ tiêu biểu về thái độ tích cực và tiêu cực khi đứng trước một hành vi quyền lực Đức Giêsu đã thực hiện. Anh mù được lành không chỉ xử sự như một người sung sướng vì có thể thấy và không quan tâm gì đến người đã chữa anh lành. Ngược lại, đối với anh, việc chữa lành thật sự đã trở thành một dấu chỉ đưa anh đến chỗ nhận biết dây liên kết giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu. Người Pharisêu vẫn ở lại trong thái độ không muốn thấy và cứng lòng lại trong việc từ khước Đức Giêsu. Đối với những sự kiện cụ thể được anh mù nêu ra, họ chỉ có thể chống lại bằng cử chỉ bạo lực là tống anh ra ngoài. Tình thế của họ có nét mỉa mai đầy kịch tính (x. cc. 24 và 40): Trong c. 24, khi mời anh mù nói lên sự thật dưới cái nhìn của Thiên Chúa (“Hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây biết rằng ông ấy là kẻ tội lỗi”), người Pharisêu hẳn lại phải bảo vệ điều ngược lại với những gì họ biết: chữa lành một người mù không phải là dấu chỉ tội lỗi. Trong c. 40 (“Cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”), họ phải thú nhận cách bi đát điều hiển nhiên: loại trừ kẻ đã chữa người mù chứng tỏ chính họ đang mù.
* Tuyên án (34b-41)
Cuộc gặp gỡ thứ hai giữa anh được lành và Đức Giêsu (cc. 35-38) xảy ra lần nữa vẫn do sáng kiến của Người. Đức Giêsu quan tâm đến người đã bị tống ra ngoài và giúp anh có thể thấy thêm nữa, bằng cách đưa anh đến chỗ tin vào Con Thiên Chúa. Nhờ cuộc tranh luận trước đó, càng ngày anh càng đến gần Đức Giêsu hơn và ngày càng mở ra hơn với tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Bây giờ Người tự mạc khải ra cho anh là người bị loại trừ biết Người là Con Thiên Chúa nhập thể, Người không đến thế gian trong ánh vinh quang huy hoàng, nhưng trong tình trạng đơn giản của thân phận con người và đi đến chỗ sẽ được giương cao trên thập giá (3,14; 6,35; 12,23.34). Anh mù được lành đã tin và quỳ xuống trước mặt Người, tức là làm một cử chỉ thờ phượng Thiên Chúa. Anh đã có thể thấy trọn vẹn phẩm cách và tầm quan trọng của Đức Giêsu. Khi chữa lành anh và hướng dẫn anh, Đức Giêsu đã ngày càng trở thành ánh sáng cho anh.
Cuối cùng, xảy ra cuộc đối đầu giữa Đức Giêsu và người Pharisêu (cc. 39-41). Các ông này đã phản ứng lại với một khẳng định của Người về một phương diện quan trọng trong sứ mạng của Người: Người đã đến để cứu độ thế giới (3,17; 12,47); Người ở trong thế gian như là ánh sáng ban sự sống. Do Đức Giêsu không xuất hiện với một quyền lực to lớn, sự hiện diện của Người làm cho loài người chia rẽ nhau. Có những người đón nhận Người và chấp nhận sự trợ giúp của Người, được Người mở mắt và đi đến chỗ nhận biết thực tại trọn vẹn. Có những người khác lại loại trừ Người, nghĩ rằng họ đã biết mọi sự không cần Người và thế là họ thành đui mù thật sự. Khi mà thực tại đã trở nên ngày càng thấy rõ được, sự đui mù của những người ấy càng trầm trọng. Người Pharisêu muốn biết phải chăng điều này cũng đúng đối với họ. Họ đã xác định Đức Giêsu là một “kẻ tội lỗi” (9,24); bây giờ lại chính là Người đang mô tả lối xử sự của họ, mà gọi là “tội lỗi”, là thiếu sót đối với Thiên Chúa.
+ Kết luận
Đức Giêsu là ánh sáng cho trần gian trong tư cách là bao lâu Người còn ở trần gian, Người thực hiện những việc Chúa Cha giao phó cho Người (9,4-5). Người không phải là một ánh sáng được áp đặt cho bất cứ ai không phân biệt. Điều ghi nhận được với người mù từ thuở mới sinh là nhờ Người, có những người trở thành thấy được và có những người lại trở nên đui mù (c. 39). Qua bảy cuộc gặp gỡ, trong đó Đức Giêsu chỉ có mặt ở lần đầu và hai lần cuối, ta thấy diễn ra một tình huống đầy kịch tính và phong phú hậu quả. Từ việc chữa lành anh mù, từ những cuộc tranh luận với những người xung quanh Đức Giêsu và từ lời mạc khải về Đức Giêsu, người mù được dẫn đến chỗ thấy được hoàn toàn, tin và thờ phượng Đức Giêsu. Các đối thủ chỉ thấy Đức Giêsu là một người tội lỗi, đã vi phạm Lề Luật và chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Những gì Đức Giêsu đã làm và qua đó lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa được tỏ bày ra, đối với họ, lại là một công trình chống lại Thiên Chúa. Ánh sáng làm cho người ta thấy Thiên Chúa, thấy Đấng Thiên Chúa sai phái và lễ dâng của Đấng ấy để cứu độ thế giới, lại làm cho mọi sự ra tối tăm đối với họ. Chỉ ai mở ra, ai chấp nhận được giáo huấn và hướng dẫn, mới có thể gặp Đức Giêsu và nhận được ánh sáng ban ơn cứu độ.
Như thế, chẳng phải là anh mù bẩm sinh hay cha mẹ anh ta là những người tội lỗi (x. c. 2t), nhưng những kẻ từ chối tin Đức Giêsu mới có tội (c. 40t). Một lần nữa, TM IV vượt xa hơn những tranh luận halakha[1] liên hệ đến luật sa-bát, để đưa độc giả đến chỗ chọn đứng về phía Đức Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến, hay là chống lại Người.
Gợi ý suy niệm
-Hôm nay chúng ta có thể tự hỏi về thái độ của chúng ta khi đứng trước đau khổ của người khác. Chúng ta có tự hỏi là vì sao và do đâu mà có đau khổ này, hoặc mục đích của nỗi đau khổ này là gì chăng? Nhất là chúng ta có biết nhìn sự đau khổ của người khác như Đức Giêsu đã nhìn chăng? Không nên kết luận rằng những người phải khốn khổ là nạn nhân của một số phận mù quáng. Một Kitô hữu chân chính không được nghĩ rằng Thiên Chúa trừng phạt người ta. Sớm hay muộn, Thiên Chúa sẽ làm rạng tỏ nơi họ quyền năng và lòng thương xót của Ngài (x. Rm 8,28).
-Con đường anh mù đã rảo qua cho chúng ta hiểu cách thức Đức Giêsu hành động trong tư cách là “ánh sáng cho trần gian”. Người không chỉ hiện diện trên mặt đất, Người còn đi gặp loài người, chữa lành họ và dẫn họ đi tới, để họ thấy càng ngày càng rõ hơn là Người từ đâu đến và Người là ai. Dù sao, chúng ta cũng biết rằng không phải chính chúng ta sẽ bảo cho Đức Giêsu biết phải sống thế nào và phải làm gì. Chúng ta cần phải để cho Người chỉ cho biết Người là ai và Người muốn mang đến cho chúng ta điều gì.
-Anh mù đã càng lúc càng hiểu rõ hơn việc anh được lành. Hôm nay tôi có thể tìm hiểu xem kinh nghiệm nào đã là khởi điểm để tôi hiểu Đức Giêsu ngày càng sâu xa hơn. Cần phải nhớ lại kinh nghiệm anh mù đã trải qua. Vì nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai phái, anh bị tống ra ngoài cộng đoàn; người ta đuổi anh như đuổi một kẻ tội lỗi. Cả cha mẹ anh cũng từ chối bảo vệ anh. Khi đó, niềm tin đưa đến hậu quả là sự cô đơn. Phải vượt lên trên nỗi sợ hãi, sự cả nể, mối bận tâm đến ý kiến của người đời, để có thể sống độc lập, và đi đến tự do chân chính.
-Con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối. Con người có khả năng tự làm mình ra đui mù, đưa ra những lý do để khỏi thấy, tạo ra cho mình những xác tín giả trá, từ chối mở mắt ra, mà lại nói là mình “đang thấy”. Ánh sáng rất đòi hỏi: nó bắt ta xét lại nhiều chuyện, từ bỏ nhiều thói quen, đôi khi phải đoạn tuyệt với cả một môi trường. Bị đui mù mà biết nhìn nhận mình thiếu ánh sáng và không thấy, thì không phải là một tội; nhưng tự hào là mình biết tất cả về Thiên Chúa và về thế giới và từ chối ánh sáng đến từ Thiên Chúa, điều này đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, nên là một tội.
[1] Midrash halakha là những lời giải thích các bản văn Kinh Thánh liên quan đến các bản văn luật pháp. Các Rabbi giải thích các khoản Luật ghi chép trong Kinh Thánh để dân chúng có thể áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Mỗi thời đại có hoàn cảnh sống khác nhau, vì thế các khoản luật cần được giải thích và thích nghi với hoàn cảnh mới.
———————————————————–
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY – NĂM A
DẤU LẠ (*) – Chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Chúa Nhật IV Mùa Chay này giúp chúng ta hiểu bí tích Thánh Tẩy, mà các tân tòng chuẩn bị để lãnh nhận vào lễ Đêm Vọng Phục Sinh.
1Sm 16: 1, 6-7, 10-13
Bài Đọc I thuật lại việc Đa-vít được tuyển chọn và được xức dầu phong vương thay thế cho vua Sa-un, vị vua tiên khởi của dân Ít-ra-en, vì tội bất trung. Từ đây, vua Đa-vít là người được Chúa chọn, mặc một tính chất thánh thiêng và tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Vua Đa-vít là hình ảnh của Đức Ki-tô, Đa-vít của thời đại mới.
Ep 5: 8-14
Trong Thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô khuyên những Kitô hữu sống sao cho phù hợp với cách ăn nếp ở của “con cái ánh sáng”.
Ga 9: 1-41
Tin Mừng Gioan tường thuật việc người mù từ thuở mới sinh được sáng mắt. Bài trình thuật nầy thuộc giáo lý bí tích Thánh Tẩy, vì người mù, sau khi rửa trong hồ Si-lô-ác, mắt liền được mở ra đón nhận ánh sáng, anh là tiền thân của người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Trong ánh sáng của đức tin, người Ki-tô hữu thấy và hiểu được những mầu nhiệm mà người khác không thể thấy và hiểu được.
BÀI ĐỌC I (1Sm 16: 1, 6-7, 10-13)
Bản văn nầy đưa chúng ta trở về những năm tháng đầu tiên của thể chế vương quyền Ít-ra-en (1020-1010 BC). Sau một thời gian dài do dự (không phải Đức Chúa là vị vua duy nhất của dân Ít-ra-en đó sao?) và vì những hoàn cảnh đòi buộc, dân Ít-ra-en thử nghiệm thể chế quân chủ. Kinh nghiệm đầu tiên nầy không thuận buồm xuôi gió: vì vua Sa-un bất tuân, Thiên Chúa đã quyết định truất phế vua. Ông Sa-mu-en, người của Đức Chúa, lại nhận sứ mạng đi tìm kiếm một vị vua mới.
Cách thức tuyển chọn lạ lùng của Thiên Chúa:
Câu chuyện xảy ra ở Bê-lem. Tình tiết của câu chuyện mặc khải cách đặc biệt cách thức Thiên Chúa chọn lựa những tôi trung ưu ái của Ngài: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng”. Quả thật, Bê-lem là một vùng quê nhỏ bé không tên tuổi đến nổi ngôn sứ Mi-kha nói “ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa” (Mk 5: 1); hơn nữa, Đa-vít là con út trong gia đình đông con của ông Gie-sê.
Sự chọn lựa của Thiên Chúa luôn luôn gây kinh ngạc. Để bày tỏ niềm ưu ái đối với những kẻ bé mọn và khiêm hạ, Ngài chọn người con út hơn là con cả. Xưa kia, Thiên Chúa đã chọn ông Ghít-on để giải phóng Ít-ra-en khỏi sự áp bức của người Ma-đi-an. Ấy vậy, ông là cậu con trai út trong gia đình thuộc bộ tộc “nhỏ bé nhất ở Mơ-na-se”. Ông Mô-sê cũng được nhìn nhận là “người khiêm tốn nhất trong số con cái loài người”. Lịch sử đã cho chúng ta biết bao ví dụ như thế.
Đa-vít, cậu bé chăn chiên:
Vua Đa-vít xuất thân từ một cậu bé chăn của miền Bê-lêm nhỏ bé nghèo hèn, nơi mà ngàn năm sau đó Đức Giê-su sẽ chào đời. Sự kiện Đấng Mê-si-a giáng sinh ở nơi hẻo lánh nầy sẽ là một trong những dấu hiệu về Đấng Mê-si-a thuộc “dòng dõi Đa-vít”. Những người chăn chiên Bê-lem sẽ là những người đầu tiên đến thờ lạy Ấu Chúa Giê-su.
Khung cảnh phong vương Đa-vít:
Khi đến Bê-lem, ngôn sứ Sa-mu-en hiến tế một con bò cái tơ lên Đức Chúa để “thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ” (1Sm 16: 5b). Trước khi ngồi vào bàn, ngôn sứ Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: “Chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi Đa-vít tới đây”. Vị ngôn sứ đã hiểu rằng chính cậu út Đa-vít là người Thiên Chúa chọn. Chính trong bữa ăn thánh thiêng nầy mà Đa-vít được xức dầu phong vương.
Xức dầu phong vương.
Xức dầu là nghi thức thánh hiến, thường nhất là nghi thức phong vương. Được người của Thiên Chúa xức dầu tấn phong, vị tân vương trở thành một con người thánh thiêng. Dầu tăng sức mạnh thân thể là biểu tượng sức mạnh của Thiên Chúa, thần lực nầy đến ở với vua: “vua đầy tràn Thần Khí Thiên Chúa”. Thuật ngữ “Đấng được xức dầu” theo tiếng Do thái là “Đấng Mê-si-a” và được dịch sang tiếng Hy lạp là “Đấng Ki-tô” (“Christos”). Như vậy, những lời loan báo về Đấng Cứu Thế trước hết là Đấng Mê-si-a vương đế.
Có một truyền thống khác liên quan đến việc phong vương Đa-vít. Đa-vít trung thành phục vụ vua Sa-un và đã đạt được uy tín lẫy lừng nhờ chiến công cũng như nhờ nhân cách của ông. Sau khi vua Sa-un tử trận, Đa-vít được tấn phong làm vua tại Khép-rôn (x. 2Sm 2: 4; 5: 1-4). Truyền thống thứ hai nầy có tính lịch sử hơn trong khi truyền thống thứ nhất (1Sm 16) có tính thần học hơn: nhấn mạnh chính Đức Chúa chọn Đa-vít làm vua.
BÀI ĐỌC II (Ep 5: 8-14)
Thánh Phao-lô viết thư gởi tín hữu Ê-phê-xô từ Rô-ma, trong cảnh lao tù, giữa những năm 61-63. Thư này được gởi đến các cộng đoàn Kitô hữu miền Tiểu Á, chủ yếu là những Kitô hữu gốc lương dân. Bức thư gồm hai phần: trong phần thứ nhất thuộc đạo lý (1: 3-3: 21), thánh Phao-lô giải thích mầu nhiệm cứu độ phổ quát được ban cho dân Do thái cũng như dân ngoại ở nơi Đức Kitô. Trong phần thứ hai thuộc luân lý (4: 1-6: 20), thánh nhân khuyên các tín hữu sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai này.
Thánh nhân vừa mới nêu lên nhiều chủ đề khác nhau và nhiều hình ảnh đa dạng, rất quen thuộc với khoa giáo lý bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, như là “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát… và phải mặc lấy con người mới, đó là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Ở đây, thánh nhân tập trung sự chú ý vào chủ đề ánh sáng.
Người Kitô hữu là ánh sáng:
“Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ, nhờ kết hợp với Chúa, anh em lại là ánh sáng”. Ở nơi câu này, bí tích Thánh Tẩy được mặc nhiên đề cập đến. Bí tích Thánh Tẩy được gọi là “ơn thần khải”, người chịu phép Thánh Tẩy là “người được ơn thần khải” và giếng Thánh Tẩy được gọi rất ý nghĩa: “nơi lãnh nhận ơn thần khải”. Ngược lại là bóng tối. Việc đối lập ánh sáng và bóng tối, một chủ đề Kinh Thánh rất xưa và rất phổ biến như gặp thấy trong những bản văn của cộng đoàn Qum-rân, được thánh Phao-lô và đặc biệt thánh Gioan lấy lại.
Qua cặp tương phản ánh sáng và bóng tối nầy, thánh Phao-lô kêu gọi những Kitô hữu gốc lương dân ý thức rằng cuộc sống của họ đã được biến đổi sâu xa biết bao, họ đã trở nên khác biệt biết mấy; vì thế, cuộc sống của họ phải làm chứng điều nầy: “Hãy vạch trần những công việc của bóng tối”. Chắc chắn câu này phải được hiểu rằng cách ăn nếp ở của người Kitô hữu có thể khiến cho những tội nhân thay đổi cách sống, bởi vì ánh sáng chiếu soi vào bóng tối và làm cho bóng tối biến tan: “Tất cả những gì đã bị vạch trần, đều lộ ra ánh sáng; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng” .
Người Kitô hữu chỗi dậy từ bóng tối sự chết:
Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu “chỗi dậy” từ bóng tối sự chết. Chắc hẳn thánh Phao-lô trích dẫn vài câu từ một bài thánh thi về bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, và phải là khá phổ biến. Chúng ta gặp thấy bài thánh thi nầy, khá đầy đủ hơn, trong tác phẩm của Giáo Phụ Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a (vào cuối thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên)
“Hãy tỉnh giấc đi, hỡi người đang ngủ.
Hãy chỗi dậy đi từ những vong nhân.
Và Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi.
Ngài là ánh sáng Phục Sinh,
được sinh ra trước khi sao mai xuất hiện;
Ngài ban sự sống bởi ánh quang rạng ngời của Ngài” (Protriptique 9, 84, 2)
Bài thánh thi nầy minh chứng hùng hồn đạo lý Thánh Tẩy mà thánh Phao-lô không ngừng nhắc đi nhắc lại: chết cho tội lỗi và tái sinh trong Đức Kitô Phục Sinh. Hơn nữa, bài thánh thi đậm đà hương vị Kinh Thánh gợi nhớ vài hình ảnh của các ngôn sứ như:
“Nầy những kẻ nằm trong bụi đất, hãy trỗi dậy, hãy reo mừng! Vì lạy Chúa, sương Người ban là sương ánh sáng, và đất sẽ cho các âm hồn được hồi sinh” (Is 26: 19)
Hay: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của Người đến rồi.Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60: 1-2)
Đoạn thư này giúp chúng ta hiểu rõ hơn địa vị Ki-tô hữu của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta được mời gọi sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đành rằng ơn cứu độ là công trình của Thiên Chúa, nhưng chỉ trở nên hiệu lực khi nào chúng ta mở rộng lòng mình cho Đấng chúng ta tin.
TIN MỪNG (Ga 9: 1-41)
Bài trình thuật này gợi lên nhiều điểm tương đồng với bài trình thuật về việc Đức Giê-su chữa lành người bại liệt (Ga 5 : 9-11). Quả thật, cả hai bài trình thuật đều ghi nhận rằng Đức Giê-su chỉ xuất hiện vào lúc bắt đầu câu chuyện để thực hiện “dấu lạ” và xác định ý nghĩa của nó (9 : 1-7 và 5: 1-8), và vào lúc kết thúc câu chuyện để long trọng tuyên bố bản án (9 : 35-41 và 5: 14-18)). Giữa thời gian ấy, Đức Giê-su rút lui vào hậu trường để hoàn toàn nhường sân khấu cho một bài trình thuật bóng bẩy, linh hoạt, đầy biến động về những phản ứng khác nhau từ phía những hạng người khác nhau trước dấu lạ của Ngài (9: 8-34 và 5: 9-13). Tuy nhiên, với tính hồn nhiên, cởi mở, thông hiểu và dũng cảm: ăn miếng trả miếng của mình, anh mù đã trổi vượt trên người bại liệt thụ động và kém linh hoạt.
Dẫn nhập (9 : 1-7)
Vấn đề tội lỗi:
“Vấn đề tội” đóng chức năng đóng khung toàn bộ câu chuyện: ở đầu câu chuyện, chính các môn đệ nêu lên: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người nầy sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (9 : 2) và ở cuối câu chuyện, chính Đức Giê-su nói với các người Pha-ri-sêu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội của các ông vẫn còn đó” (9 : 41).
Câu hỏi mà các môn đệ nêu lên về quan hệ nhân quả của tội dường như chỉ nhằm tạo cơ hội để Đức Giê-su thực hiện dấu lạ và ban giáo huấn. Tuy nhiên, câu hỏi nầy nói lên tâm thức của người đương thời. Vào thời đó, người Do thái tin rằng nguyên nhân của những bất hạnh như tai ương hay bệnh tật là án phạt của tội, kể cả tội trước khi sinh ra hay còn trong bào thai. Vì thế, cảnh đời bất hạnh mà người mù từ lúc mới sinh phải chịu là án phạt vì tội của cha mẹ mình. Tuy nhiên, sách Gióp đã nêu lên tại sao người công chính phải chịu đau khổ, nhưng không đưa ra một câu trả lời thỏa đáng nào, ngoài trừ ý định khôn dò của Thiên Chúa. Sau này, sách Tô-bi-a đã bước thêm một bước nữa: thiên sứ đã mặc khải cho ông Tô-bi-a cha, một người công chính thực thi những việc lành phúc đức, rằng Thiên Chúa để cho ông bị cảnh mù lòa là để thứ thách ông (Tb 12: 13).
Đức Giê-su bác bỏ quan niệm nhân quả của tội. Ngài tách biệt rõ ràng điều bất hạnh và án phạt, sự đau khổ và tội. Cảnh đời bất hạnh của anh mù không do tội của anh hay tội của cha mẹ anh, nhưng là cơ hội để Ngài bày tỏ quyền năng của Ngài qua việc cho anh mù được sáng mắt. Từ đó, Đức Giê-su sẽ công bố mình là “ánh sáng thế gian”. Như vậy, giả sử trước ở đây, sự mù lòa duy nhất cấu thành tội chính là sự mù lòa của sự cố chấp không chịu tin.
Một ngày của Đức Giê-su:
Đức Giê-su sánh ví sứ vụ của Ngài với một ngày. Thời điểm đánh dấu việc kết thúc sứ vụ của Ngài được sánh ví với thời điểm “đêm đến”, nghĩa là giờ của bóng tối, giờ của những kẻ thù của Ngài. Trong khi chờ đợi giờ của bóng tối, Ngài phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Ngài khi trời còn sáng, bởi vì bao lâu Ngài còn ở thế gian, Ngài là ánh sáng thế gian. Để minh chứng Ngài “là ánh sáng thế gian”, Chúa Giê-su sẽ cho người mù từ lúc mới sinh được thấy ánh sáng, cả ánh sáng thể lý lẫn ánh sáng tâm linh (x. Is 42: 6-7).
Dấu lạ:
Dấu lạ được mô tả chỉ trong hai câu (9: 6-7), bởi vì người kể chuyện chú trọng hơn đến những cuộc tranh luận do dấu lạ gây nên và những hậu quả mà anh mù được sáng mắt phải gánh chịu.
“Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù”. Theo niềm tin dân gian phổ biến vào thời đó, nước miếng có hiệu lực chữa bệnh. Trước đây rồi, Đức Giê-su đã dùng nước miếng của Ngài để chữa lành người câm điếc (Mc 7: 32) và người mù ở Bết-xai-đa (Mc 8: 23). Nhưng ở đây, Đức Giê-su trộn nước miếng với đất thành bùn và xức vào mắt người mù. Phải chăng Đức Giê-su muốn họa lại cử chỉ sáng tạo, qua đó muốn nói rằng Ngài sẽ làm cho người mù thành một con người hoàn toàn mới? Hay đơn giản hơn, phải chăng sự kiện xức bùn vào mắt và đòi hỏi anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác là một hành vi đức tin, một yếu tố cần thiết để đón nhận dấu lạ? Quả thật, hiệu quả chỉ xuất hiện sau khi người mù đến rửa trong nước hồ Si-lô-ác.
Nước hồ này được xem là thánh thiêng. Vào lễ Lều, vị tư tế phải đến múc nước ở đây để dùng cho các nghi thức thanh tẩy. Nước nầy bắt nguồn từ suối Gi-bon và được dẫn đến hồ Si-lô-ác qua một lạch ngầm dưới đất (2V 20: 20; 2Sb 32: 30; Hc 48: 17). Ngay cả tên của hồ này cũng mang ý nghĩa biểu tượng: Si-lô-ác có nghĩa là “người được sai đi”. Dường như thánh Gioan muốn nhắc lại ý nghĩa của tên Si-lô-ác này, vì thánh nhân muốn quy chiếu đến tác giả đích thực của việc chữa lành chính là Đức Giê-su, “Đấng được Chúa Cha sai đi”. Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su thường dùng tước hiệu “Đấng được sai đi”», để chỉ về chính mình.
Hai thái độ: (9: 8-34)
Trong phần nầy, Đức Giê-su vắng mặt, tuy nhiên Ngài vẫn là tác nhân chính yếu gây nên những phản ứng từ phía những hạng người khác nhau. Việc người mù được sáng mắt sẽ nêu bật hai thái độ tương phản mà sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế gian đòi hỏi con người phải chọn lựa.
Thái độ của người mù được sáng mắt:
Đây là một con người có lương tri ngay thẳng, vẫn một mực trung thành với sự thật, biết sử dụng lối nói mĩa mai, thậm chí châm biếm, lại còn biết phi bác sự thông thái của những người Pha-ri-sêu:“Chúng tôi biết rằng…” (9: 29) khi viện dẫn nguyên tắc thông thường: “Như mọi người điều biết…” (9 : 31-32; x. Is 1: 15; Tv 66: 18; 109: 7; Cn 15: 29, vân vân) và cuối cùng bày tỏ tấm lòng rộng mở trước ánh sáng khác, ánh sáng đức tin.
Con đường đức tin của người mù là con đường tiệm tiến: từ mỗi một lời tra hỏi từ phía những người láng giềng cho đến những lời chất vấn của những người Pha-ri-sêu, chân tính của Đức Giê-su càng lúc càng sáng tỏ hơn ở nơi anh. Khởi đầu, anh bày tỏ một sự hiểu biết mơ hồ về một người đã thi ân giáng phúc cho mình: “một người tên là Giê-su” (9: 11), đoạn, anh bắt đầu nhận ra ở nơi người ấy:“một ngôn sứ” (9: 17) và tiếp đó: “Đấng được Thiên Chúa sai đến” (9: 33). Cuối cùng, khi đối diện với Đức Giê-su, Đấng tự tỏ mình ra cho anh, anh tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Ngài, tôi tin” (9: 38) và thờ lạy Ngài.
Thái độ của những người Pha-ri-sêu:
Trong khi sự kiện dần dần được chứng thực từ phía những người láng giềng, cha mẹ của người mù và chính đương sự, thì thái độ của những người Biệt phái càng lún sâu vào những tà ý, cố chấp, từ chối ánh sáng và để lộ mình là những người mù đích thật.
Trong câu chuyện nầy, hai chi tiết đáng chú ý do hậu cảnh lịch sử của chúng. Trước hết, những người Pha-ri-sêu bất đồng với nhau về vấn đề Đức Giê-su: “Thế là họ đâm ra chia rẽ”. Về sự kiện nầy, các sách Tin Mừng và sách Công Vụ cung cấp nhiều ví dụ khác nữa: trong số những người Pha-ri-sêu có vài người có tinh thần rộng mở, họ âm thầm gắn bó với Đức Kitô. Trong câu chuyện này, chính thành phần cố chấp nhất mực nhắm mắt trước sự thật. Trong con mắt của những con người ngoan cố nầy, Đức Giê-su đã vi phạm ngày sa-bát, vì vậy là một con người tội lỗi, mà đã là một con người tội lỗi thì không thể nào thực hiện dấu lạ như thế. Vì thế, họ không chỉ từ chối từ dấu lạ và chân tính của Đức Giê-su, nhưng còn buộc người mù phải thú nhận là mình sai lầm vì đã tuyên xưng ông Giê-su này là một ngôn sứ.
Ngoài ra, đối với đọc giả Tin Mừng Gioan, việc anh mù bị trục xuất ra khỏi hội đường vang dội tính thời sự của cộng đoàn Gioan. Các tông đồ và các môn đệ của thế hệ thứ nhất đã giảng dạy trong các hội đường, nhưng sau đó bị trục xuất khỏi hội đường. Những người Do thái nào tin vào Đức Kitô cũng bị trục xuất khỏi hội đường và trở thành đối tượng của những quấy nhiễu, hạch sách và bắt bớ. Việc người mù được chữa lành bị trục xuất xuất hiện ở đây báo trước hoàn cảnh của Giáo Hội sau nầy.
Đoạn kết (9 : 35-41)
Đức Giê-su lại xuất hiện và bày tỏ thái độ của Ngài đối với người mù được sáng mắt và đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp.
Thái độ của Đức Giê-su đối với người mù được sáng mắt:
“Sau khi nghe nói họ đã trục xuất anh, Đức Giê-su đến gặp anh”. Đối với những ai chịu đau khổ vì làm chứng cho Ngài, dù không nhận biết Ngài, Ngài sẽ mặc khải chân tính của Ngài, như anh mù được sáng mắt hôm nay. Sau khi đã mở đôi mắt xác thịt của anh để anh thấy ánh sáng, Ngài mở đôi mắt tâm hồn anh để anh khám phá Mặc Khải.
Thái độ của Đức Giê-su đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp:
“Tôi đến thế gian nầy chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại đui mù”. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra cho những ai mở rộng tâm trí sẵn sàng đón nhận ánh sáng của Ngài. Còn những ai tin tưởng vào ánh sáng của riêng mình mà tìm cách ngăn chận những kẻ khác tin vào Ngài, thì những người đó trở nên đui mù.
Còn những người Pha-ri-sêu nhạo báng Ngài khi chất vấn Ngài phải chăng họ đều đui mù hết cả sao, Chúa Giê-su đưa ra một bài học thâm thúy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn đó”. Những lời này nêu bật thần học xét xử của Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su không xét xử ai cả, chính mỗi người tự xét xử mình, hoặc mở mắt ra mà tin nhận Đức Giê-su hoặc khép mắt lại mà khỏi phải thấy những việc Ngài làm để khỏi tin vào Ngài. Đó chính là tội cố chấp và bản án đã có sẵn ở đây rồi, và ngay bây giờ chứ không phải đợi đến ngày chung thẩm.
Câu chuyện mở ra với lời công bố rằng sự mù lòa thể lý không có tội và đóng lại với lời công bố rằng sự mù lòa tinh thần mới có tội.
(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt
———————————————————-
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY – NĂM A
THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC ÁNH SÁNG- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
Sợi chỉ đỏ :
– Bài đọc Cựu Ước : Thiên Chúa soi sáng cho Ông Samuel chọn xức dầu phong vương cho Đavít.
– Bài Tin Mừng : Đức Giêsu chữa một người mù bẩm sinh.
– Bài đọc Tân Ước : “Xưa anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ, nhờ kết hợp với Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng”.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Mỗi sáng thức dậy, chúng ta mở mắt ra, chúng ta nhìn cuộc đời, nhìn những việc sẽ phải làm trong ngày, nhìn những người chung quanh… Nhưng có khi nào chúng ta nhìn tất cả những điều ấy bằng ánh sáng của Chúa không ? Nếu nhìn bằng ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ thấy mọi sự một cách rất tuyệt vời như anh mù được Đức Giêsu chữa sáng mắt trong bài Tin Mừng hôm nay.
Ước gì sau Thánh lễ này, mắt chúng ta cũng được mở ra để thấy mọi sự theo một cái nhìn mới.
GỢI Ý SÁM HỐI
– Nếu trong đời sống chúng ta có những điều gì còn mờ ám, hãy nhận diện chúng và nhìn chúng bằng cặp mắt của Chúa.
– Nếu ánh sáng lương tâm của chúng ta đã quá lu mờ, thì hãy xin Chúa chữa lành.
– Nếu chúng ta cố tình che đậy ánh sáng chân lý, thì hãy sám hối và xin Chúa thứ tha.
LỜI CHÚA
Bài đọc Cựu Ước : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13
– Saul là vua đầu tiên của Israel. Nhưng vì Saul nhìn và giải quyết các vụï việc theo quan điểm chính trị và ý riêng hơn là ý Chúa nên Chúa bỏ ông. Chúa bảo Samuel đến nhà ông Giêsê để xức dầu phong một người khác làm vua.
-Giêsê có tất cả 8 con trai. Thoạt đầu Samuel đã muốn xức dầu cho Êliab một người cao lớn khoẻ mạnh. Nhưng Chúa bảo “Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Yavê trông thấy điều ẩn đáy lòng” (c 7). Cuối cùng, theo sự soi sáng của Chúa, Samuel đã chọn xức dầu cho Đavít, đứa nhỏ nhất, đứa mà Giêsê coi thường nên ban đầu không đưa ra.
-Câu chuyện cho thấy ý nghĩa chính : cái nhìn của Thiên Chúa không giống cái nhìn của loài người, vì loài người quen nhìn vẻ bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng.
Đáp ca : Tv 22
Thánh vịnh này minh họa ý tưởng “Chúa là Ánh sáng” bằng hình ảnh “Chúa là mục tử” : Ngài dẫn dắt chúng ta như mục tử dẫn dắt đoàn chiên. Cho dù có khi Ngài dẫn ta qua những chỗ u tối, khô cằn, gập ghềnh… nhưng nơi đến cuối cùng là suối nước, bóng mát và đồng cỏ.
Bài đọc Tân Ước : Ga 9,1-41
Câu chuyện Đức Giêsu chữa một anh mù bẩm sinh. Một số chi tiết đáng lưu ý :
– Đức Giêsu đã làm tới 2 phép lạ : chữa cặp mắt thể xác cho anh này có cái nhìn loài người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Cái nhìn thứ hai quan trọng hơn, chính do cái nhìn này mà anh đã quỳ xuống trước mặt Đức Giêsu (cử chỉ tôn thờ : “Người chỉ được tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi”) và tuyên xưng “Lạy Chúa, con tin” ; và Gioan viết bài từng thuật này cũng vì muốn trình bày cái nhìn đức tin ấy.
* Bài học: nhìn bằng cặp mắt thể xác là một điều quý, nhưng biết nhìn bằng cặp mắt đức tin mới quan trọng hơn.
– Cái nhìn đức tin của anh thanh niên này sáng từ từ : a/ Bước thứ nhất anh chỉ thấy Đức Giêsu là “một người” tên là Giêsu (c 11) ; bước thứ hai, anh thấy Ngài là “một vị ngôn sứ” (c 17b) ; bước cuối cùng, anh nhìn nhận và tuyên xưng “Lạy Chúa, con tin” (c 37).
Bài Thánh Thư : Ep 5,8-14
Thánh Phaolô giải thích thế nào là nhìn mọi sự theo ánh sáng đức tin :
– “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em là ánh sáng” (c 8)
– “Mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (c 9)
– “Anh em hãy nhìn xem điều gì đẹp lòng Chúa” (c 10).
GỢI Ý GIẢNG
Con đường đi tới ánh sáng
Con đường đi tới ánh sáng của người mù gồm nhiều bước. Nhưng đáng chú ý là đó không chỉ là những bước đi của con người mà còn là những bước đi của Đức Giêsu : Ngài đi những bước trước, người mù bước theo, và bước sau cùng cũng là của Ngài :
– Bước 1 “Đức Giêsu nhìn thấy” (câu 1) : Cuộc hành trình bắt đầu bằng cái nhìn này, cái nhìn của Chúa đi trước cái nhìn của con người.
– Bước 2 “Đức Giêsu thoa vào mắt người mù” (câu 7) : sự tiếp xúc giữa Ngài với bệnh nhân chính là thần dược.
– Bước 3 “Ngài bảo : Hãy đi rửa ở hồ Silôê” (câu 7a) : Đức Giêsu sai ta đi đến một nơi đã có sẵn từ lâu trước khi ta cần đến nó, và nơi này thực ra chỉ có năng lực cứu chữa nhờ Ngài mà thôi.
– Bước 4 “Người mù đi đến đó” ( (câu 7b) : Bước đầu tiên của con người là sự vâng phục và phó thác. Đây là bước rất cần thiết.
– Bước 5 “Tôi đã nhìn thấy” (câu 11), “Ngài là một ngôn sứ” (câu 17) : Liền theo sau hồng ân nhận được là việc làm chứng cho Đấng mà ta tin, cho dù việc này dẫn đến cái giá phải trả là bị đuổi ra ngoài (câu 34).
– Bước 6 “Đức Giêsu đến gặp anh” (câu 35) : Đến đây Đức Giêsu ban cho anh một thị giác còn quý hơn thị giác của cặp mắt anh, đó là thị giác của đức tin : anh tuyên xưng “Lạy Chúa, con tin”.
Đó cũng là những bước mà chúng ta phải cùng đi với Đức Giêsu trên cuộc hành trình của chúng ta.
Những cái làm cho ta mù
Để thấy rõ, chỉ một đôi mắt sáng chưa đủ, bởi vì không chỉ có mỗi một thứ bệnh mù là mù đôi mắt, mà còn nhiều thứ bệnh mù khác do nhiều nguyên nhân khác :
Tính ích kỷ làm ta mù không thấy nhu cầu của tha nhân
Tính vô cảm làm ta mù không thấy những việc ta đã làm đau lòng tha nhân.
Tính tự phụ làm ta mù không thấy tha nhân cũng có nhân phẩm như mình.
Tính kiêu căng làm ta mù không thấy khuyết điểm của mình.
Những thành kiến làm ta mù không thấy sự thật.
Sự hối hả làm ta mù không thấy vẻ đẹp của vũ trụ chung quanh.
Khuynh hướng duy vật làm ta mù không thấy những giá trị thiêng liêng.
Sự hời hợt làm ta mù không thấy giá trị thật của con người và khiến ta hay lên án.
Những thứ thị giác
“Người phàm chỉ nhìn thấy ngoài mặt, còn Chúa thì thấy tận cõi lòng” (Bài đọc 1) : Đối diện với người mù, các môn đệ chỉ thấy đây là một kẻ có tội nên bị phạt ; các người pharisêu tìm đủ mọi ngõ ngách để trốn thoát khỏi phải nhìn nhận sự thật về người mù ; dân chúng thì không thể tin nổi sự việc mà họ vừa nhìn thấy. Còn Đức Giêsu, Ngài nhìn thấu cõi lòng của từng hạng người kể trên. Ta hãy tìm hiểu kỹ hơn cái nhìn của Đức Giêsu.
– Một cái nhìn ưu ái : Ngài không nhìn người mù bằng ánh mắt bàng quan, mà nhìn với lòng thương.
– Một cái nhìn không bị che mờ bởi những thành kiến (như các môn đệ), những hoài nghi (như dân chúng), những đố kị (như pharisêu), những định chế xã hội xếp loại giai cấp con người.
– Một cái nhìn phát sinh hiệu quả : Ngài nhìn người mù và làm cho anh được thấy.
Chúng ta cần có cái nhìn của Chúa, như lời Thánh Phaolô trong bài đọc thứ 2 : “Anh em hãy xem xét điều gì làm đẹp lòng Thiên Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, nhưng hãy vạch trần những việc ấy ra mới phải”.
Mảnh suy tư
Cách nay nhiều năm, vào một đêm kia có hiện tượng nguyệt thực toàn phần.
Ai nấy đều bàn tán về nó.
Rất nhiều người đứng ngoài sân chờ nhiều tiếng đồng hồ để cuối cùng được nhìn ngắm nó trong một số phút ngắn ngủi.
Tôi tự hỏi : sao người ta lại quá chú ý đến sự biến mất của mặt trăng mà không chú ý đến sự xuất hiện của nó ?
Và tôi nhớ đến một lời của Emerson :
“Người ngu ngạc nhiên trước sự bất thường
Còn người khôn ngạc nhiên trước sự bình thường” (Flor MacCarthy)
Chuyện minh họa
a/ Đãng trí
Một học giả kia rất thông thái nhưng cũng rất đãng trí. Một hôm ông cỡi lừa đi thăm một người bạn. Dù đang cỡi lừa, ông vẫn cứ dán mắt vào quyển sách, tay buông lỏng dây cương. Do đó con lừa sau khi đi một đoạn đường đã quay trở lại chính ngôi nhà của ông. Ông tưởng đó là ngôi nhà của người bạn. Ông nhìn ngôi nhà từ trên xuống dưới, từ trước tới sau, và kết luận : “Ông bạn của ta cẩu thả quá, nhà hư gần sập tới nơi mà không sửa sang gì cả.” Vợ ông bước ra tiếp lời : “Ông nhận xét đúng đấy. Nhưng đây là ngôi nhà của chính ông”. Nhiều người rất sáng về chuyện người khác, nhưng rất mù về những khuyết điểm của chính mình. (Ernst Wilhelm Nusselein).
b/ Làm sao phân biệt này với đêm
Một đạo sư hỏi các môn đệ họ có thể xác định như thế nào cái giây phút mà đêm chấm dứt và ngày bắt đầu.
Một người nói :
– Khi người ta thấy một con vật ở đàng xa, và người ta có thể nói đó là con bò hay con ngựa.
Đạo sư bảo :
– Không phải vậy.
– Khi nhìn một cây ở đàng xa và người ta có thể nói đó là cây mận hay cây xoài.
Đạo sư vẫn bảo :
– Vẫn không phải.
Rồi ông nghiêm nghị nói :
– Khi các ngươi nhìn thẳng vào mặt một người đàn ông và các ngươi có thể nhận ra nơi ông ta một người anh em của mình ; khi các ngươi nhìn thẳng vào mặt một người phụ nữ và các ngươi có thể nhận ra nơi bà ta một người chị em của mình. Nếu các ngươi không làm được như vậy thì dù mặt trời có mọc tới đâu cũng vẫn còn là đêm. (Anthony de Mello, “Lời kinh của con ếch”)
LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Đức Kitô là ánh sáng thế gian. Nhờ mầu nhiệm nhập thể, Người dẫn đưa nhân loại đang lần bước trong u tối đến nguồn ánh sáng đức tin. Với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin tha thiết của chúng ta.
– Hội Thánh là dấu chỉ ơn cứu độ muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa thanh tẩy / và đổi mới Hội Thánh trong những ngày hồng phúc này / để Hội Thánh ngày càng nhiệt thành làm chứng cho Chúa.
– Y học ngày nay tiến bộ vượt bực / đã diệt trừ hẳn một số bệnh hiểm nghèo / mang lại niềm vui sống cho nhân loại / Thế nhưng tại các nước chậm phát triển / vẫn còn một số người bị mù lòa vì bệnh tật / vì nghèo đói / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho có nhiều người quảng đại / tận tình săn sóc và giúp đỡ những anh chị em kém may mắn ấy.
– Bệnh đui mù tinh thần còn đáng sợ hơn nữa / vì nó khiến con người trở nên mù quáng / không còn phân biệt phải trái / cũng không còn khả năng nhận ra Chúa hiện diện trong tha nhân nữa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / chữa các kitô hữu khỏi chứng bệnh hiểm nghèo này.
– “Thưa Ngài tôi tin” / anh mù mạnh dạn tuyên xứng niềm tin của mình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / cũng biết luôn hiên ngang sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận / bằng những việc làm cụ thể trong đời sống thường ngày.
CT : Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con sống như con cái sự sáng, mà theo Thánh Gioan tông đồ, sống như con cái sự sáng là sống bác ái yêu thương. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn tình với Chúa và vẹn nghĩa với anh em. Chúa hằng sống và hiển rị muôn đời.
———————————————————
CON MẮT ĐỨC TIN CỦA ANH MÙ- Lm Giuse Đinh lập Liễm
DẪN NHẬP.
Khoa học ngày nay đã thu được những bước tiến đáng kể nhằm phục vụ đời sống con người. Riêng ngành y học đã tìm ra được những phương pháp tân kỳ để khống chế bệnh tất, nhưng bệnh tật cũng chưa giảm được bao nhiêu. Bệnh mù lòa vẫn còn thống trị trên thế giới, hiện nay trên thế giới còn khỏang 13 triệu người mù. Người mù là bệnh nhân rất đáng thương vì họ luôn phải sống trong đêm tối. Không có đức tin, người ta dễ thất vọng trong cảnh sống này. Văn hào Montferland đã tự tử vì không chịu được cảnh sống như vậy.
Đức Giêsu tỏ ra thông cảm với những người ở trong tình trạng xấu số như vậy. Một hôm, đi ngang qua, Ngài thấy một anh mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Mặc dầu chưa cần phải xin, Ngài đã nhổ nước miếng xuống đất, nhào thành bùn bôi vào mắt anh, rồi bảo anh hãy đi rửa ở hồ Siloê, anh đã làm và anh được sáng mắt. Chính việc Đức Giêsu chữa bệnh vào ngày Sabbat đã làm cho nhóm biệt phái tức giận, mở cuộc điều tra rộng rãi và cặn kẽ nhằm phủ nhận phép lạ này. Nhưng kết quả là nhóm biệt phái phủ nhận phép lạ, không tin Đức Giêsu, lại còn đi sâu vào sự mù tối; còn anh mù được khỏi bệnh đã cương quyết khẳng định phép lạ này và còn tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu thế :”Lạy Thầy, con tin”.
Mỗi người trong chúng ta đều có hai con mắt để nhìn, để thấy những sự vật chung quanh. Ai không có khả năng trông thấy thì gọi là mù. Tuy nhiên, chúng ta có hai cặp mắt : cặp mắt thể xác và cặp mắt tinh thần hay đức tin. Cặp mắt thân xác chỉ cung cấp cho chúng ta được cái nhìn của lòai người, chỉ thấy những gì tỏ lộ ra bên ngòai như trường hợp ông Samuel xức dầu cho Eliab một người cao lớn khỏe mạnh theo cặp mắt xác thịt của ông. Còn cặp mắt đức tin cung cấp cho chúng ta cái nhìn của Thiên Chúa như trường hợp ông Samuel biết xức dầu cho Đavít; và anh mù nhờ cặp mắt đức tin mà nhận ra và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa. Cặp mắt đức tin này quan trọng hơn vì nó giúp chúng ta xem điều gì đẹp lòng Chúa (Ep 5,9).
TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1 : 1Sm 16,1b.6-7.10-13.
Lúc đầu dân Do thái chỉ có các phán quan cai trị, dân chúng muốn tìm cho mình một ông vua để cai trị. Vị vua đầu tiên được chọn là Saul, nhưng vị vua này chỉ giải quyết vụ việc theo quan điểm chính trị và ý riêng hơn là ý Chúa, nên Chúa bỏ ông và thay thế bằng một vị vua khác đẹp lòng Ngài hơn.
Chúa truyền cho ông Samuel đến nhàø ông Giêsê để xức dầu phong một người khác làm vua. Giêsê có 8 người con trai, lúc đầu ông xức dầu cho Eliab, một người cao lớn khỏe mạnh, nhưng Chúa không đồng ý và bảo :”Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi vì người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Giavê trông thấy điều ẩn kín trong lòng (1Sm 16,7). Sau cùng, Samuel chọn Đavít để xức dầu, một đứa con nhỏ nhất mà ban đầu Giêsê coi thường, không giới thiệu.
+ Bài đọc 2 : Ep 5,8-14.
Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Eâphêsô hãy từ bỏ nếp sống cũ là sống trong giả dối và tội lỗi để được làm con của ánh sáng; đồng thời hãy sống theo giáo huấn của Đức Kitô là ánh sáng đích thực :
-“Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em là ánh sáng (c. 8).
-“Mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật (c. 9).
-“Anh em hãy nhìn xem điều gì đẹp lòng Chúa (c. 10).
Lời thánh Phaolô trong bài đọc này :”Hãy thức dậy, đừng mê ngủ nữa”, chính là lời nói với các Kitô hữu hôm nay.
+ Bài Tin mừng : Ga 9,1-41.
Trình thuật việc Đức Giêsu chữa mắt cho người mù từ bẩm sinh khá dài. Có rất nhiều chi tiết và mỗi chi tiết có một ý nghĩa riêng. Các thánh Giáo phụ đã cắt nghĩa nhiều về vấn đề này, nhất là việc “lấy bùn hòa nước bọt xức mắt người mù”. Nhưng tựu trung, tất cả mọi hành vi đó là dấu chỉ để mọi người tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin như thế mà người ta có sự sống.
Như vậy, cùng một lúc Đức Giêsu làm hai phép lạ : chữa cặp mắt thể xác cho anh mù có cái nhìn của lòai người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Trong hai phép lạ chữa mắt thì việc chữa mắt đức tin quan trọng hơn vì nhờ cặp mắt này mà người mù đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa và đã tuyên xưng :”Lạy Thầy, con tin”, rồi anh sấp mình trước mặt Ngài (Ga 9,37).
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Xin cho con sáng mắt sáng lòng.
ĐỨC GIÊSU CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ.
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa một người mù tự thuở mới sinh. Mới nghe qua, chúng ta thấy không có vẻ gì khác với các phép lạ khác mà Đức Giêsu đã làm. Tuy nhiên, đối với thánh Gioan, việc Đức Giêsu làm phép lạ không chỉ đơn thuần là một phép lạ, nhưng đó là một dấu chỉ, để từ đó khơi dậy niềm tin và củng cố niềm tin cho các tông đồ và cả chúng ta ngày hôm nay. Điều này đã được chính vị thánh sử quả quyết trong lời kết sách Tin mừng của mình :”Các điều đã viết đây, là để anh em tin rằng : Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20,31).
Thánh Gioan với một ngòi bút rất linh động đã mô tả cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người mù từ thuở mới sinh. Câu chuyện gặp gỡ và chữa người mù này có thể được chia làm ba phần :
Sự kiện chữa người mù.
Đi ngang qua, Đức Giêsu nhìn thấy một ngừời mù từ mới sinh ngồi ăn xin bên vệ đường. Các môn đệ cũng thấy thế và nêu lên ngay thắc mắc của các ông cũng như của mọi người Do thái thời bấy giờ vì theo họ, bệnh tật đều do tội mà ra :”Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta” ? Đức Giêsu không trực tiếp trả lời câu hỏi mà chỉ nói :”Chuyện đó xẩy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.
Thánh Gioan mô tả việc chữa bệnh này bằng vài dòng vắn tắt, nhưng đầy ý nghĩa tượng trưng :”Nói xong, Đức Giêsu nhỏ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta :”Anh hãy đi đến suối Siloê mà rửa (Siloê có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được”(Ga 9,6-7).
Mở cuộc điều tra rộng rãi.
Nhóm biệt phái không tin nên mở cuộc điều tra rộng rãi và cặn kẽ, từ đương sự đến nhữøng người láng giềng và cả cha mẹ đương sự nữa. Nhưng phép lạ quá hiển nhiên không thể chối cãi được vì chính đương sự khẳng định điều đó. Kết quả là : Đức Giêsu là Đấng quyền năng mở mắt kẻ đui mù. Nhưng làm sao họ chấp nhận được ? Vì chấp nhận tức là chối bỏ tất cả tòa nhà đạo giáo của họ. Nên họ quyết định gạt bỏ một sự thật hiển nhiên và gây khó dễ cho đương sự. Tuy thế, anh không sợ cường quyền, cương quyết phân bua :”Xưa nay chưa từng nghe nói có ai mở mắt một người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì không làm được gì”.
Đức tin của anh mù.
Vì lập trường cương quyết của anh mù tin vào Đức Giêsu, nên anh bị trục xuất khỏi hội đường. Nhưng Đức Giêsu đâu có bỏ anh ? Ngài xuất hiện với một sáng kiến mới :”Biết họ đã trục xuất anh, Ngài đến gặp anh”. Và cuộc đối thọai với anh mù đã được lành dẫn anh đến việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là “Con Người” :”Lạy Thầy, con tin”, anh tuyên xưng và “sấp mình xuống trước mặt Ngài”.
Qua sự việc này, A. Marchadour giải thích :”Đức Giêsu đã đưa anh qua một giai đọan quyết định, từ một “Giêsu tiên tri” đến một “Giêsu là Con Người”, Đấng Cứu Thế đưa anh vào cộng đồng của thời kỳ cuối cùng… Người mù sấp mình xuống trước “Con Người”, nhận ra thiên tính của Ngài, bởi vì theo thánh Gioan, sự thờ lạy chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa… và danh xưng Chúa (Seigneur) nói lên căn tính thần linh của Đức Giêsu. Nhận ra Đức Giêsu như là Đấng mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa, việc thờ lạy Ngài là đỉnh cao của cuộc hành trình của anh mù (Fiches dominicales A, tr 92).
Việc chữa lành người mù này chia ra thành hai hạng người với hai lập trường trái ngược nhau : tin và không tin nhận Đức Giêsu là Chúa.
Potinkết luận : “Trong lúc người mù được thấy, người Do thái lại lao mình vào sự mù tối. Những dấu lạ Đức Giêsu làm cho họ thêm cứng lòng. Họ tưởng mình biết vì cho rằng mình biết Maisen và Lề Luật cấm chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thật ra họ từ chối ánh sáng thật. Với Đức Giêsu, thảm trạng này làm thành một trường hợp phải đặt thành “vấn đề” trong tiến trình ý định của Thiên Chúa, bởi lẽ những người không tin, người ngọai tìm thấy ánh sáng cho đức tin vào “Con Người”, trong lúc đó, những kẻ “thấy”, những người Do thái lại trở nên mù tối, bị lóa mắt vì những sự thật giả dối của họ. Đức Giêsu nói :”Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ” (Fiches dominicales A, tr 93).
CHÚA CHỮA CHÚNG TA KHỎI MÙ TINH THẦN.
Nói về bệnh mù.
Tuy khoa học nói chung và ngành y học nói riêng đã đạt được những bước tiến khá cao trong việc chữa các bệnh tật, nhưng chưa đẩy được bệnh mù. Hiện nay trên thế giới có khỏang 13 triệu người mù. Họ bị mù hoặc là do bẩm sinh, hoặc do một tai nạn, hoặc do bệnh tật gây nên.
Bệnh mù cũng có cấp độ :
– Quáng gà ; bệnh con mắt không phải mù mà không trông thấy rõ khi chập tối, giống như gà vậy.
– Thong manh : bệnh làm cho mắt không thấy đường tuy con mắt vẫn mở như người thường.
– Mù tịt : con mắt không trông thấy gì, không những không thấy những vật chung quanh mà lúc nào cũng như ở trong đêm tối.
Khi nói về bệnh mù thì ai cũng hiểu là mù thể xác nghĩa là không trông thấy sự vật chung quanh mình. Nhưng đứng về phương diện thiêng liêng, ta thấy còn bệnh mù nữa là mù tinh thần hay mù đức tin.
Để thấy rõ, chỉ một đôi mắt sáng chưa đủ, bởi vì không chỉ có mỗi một thứ bệnh mù là đôi mắt, mà còn nhiều thứ bệnh mù khác do nhiều nguyên nhân khác nhau :
Tính ích kỷ làm ta mù không thấy nhu cầu của tha nhân.
Tính vô cảm làm ta mù không thấy những việc ta làm đau lòng tha nhân.
Tính tự phụ làm ta mù không thấy tha nhân cũng có nhân phẩm như mình.
Tính kiêu căng làm ta mù không thấy khuyết điểm của mình.
Những thành kiến làm ta mù không thấy sự thật.
Sự hối hả làm ta mù không thấy vẻ đẹp của vũ trụ chung quanh.
Khuynh hướng duy vật làm ta mù không thấy những giá trị thiêng liêng.
Sự hời hợt làm ta mù không thấy giá trị thật của con người mà khiến ta hay lên án. (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 122)
Mù thể xác và mù tinh thần.
Bệnh mù thể xác.
Mù thể xác có nhiều cấp độ nhưng nói chung là không thấy rõ hoặc không thấy sự vật ở chung quanh. Anh mù trong Tin mừng hôm nay ngồi ăn xin bên vệ đường có lẽ là người mù tịt không biết Đức Giêsu đi qua, nhưng Ngài động lòng thương cứu chữa anh, đồng thời cũng qua phép lạ này Đức Giêsu muốn giới thiệu cho các môn đệ : Ngài là ánh sáng trần gian. Ngài nhổ nước miếng trên đất, trộn thành bùn và xức vào mắt anh mù, rồi bảo anh ta :”Hãy đến hồ Siloê mà rửa”. Vậy anh ta đến rửa ở hồ và khi về thì nhìn thấy được.
Anh ta sung sướng vô cùng vì được nhìn thấy sự vật chung quanh. Trước đây người ta kể cho anh nghe đủ mọi thứ chuyện chung quanh nhưng anh ta không có một khái niệm nào về sự vật. Đối với anh lúc nào cũng là đêm tối dầy đặc. Bây giờ anh được trực tiếp ngắm xem cảnh vật, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng kỳ lạ… không cần phải cắt nghĩa cho anh nữa.
Truyện : Trời đất đẹp thế này.
Một bé trai bị mù từ mới sinh. Nhờ một cuộc giải phẫu, em bắt đầu thấy được. Một hôm má em đem em ra khỏi nhà , lần đầu tiên em thấy bầu trời mặt đất. Em kêu lên với mẹ em :”Má ơi, sao trước đây má không kể cho con là trời đất đẹp đến thế này” ! Người mẹ òa lên khóc, đáp :”Con ạ, mẹ đã cố gắng kể cho con nghe, nhưng con không thể hiểu mẹ”(Arthur Tonne).
Số phận anh mù trong Tin mừng hôm nay đã được thay đổi hòan tòan. Anh xác nhận là anh đã khỏi mù, anh đã được trông thấy. Mọi người láng giềng xác nhận rằng chính anh ta là người mù ngồi ăn xin ở vệ đường xưa nay, bây giờ được sáng mắt. Đây là một sự thực hiển nhiên không thể chối cãi được.
Bệnh mù tinh thần.
Câu chuyện anh mù được chữa khỏi không phải là một câu chuyện đơn giản và hiển nhiên, khiến mọi người phải chấp nhận. Có những người cố tình nhắm mắt lại không chấp nhận sự thật hiển nhiên đó. Họ khẳng định rằng đây không phải là anh mù trước kia, mà là một người nào giống anh ta.
Còn tệ hơn nữa, các biệt phái cố tình bẻ quặp sự thật bằng cách trớ trêu lý luận rằng: ông Giêsu đã chữa mắt cho người mù trong ngày hưu lễ vì luật trong hưu lễ là cấm làm việc. Ai vi phạm là kẻ có tội. Mà kẻ tội lỗi thì không thể là người bởi Thiên Chúa và không thể làm được phép lạ. Đó là lý luận cứng nhắc đã làm mù mắt người Do thái. Nhưng thực tế vẫn xẩy ra, nghĩa là đã có phép lạ.
Người biệt phái tìm cách chối bỏ sự thật : họ cho người được sáng mắt này không phải là người ăn xin bấy lâu nay; họ cho đòi cha mẹ anh ta đến hạch hỏi, đe dọa đủ thứ, còn anh mù được khỏi bệnh phải trình tòa hai ba lần để xét hỏi. Mục đích của họ là ép anh mù và cha mẹ anh ta phải chối bỏ cái thực tế được sáng mắt. Tất cả những tình tiết trên có thể đưa đến kết luận rằng người sáng mắt lại là anh mù, còn kẻ mù quáng lại chính bọn biệt phái vẫn tự cho mình thông minh sáng suốt mọi sự.
Phần kết của đọan Tin mừng, thánh Gioan đã ghi lại câu nói của Đức Giêsu :”Chính vì để luận xét mà Ta đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy sẽ trở nên mù”(Ga 9,39). Từ sự mù – sáng đôi mắt thể xác, Đức Giêsu đi đến kết luận về sự mù – sáng đôi mắt tinh thần. Quả vậy, người mù được thấy, được sáng con mắt đức tin. Anh đã nhận ra Giêsu : từ một vị ân nhân của mình, đến một tiên tri và tiến một bước dài tin nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Trong khi ấy, người Do thái mà cụ thể là những biệt phái lại đi vào sự mù tối. Họ không nhận ra Giêsu Nazareth là ai, họ chỉ biết đó là một người không tuân thủ lề luật, dám làm việc ngày hưu lễ cho dù đó là việc tốt. Họ đã từ chối ánh sáng thật và cuối cùng đã lên án cho Ngài.
Xin cho được “sáng mắt sáng lòng”.
Trong một bài hát nào đó tôi có đọc thấy bốn từ ngữ “sáng mắt sáng lòng” và tôi liên tưởng đến anh mù trong bài Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đã làm cho anh được “sáng mắt sáng lòng”. Anh mù từ mới sinh này được Đức Giêsu chữa cho sáng mắt, với con mắt này anh đã nhìn thấy những vật chung quanh một cách dễ dàng, giải thóat anh khỏi sự tối tăm từ bao lâu nay : anh đã được “sáng mắt”.
Nhưng còn hơn thế nữa, Đức Giêsu còn mạc khải cho anh biết không những Ngài chỉ là một vị ân nhân, một tiên tri và Ngài còn là Con Thiên Chúa. Đức Giêsu đã cho anh cái nhìn bằng cặp mắt đức tin để nhờ cái nhìn đó mà anh đã qùi xuống trước mặt Đức Giêsu (cử chỉ tôn thờ :”Ngươi chỉ được tôn thờ Thiên Chúa mà thôi”) và tuyên xưng :”Lạy Chúa, con tin”(Ga 5,37) : anh đã được “sáng lòng”.
Anh mù hôm nay đã được Đức Giêsu cho được “sáng mắt sáng lòng”. Trong cuộc sống Kitô hữu, chúng ta cũng phải xin Chúa cho được sáng mắt và sáng lòng. Nhìn bằng cặp mắt thể xác là một điều quí, nhưng biết nhìn bằng cặp mắt đức tin còn quan trọng hơn.
Những người chỉ biết tôn thờ vật chất, tiền của, danh vọng, xác thịt… là những người chỉ biết nhìn bằng cặp mắt thể xác để được sáng mắt. Họ có thể giống như con heo khi thấy được thức ăn thì ăn rồi quay ra ngủ, thức dậy rồi lại ăn. Không biết gì khác ngòai việc ăn uống ngủ nghỉ, không biết tới tương lai, khi nào người ta giết thì chết.
Con người được “sáng lòng” là người biết vươn lên cao cho xứng với “linh ư vạn vật”, vươn tới hạnh phúc tuyệt đối là Thượng Đế, biết mình từ đâu tới, sống phải làm gì và hậu thế sẽ ra sao ? Họ cũng phải ăn uống, ngủ nghỉ, nhưng ăn uống có chừng mực, tránh những thức ăn có nguy hại cho tâm hồn để chuẩn bị cho tương lai. Những người này đã dùng cặp mắt đức tin để nhìn sự vật trong cuộc sống hằng ngày.
Trong cuộc sống của Kitô hữu, không những chúng ta phải nhìn bằng con mắt thể xác như mọi người nhưng còn phải dùng con mắt đức tin để thấy những thực tại siêu nhiên và có thể nhìn thấy Chúa. Về vấn đề này, thánh Thêôphilô, Giám mục thành Antiokia, gửi cho Antiôcô có viết :”Nếu bạn nói : “Hãy tỏ cho tôi biết Thiên Chúa của bạn”, thì tôi có thể trả lời : Hãy tỏ cho tôi biết con người của bạn, rồi tôi sẽ tỏ cho bạn biết Thiên Chúa của tôi”. Vì thế, bạn hãy cho biết mắt tâm hồn bạn có nhìn thấy và tai lòng bạn có nghe được không.
Cũng như những người nhìn xem bằng con mắt thể xác thì nhìn thấy những việc diễn ra trong cuộc sống trần gian này : họ nhìn thấy sự khác biệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa trắng và đen, đẹp và xấu, thanh nhã và thô thiển, cân xứng với bất cân xứng, ngắn với dài. Tai cũng vậy, nó phân biệt được tiếng bổng tiếng trầm, tiếng du dương. Về tai và mắt tâm hồn cũng vậy, chúng có thể nghe và nhìn thấy Thiên Chúa.
Quả thật, Thiên Chúa được nhìn thấy do những kẻ có thể nhìn thấy Ngài nếu họ biết mở con mắt tâm hồn ra. Ai cũng có mắt, nhưng một số người bị mù lòa và không nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Nếu những người mù không nhìn thấy, thì chẳng phải tại ánh mặt trời không chiếu sáng, nhưng người mù phải nhận rằng chính tại mình, tại mắt mình. Đối với bạn cũng thế, mắt tâm hồn của bạn bị mù lòa là do tội lỗi và các hành động xấu xa của bạn (Các bài đọc Kinh sách, tập 2, tr 106-107) .
Chúng ta có thể kết luận : Con người có cặp mắt thể xác và tinh thần. Cả hai cặp mắt đều quan trọng để nhìn xem. Nhưng nếu có trường hợp đối chọi nhau giữõa hai cặp mắt ấy thì với danh nghĩa là Kitô hữu, chúng ta phải dành ưu tiên cho con mắt tinh thần, nghĩa là tuy bị mù về con mắt thể xác, nhưng lại ngời sáng về con mắt đức tin : Không sáng mắt nhưng sáng lòng !
Truyện : Xin được sáng lòng.
Chuyện kể rằng : có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện của mình bằng câu :”Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
Một hôm, người ta dẫn ông đến trước mộ thánh Tôma thành Cantorbéry để xin Người chữa cho ông sáng mắt. Ông được nhận lời. Mắt ông liền mở ra. Cảnh vật tưng bừng reo vui trước mắt ông. Khi nỗi vui mừng đầu tiên trôi qua, ông mới chợt nhớ là mình đã quên thêm vào lời cầu nguyện câu kết thúc :”Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
Ông liền trở lại viếng mộ thánh, và xin được mù trở lại nếu điều đó đem lại lợi ích cho linh hồn ông. Thế là ông lại mù như trước.
—————————————————-
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
NGỌN ĐÈN ĐỨC TIN – ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt.
Ta nhìn thấy được là nhờ có ánh sáng. Đôi mắt là ánh sáng của thân thể. Nếu mắt hư hỏng, thì dù bên ngoài trời có sáng trưng, ta vẫn không thấy gì hết. Người bị hư mắt sống hoàn toàn trong đêm tối.
Có nhiều thứ đêm tối. Cũng như có nhiều loại mắt.
Có thứ đêm tối u mê dốt nát. Ánh sáng văn hoá có đó. Sách vở chữ nghĩa có đó. Nhưng ta không đọc được. Vì ta mù chữ. Trí tuệ ta thiếu đôi mắt. Nên ta chìm trong đêm tối u mê.
Có thứ đêm tối phàm phu. Thiên nhiên có biết bao cảnh đẹp. Nhìn cảnh hoàng hôn, bình minh, người hoạ sĩ có thể xúc cảm vẽ nên những bức tranh tuyệt tác. Ta không cảm được vẻ đẹp của đất trời vì ta không có cặp mắt hoạ sĩ. Nghe chim ca, nhìn lá rụng, thi sĩ có thể viết nên những vần thơ. Còn ta, ta không nghe được sứ điệp của chim, không cảm được nỗi buồn của lá, vì ta không có tâm hồn, ánh mắt nhạy cảm của nhà thơ.
Có thứ đêm tối đức tin. Cuộc sống thần linh có đó. Thiên Chúa hiện hữu đó. Nhưng ta không thấy được nếu ta không có đức tin.
Đức tin là ánh sáng soi rọi vào thế giới vô hình, cho ta thấy được những điều mà người không tin không thấy. Đức tin là ngọn đèn soi cho ta bước đi trên con đường tiến về cuộc sống vĩnh cửu. Ngọn đèn ấy chỉ đủ sáng cho ta bước từng bước nhỏ. Trong khi bầu trời vẫn tối đen để ta phải phó thác tin yêu.
Tin là một thái độ dấn thân. Người mù đi ra giếng Silôê rửa theo lời dạy của Chúa Giêsu vì anh tin. Anh có thể nghi ngờ: Rửa nước giếng có gì tốt đâu? Nhưng anh đã đi vì anh tin lời Chúa. Tin rồi anh không ngồi lì một chỗ nhưng dấn thân, lên đường và hành động theo lời Chúa dạy.
Tin là một hành trình ngày càng gian khổ. Đức tin cần phải có thử thách. Thử thách như những bài học ngày càng cao, càng khó bắt người tin phải có thái độ lựa chọn ngày càng dứt khoát hơn. Ta hãy dõi theo hành trình của anh thanh niên bị mù.
Thoạt tiên, việc dẫn thân của anh khá dễ dàng. Anh chỉ việc đi ra giếng Silôê rửa bùn đất mà Chúa Giêsu đã đắp lên mắt anh.
Kế đó anh phải đối phó với một tình hình phức tạp hơn: Người ta nghi ngờ anh. Người ta tò mò xoi mói anh. Nhưng anh đã vững vàng vượt qua thử thách đó. Anh dõng dạc tuyên bố: Chính tôi là người mù đã ăn xin tại cổng thành.
Tình hình phức tạp hơn khi gia đình anh tỏ ra thờ ơ lãnh đạm. Anh khá đau lòng và cảm thấy cô đơn. Anh được sáng mắt. Anh có niềm tin. Đó là một biến cố quan trọng thay đổi toàn bộ đời anh. Thế mà những người thân thiết nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình vẫn thờ ơ, lãnh đạm. Để vững niềm tin vào Chúa, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc. Vì tin Chúa anh đành cam chịu sự thờ ơ lãnh đạm của những người thân. Trung thành với niềm tin đã làm trái tim anh rướm máu.
Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền lực tôn giáo. Họ mạt sát anh là sinh ra trong tội lỗi. Họ tố cáo Chúa Giêsu đã lỗi phạm luật nghỉ ngày Sabbat. Và sau cùng, họ khai trừ anh khỏi hội đường. Đây là hình phạt nặng nề nhục nhã nhất đối với người Do Thái. Bị gia đình từ bỏ. Giờ đây lại bị xã hội chối từ. Anh trở thành người cô đơn nhất. Đây là thử thách lớn lao nhất. Nhưng anh vẫn vững vàng vượt qua. Lựa chọn của anh giờ đây là dứt khoát. Mất tất cả chỉ để trung tín với niềm tin của mình.
Đúng lúc đau đớn nhất Chúa Giêsu lại xuất hiện. Như để khen thưởng cho đức tin kiên vững của anh. Chúa Giêsu tỏ cho anh biết Người là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Lập tức anh quỳ sấp mặt xuống thờ lạy Người. Hành trình niềm tin gian khổ thế là chấm dứt. Anh đã gặp được Chúa Kitô.
Như thế niềm tin tăng dần theo với thử thách. Thử thách càng cao, đức tin càng mạnh. Thoạt tiên, anh coi Chúa Giêsu chỉ là một con người, một người nào đó trong muôn vạn người: “Một người tên là Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi”. Những câu hỏi của đám đông, những tra vấn của Pharisêu khiến anh suy nghĩ sâu xa hơn và anh nhận rằng: “Ngài thật là vị tiên tri”.Khó khăn bắt bớ của giới chức tôn giáo thời đó lại khiến anh khẳng định: “Người từ Thiên Chúa mà đến”. Và sau cùng anh đã nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
Đức tin giống như hạt ngọc bị lớp đất bụi che phủ. Những khó khăn thử thách giống như chiếc dũa, dũa sạch bụi đá. Càng dũa nhiều, ngọc càng sáng. Đức tin giống như ngọn đèn. Thử thách gian khổ là dầu. Càng có nhiều dầu gian khổ, đèn đức tin càng toả sáng, càng toả nóng.
Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Anh thanh niên mù đã chiến đấu với những bóng tối vây phủ đức tin của anh. Anh đã kiên trì và đã chiến thắng. Anh đã ra khỏi tối tăm, gặp được Chúa Kitô nguồn ánh sáng. Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin. Còn tôi, tôi đã chiến đấu thế nào với những thế lực bóng tối đe doạ đức tin của tôi? Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối thù hận, những bóng tối độc ác, những bóng tối tự mãn kiêu căng, những bóng tối dục vọng tội lỗi. Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không?
Anh thanh niên mù đã giữ ngọn đèn đức tin khỏi mọi bão gió, lại còn đổ dầu đầy bình, giữ cho đèn cháy sáng cho đến khi gặp Chúa Kitô. Ngày Rửa Tội, Chúa đã trao cho tôi ngọn đèn đức tin. Biết bao ngọn gió đã thổi ngang đời tôi, muốn dập tắt ngọn đèn đức tin của tôi. Liệu tôi có giữ được ngọn đèn đức tin cháy sáng cho đến ngày ra gặp mặt Chúa?
Mùa Chay chính là cơ hội cho tôi khêu ngọn đèn đức tin cho sáng, đổ dầu đầy bình cho ngọn đèn đức tin cháy mãi. Dầu, đó là sự ăn chay, cầu nguyện, là thống hối, là hoà giải, là chia sẻ cho người túng thiếu.
Xin Chúa Kitô là ánh sáng trần gian dẫn con đi suốt hành trình đức tin để con thoát mọi bóng tối, đến gặp Người là ánh sáng tinh tuyền, ánh sáng vĩnh cửu.
GỢI Ý CHIA SẺ
1) Bạn đã từng bị thử thách về đức tin chưa? Bạn đã thắng vượt như thế nào?
2) Từ khi được Rửa Tội đến nay, bạn có “biết” Chúa ngày càng rõ hơn không?
3) Chúa đã tỏ mình ra cho bạn thế nào qua những thử thách trong cuộc đời?
4) Anh thanh niên mù đã trải qua những khó khăn nào trong hành trình đến gặp Chúa Giêsu?
————————————————–
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
CHÚA LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Bước vào Chúa nhật IV Mùa Chay (Lætare), Phụng Vụ của Giáo hội đang từ màu tím chuyển sang màu hồng, màu của bình minh, đánh dấu nửa chặng đường sám hối, nay Giáo hội tạm dừng để chuẩn bị tốt hơn niềm vui Phục Sinh, nghỉ để nhìn lại những gì ta đã làm trong ba tuần đầu của Mùa Chay, lấy thêm can đảm bước tiếp những chặng đường tới.
“Mừng vui lên, Giê-ru-sa-lem ! Tề tựu cả về đây, hỡi những ai hằng mến yêu Thành ! Các bạn đang sầu khổ, nào hớn hở vui mừng và hân hoan tận hưởng, nguồn an ủi chứa chan.” (Ca nhập lễ) Hay lời của Thánh vịnh gia : “Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi : Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa. Vui lên nào…… “. Những lời trên diễn tả niềm vui ngập tràn và thiêng thánh. Giáo hội chúc mừng con cái mình đã hăng hái đi được nửa hành trình của Mùa Chay Thánh. Làm sao không thể không vui không mừng được. Mừng vui lên, hỡi những người trước kia ở trong sầu khổ, ” Cùng Giê-ru-sa-lem khấp khởi mừng… được Thành Ðô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang…đón nhận dồi dào ơn an ủi …” (Is 66,10-11).
Vậy đâu là lý do sâu xa để vui mừng ?
Lý do ấy là : ” Nhờ mầu nhiệm nhập thể, Người dẫn đưa nhân loại đang lần bước trong u tối đến nguồn ánh sáng đức tin. Nhờ phép rửa mang lại đời sống mới, Người giải thoát những kẻ sinh ra đã mắc tội truyền, và nâng lên hàng nghĩa tử của Chúa… ” (Kinh Tiền Tụng Chúa nhật IV Mùa Chay năm A). Đoạn Tin Mừng thánh Gioan ghi lại hôm nay cho chúng ta câu trả lời cụ thể khi Chúa Giêsu chữa lành một người mù từ khi mới sinh. Câu Chúa Giêsu hỏi người mù là đỉnh cao của trình thuật: “Ngươi có tin nơi Con Thiên Chúa không?” (Ga 9,35) Như một “người” giữa bao nhiêu người khác, anh người mù này mới đầu gặp Chúa Giêsu, khác mọi người là anh coi Chúa Giêsu là “một ngôn sứ”, sau cùng đôi mắt anh mở ra, từ ánh sáng của đôi mắt đến ánh sáng của đức tin, anh tuyên xưng Chúa Giêsu là “Chúa” và trả lời câu hỏi Ngài đặt ra cho anh : “Lạy Thầy, tôi tin!” (Ga 9,38). Như thế là đã rõ, Chúa Giêsu chữa người mù khỏi mù, anh thấy ánh sáng và anh tin vào Chúa Giêsu. Cũng như cả và nhân loại sau khi nguyên tổ phạm tội phải bước đi trong u tối, nay Chúa Giêsu đến, tự giới thiệu mình là Ánh Sáng thế gian dẫn đưa nhân loại khỏi bóng tối của tội lỗi, phục hồi phẩm giá địa vị làm con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu là sự sáng thế gian
Ngài từ trời xuống thế, để cho phàm nhân được thấy Ngài và qua Ngài họ thấy Chúa Cha; chỉ có người mù mới không thể nhìn thấy Chúa. Ngài đã mở mắt người mù, để người mù thấy được Chúa Cha ở nơi Ngài. Ngài giới thiệu : ” Ta là sự sáng thế gian” (Ga 9, 5) ; ” Là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.” (Ga 1,9) Ngài chữa lành sự mù quáng của con mắt đức tin nơi những người không thấy để mà tin.
Ađam được Thiên Chúa sáng tạo với con mắt tinh tường, nhưng sau khi giao tiếp với con rắn xong, ông trở nên mù quáng (x. St 3, 1-7). Anh mù bẩm sinh vẫn ngồi… mà không xin bất kỳ một loại thuốc mỡ nào để chữa mắt mình … anh chỉ hết mù khi anh tin (x. Ga 9,1-41). Chúa Giêsu, Vị thầy thuốc cao tay đã nhìn thấy những đau khổ của người mù ngồi đó và xin làm phúc, bằng quyền năng Thiên Chúa, Ngài đã làm phép lạ cho người mù được thấy.
Ađam được Thiên Chúa dựng tạo dựng bằng đất sét, bùn ướt : ” Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” ( St 2, 7), nay chất liệu ấy được Chúa Giêsu dùng để chữa lành đôi mắt. Ngài đã phục hồi thị giác cho người mù từ khi mới sinh bằng nước bọt nhổ ra trộn vào đất, anh người mù nói : ” Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt ” (Ga 9,1-11). Ngài là quả là Ánh Sáng chiếu sáng thế gian và cho con người được nhìn thấy ánh sáng.
Chúng ta là con cái ánh sáng
Từ ánh sáng đến đức tin hay từ đức tin đến ánh sáng tỏa sáng trên khuôn mặt của người mù giúp chúng ta hiểu rằng, ngày chúng ta chịu phép rửa tội, ánh sáng của Chúa Kitô cũng chiếu tỏa trên chúng ta, chữa chúng ta khỏi sự mù quáng tội lỗi, làm cho chúng ta trở thành con cái ánh sáng. Đó là điều Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta : ” Bây giờ anh em là ánh sáng trong Chúa” (Eph 5, 8). Thế nên, nhờ phép rửa trong Chúa Kitô, trước kia chúng ta là những người ở trong bóng tối, nay trở thành ánh sáng. Kể từ ngày hôm đó chúng ta là con người mới hoàn toàn.
Nhờ phép rửa tội, người kitô hữu trở thành ” con của sự sáng ” (Eph 5, 8) hay nói cách khác, trở thành ” con cái Thiên Chúa ” (1 Ga 3,1). Người con đích thực của Thiên Chúa là Chúa Kitô đã chiếu tỏa rạng ngời ánh sáng Chúa Cha, để bất cứ ai được tái sinh trong Ngài, có thể thông truyền ánh sáng đức tin ấy cho người khác, tức là sinh ” hoa trái của sự sáng ” (Eph 5, 9). Vì vậy, trong Mùa Chay này, chúng ta hãy để ánh sáng ấy chiếu tỏa trên chúng ta để qua chúng ta mọi người có thể tìm thấy Thiên Chúa là Ánh Sáng đích thực.
Chúa Giêsu là ‘Ánh sáng thế gian‘ (Ga 8,12). Trong nghi thức Rửa tội, việc trao nến sáng và thắp sáng từ cây nến Phục Sinh tượng trưng Chúa Kitô Phục sinh, là dấu hiệu giúp chúng ta hiểu rõ những gì xảy ra trong Bí tích này. Khi chúng ta để cho mình được mầu nhiệm Chúa Kitô soi sáng, chúng ta sẽ cảm nghiệm niềm vui được giải thoát khỏi tất cả những gì đe dọa sự viên mãn của cuộc sống ấy.
Lễ Phục Sinh đã gần kề, chúng ta hãy vui lên và khơi dậy nơi mình hồng ân đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy nhiều khi có nguy cơ bị dập tắt. Chúng ta hãy nuôi dưỡng ngọn lửa đó bằng kinh nguyện và lòng bác ái đối với tha nhân.
Xin Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của mỗi người chúng ta dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa Kitô, là Ánh Sáng thật và là Ðấng Cứu Thế. Amen.
——————————————————
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
MÙ LÒA VÀ MÙ QUÁNG- Lm. Inhaxio Trần Ngà
Xuyên qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai loại mù: mù loà của đôi mắt thể xác và mù quáng của tâm hồn, của đầu óc.
Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng hôm nay tuy bị mù đôi mắt thể xác nhưng anh ta lại sáng suốt hơn những người Pha-ri-sêu tự cho mình tinh thông.
Trong khi đó, những người Pha-ri-sêu tự hào là người khôn ngoan thông sáng, nhưng họ đang bị mù quáng mà chẳng hay. Họ bị thành kiến che chắn trí khôn nên họ không nhận ra Đức Giê-su là Đấng cứu độ nên họ đã không được đón nhận ơn cứu độ do Ngài tặng ban.
Những người mù loà vốn rất hiền hòa. Chưa từng nghe nói người mù gây ra tội ác hay phạm pháp bất cứ ở đâu. Họ xứng đáng được mọi người tôn trọng và yêu mến.
Còn người mù quáng là những người thường gây ra lỗi lầm và tội ác nên họ thường bị người đời lên án, khinh chê.
Có nhiều hình thức mù quáng gây ra hậu quả rất tai hại:
Mù quáng vì tham lam
Sách Các Vua có thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, đã dàn dựng một vụ án quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta. (Sách Các Vua I, chương 21)
Mù quáng vì ghen tị
Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chặt đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay trở về trong chiến thắng, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít khắp nơi quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy. (Samuen I, chương 18)
Mùa quáng vì dục tình
Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ. (Samuen II, chương 11)
Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng bùn tội ác lúc nào không hay.
Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.
Hai điều tai hại do mù quáng phát sinh
Một là người mù quáng không tự biết tình trạng mù quáng của mình, nên không cảm thấy cần được cứu chữa. Thế là họ cứ bị mù quáng cho đến mãn đời; mà vì mù quáng suốt đời nên cũng thường mắc phải lầm lỗi suốt đời.
Hai là cho dù có nhận biết mình mù quáng đi nữa, người ta cũng không cho đó là điều nghiêm trọng, nên không thấy cần được cứu chữa.
Bất cứ người mù nào cũng khao khát được sáng; nhưng điều đáng tiếc là nhiều người mù quáng, vì không tự biết mình mù, nên không ước ao thoát khỏi tình trạng mù quáng hết sức tai hại của mình.
Ai trong chúng ta cũng lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào một lúc nào đó trong đời. Vậy chúng ta hãy nguyện xin Chúa Giê-su soi sáng để chúng ta nhận thức rằng mù quáng vô cùng tai hại và cố tìm cách cứu chữa mình khỏi chứng bệnh rất nguy hại nầy.
Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau.
—————————————————–
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
BƯỚC NHẢY CỦA NIẾM TIN- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Một nhạc sỹ viết ca khúc “Đôi mắt” với ca từ dễ thương:
Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời.
Để nhìn đời và để làm duyên.
Mẹ cho em đôi mắt màu đen.
Để thương để nhớ, để ghen để hờn.
Đôi mắt em là cửa ngỏ tâm hồn.
Là bài thơ hay nhất.
Là lời ca không dứt
Là tuyệt tác của thiên nhiên.
Đôi mắt là cửa ngỏ tâm hồn, là tuyệt tác thiên nhiên.
Thi sĩ Lưu trọng Lư viết hai câu thơ thật đẹp về tình yêu trong đôi mắt:
“Mắt em là một dòng sông,
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em” .
Trong bài viết “Đôi mắt”, Linh mục Nguyễn Tầm Thường suy niệm về đôi mắt mù lòa của Nguyên Tổ đã đưa tội lỗi vào trần thế. Chúa Kitô đến chữa lành và trao ban cho nhân loại đôi mắt mới, đó là mắt đức tin. Xin được mượn tư tưởng của ngài để suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay: “Chúa Giêsu chữa người mù từ thuở mới sinh”.
Đôi mắt là cửa sổ và là cửa chính của tâm hồn cũng như của thân xác. Mắt là cảm hứng cho thi sĩ, nhạc sĩ. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương, nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng là đôi mắt đẹp. Trái lại, khi Thánh Kinh nói về mắt lại nói về đôi mắt mù. Từ những trang đầu, sách Sáng Thế đã nói về mắt: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng.” (St 3,4 -7). (x.Nước mắt và hạnh phúc tr. 69 -71)
Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình:
– Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.
– Evà nhìn trái táo và thấy sướng mắt.
– Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.
Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.
Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: mắt cả hai người đã mở ra. Nhưng không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. Mắt hai người đã mở ra. Câu Thánh kinh thật ngắn ngủi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. Ađam, Evà đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù lòa chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế.
Chúa Kitô đã đến trần gian chữa lành sự mù lòa ấy, hàn gắn lại vết thương thuở sa ngã của Nguyên Tổ.
Khi liên kết phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù lòa của Nguyên Tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian. “Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thuở địa đàng. Chúa Kitô đã mang ánh sáng cho thế gian, Ngài ban cho nhân loại đôi mắt đức tin.
Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin. Niềm tin vào Chúa Giêsu của người mù tăng dần theo với thử thách.
Thánh Gioan kể có bốn cuộc thử thách.
Thử thách lần thứ nhất (Ga 9,8-12), những người láng giềng và những người trước kia thường thấy anh ta ăn xin chất vấn: “hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?”. Người mù xác nhận: “Tôi đi, tôi rửa, tôi nhìn thấy”. Anh không biết Chúa là ai: “Ông ấy ở đâu, tôi không biết”. Anh coi Chúa Giêsu chỉ là một con người, một người nào đó trong muôn vạn người: “Một người tên Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi”.
Thử thách lần thứ hai (Ga 9,12-17), những chất vấn của giới Pharisiêu và lời nhạo báng: “một ngưởi tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?”. Trước sức ép của họ, anh suy nghĩ sâu xa hơn và anh nhận rằng “Ngài thật là vị tiên tri”.
Thử thách lần thứ ba (Ga 9,18-23), họ gọi cha mẹ của anh ta đến để làm chứng, nhưng hai người sợ hãi nên nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”. Anh mù trực tiếp trả lời về nguồn ánh sáng đã đón nhận.
Thử thách lần thứ tư (Ga 9,24-34), người Pharisiêu dùng đến Lề Luật. Người mù không cần biết đến Luật. Anh ta dựa vào cảm nghiệm cá nhân đã gặp Đức Kitô. Cuộc tra vấn của giới chức tôn giáo khiến anh khẳng định: “Người từ Thiên Chúa mà đến”.
Khi bị trục xuất ra khỏi hội đường, Chúa Giêsu gặp lại anh và mạc khải cho biết Ngài là Con Thiên Chúa, anh liền tuyên xưng đức tin: “Lạy Thầy, tôi tin” (Ga 9,37). Niềm tin của người mù tăng triển qua ba giai đoạn. Từ không biết ông ấy ở đâu cho đến ông ấy là một tiên tri, rồi sấp mình thờ lạy Ngài. Sự tiến triển niềm tin qua những lần thử thách. Càng gặp thử thách niềm tin càng sáng lên. Thử thách càng cao đức tin càng mạnh. Người mù trung thành với cảm nghiệm của mình. Đức tin lớn lên qua những hiểm nguy và đe dọa.
Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào Lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Silôác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pharisiêu đang tra vấn, khủng bố anh : “Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giêsu lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Silôác. Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy”. Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: ”Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giêsu và được hỏi: “Anh có tin Con Người không?”, anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?”. Chúa Giêsu tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp:“Lạy Thầy, tôi tin”. Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.
Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giêsu trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin. Phép lạ chữa người mù thuở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Chúa Giêsu là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù lòa của nhân loại, với một điều kiện: Tin vào Ngài.
Chúa Giêsu cũng chữa nhiều người mù lòa tâm hồn. Người mở mắt cho Dakêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi (Lc 9,1 -10). Người mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm (Lc 7,36 -50). Người mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương (Lc 23,32 – 43)…
Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Kitô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xóa tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô.
“Thầy là Ánh Sáng trần gian. Ai theo Thầy sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có Ánh Sáng dẫn đến cõi trường sinh” (Ga 8,12). Hãy luôn cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta đôi mắt sáng suốt của đức tin, nhờ đó chúng ta biết được ý nghĩa của cuộc đời, thấy được con đường phải đi và những việc phải làm để đạt đến hạnh phúc thật.
Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt, đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin. Người mù tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Ðức Giêsu là một ngôn sứ. Anh thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.
Lạy Chúa, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt.
Để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt.
Để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên.
Để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.
Và lạy Chúa, xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen
——————————————————
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
MỞ MẮT NHÌN ĐỜI- Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Có một mẩu đối thoại như sau:
Ông A: Có một tín hiệu đáng mừng, cho thấy sự suy giảm đạo đức đã chững lại, cái tốt đang được thổi bùng lên.
Ông B: Khi cuộc sống no đủ, người ta sẽ không tham tiền của người khác nữa.
Ông A: – Giàu có thì nói làm gì. Có một người phụ nữ tên là Nguyễn Thị Hoài ở tỉnh Nghệ An nhặt được 10 triệu đồng ở ven đường. Cô ấy đã tìm đến khổ chủ trả lại dù bản thân rất nghèo, lại bị khuyết tật nặng.
Ông B:- Chắc khi nhặt được có người trông thấy nên mới đem trả chứ gì?
Ông A- Không hề, trên đường đi nhận tiền mai táng cho bố, cô này nhìn thấy bọc tiền trong đám cỏ, trên đường vắng tanh không một bóng người.
Ông B- Cô này bị tàn tật chắc cũng chẳng ăn uống được mấy nên số tiền đó không cần thiết lắm cho cuộc sống, giữ lại trong nhà, trộm cướp biết được đến ‘hỏi thăm’ thì khốn, trả cho yên chuyện.
Ông A:- Ai chẳng cần tiền, cô ấy có thể không ăn uống được nhiều nhưng tiền thuốc men là hết sức cần thiết. Một người luôn bị ốm đau, bệnh tật mà vượt qua được sức cám dỗ của đồng tiền như cô Hoài là rất đáng quý, thật đáng trân trọng. Bác không nên nghi ngờ người có lòng tốt như vậy.
Ông A:- Sở dĩ dạo này tôi mất niềm tin vào con người bởi đến đâu cũng gặp nhan nhản những kẻ giàu nứt đố đổ vách rồi mà vẫn tìm cách cấu véo, bòn rút của người nghèo. Những người như cô Hoài là hiếm hoi lắm, tôi tỏ ra nghi ngờ là để thử lòng bác thôi.
Đôi khi vì những gì diễn ra hằng ngày khiến chúng ta có cái nhìn sai lệch về thế giới chung quanh. Chúng ta thường đổ đồng mọi sự theo nhãn quan của mình. Nhất là vì lòng ích kỷ mà chúng ta nhìn người bằng ánh mắt xét nét, đa nghi. Cho dù họ làm việc tốt, họ làm việc thiện cũng bị chúng ta nhìn với ánh mắt nghi ngờ và kết án.
Nhất là giữa một thế giới gian ác, lắm thị phi khiến chúng ta luôn nhìn đời bắng ánh mắt bi quan. Chúng ta thường nhìn vấn đề trong cái nhìn tiêu cực hơn là tích cực. Giả dụ bây giờ được hỏi máy bay Malaysia mất tích ngày 08.03 vừa qua do nguyên do gì? Có lẽ đa phần sẽ trả lời là do khủng bố. Bởi thế giới ngày nay người ta quá quen với những hình ảnh khủng bố, máu đổ, chém giết, bom đạn.
Có một lần, một người nói với tôi họ mất một con gà và họ nghi ngờ người hàng xóm lấy trộm. Tôi hỏi rằng: Có bằng chứng không? Tại sao chị không nghi ngờ là con gà của mình nó bị con chồn bắt mất hay mèo hoang ăn mất. Vì nơi nhà chị là giữa đồng hoang . . .? Đừng kết án vội kẻo sai lầm tội nghiệp cho họ.
Đây cũng là cái nhìn cố hữu của những người biệt phái. Họ nhìn để bắt bẻ, để xem có đúng luật hay không? Thế nên, thường là họ tìm cách quy kết tội vào một con người. Những người biệt phái có lẽ cũng đã quá quen nhìn mọi sự trong cái nhìn bi quan nên họ không thể nhận ra cái tốt nơi tha nhân. Họ chỉ muốn phân tích theo chiều hướng tiêu cực hơn là tích cực.
Chúa Giê-su là Đấng có thể mang lại ánh sáng cho người mù. Ánh sáng của tâm hồn và thể xác. Mù kiểu nào cũng đáng thương, cũng tội nghiệp. Mù kiểu nào nhìn sự việc cũng khiếm khuyết, cũng không trọn vẹn, cũng sai lầm. Nhất là những người mù về tình người sẽ làm cho họ nhìn đời, nhìn người bằng ánh mắt ghen tương, giận hờn …
Thế nên, hãy để cho Chúa chữa trị con mắt của chúng ta. Hãy để cho Chúa mang lại ánh sáng cho cặp mắt chúng ta nhìn đời, nhìn người trong cái nhìn của yêu thương, của hy vọng. Một cái nhìn cuộc đời thật đơn giản, thật đáng yêu.
Đây cũng là cái nhìn mà Xuân Diệu đã từng nói:
Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non
Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
Hãy để cho bà nói má thơm của cháu
Hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu
Khi nhìn đời bắng ánh mắt lạc quan sẽ giúp ta nhìn người trong cái nhìn thân thiện, nhìn cuộc đời mới đáng yêu làm sao! Nhìn người đi trước trong cái nhìn kính trọng, nhìn người đi sau trong cái nhìn trân trọng. Và hơn nữa, muốn nhìn đời cho đúng phải biết chỗ đứng của mình mới có cái nhìn chính xác về cuộc đời.
Đôi mắt xanh non cha xin của con
Người đi trước xin của người sắp tới
Biết chỗ đứng để nhìn cho thật mới
Cuộc sống xanh non mãi mãi tươi giòn….
Xin Chúa Giê-su là ánh sáng trần gian soi sáng tâm trí để chúng ta biết nhìn đời thật đáng yêu, nhìn người bên cạnh thật đáng trân trọng. Xin đừng vì ích kỷ, mù quáng mà sống thiếu tình thân với tha nhân. Amen
——————————————————
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
ĐÔI MẮT TÂM HỒN- Trích Logos A
Ngày xưa, tại ngôi làng kia, có đôi vợ chồng rất đặc biệt : chồng gù lưng xấu xí, nhưng siêng năng, tốt bụng và hay giúp đỡ người khác. Còn người vợ thì xinh đẹp nhưng lại mù lòa. Ngày ngày, chàng gù lên rừng đốn củi bán lấy tiền nuôi vợ. Tuy nghèo và tàn tật, nhưng họ sống bên nhau rất hạnh phúc.
Ngày kia, thấy chàng gù siêng năng, tốt bụng lại hay thương người, một vị tiên đã hiện ra với chàng gù đang lúc đốn củi và ban cho lọ thuốc thần. Vị tiên bảo chàng gù đem về xức lên mắt vợ để nàng được sáng mắt.
Chàng gù hết sức vui mừng vì có trong tay lọ thuốc thần đem lại ánh sáng cho người vợ mù lòa. Nhưng ngay lúc ấy, chàng gù chợt nghĩ : nếu vợ được sáng mắt, nàng sẽ nhìn thấy vẻ ngoài dị dạng, xấu xí của anh ta, liệu nàng có chấp nhận anh ta, hay sẽ bỏ rơi anh ta mà đi lấy người khác ?
Chàng gù bị giằng co trước hai sự chọn lựa : cho nàng sáng mắt hay cứ để nàng mù lòa ?
Cuối cùng, vì nghĩ đến hạnh phúc của vợ, chàng gù đã đưa lọ thuốc thần cho vợ, kể lại mọi việc, rồi âm thầm trốn đi.
Sau khi sáng mắt, người vợ vội vã đi tìm chồng và thấy anh ta nằm gục bên bờ suối vì đói khát. Nàng không những vẫn chấp nhận anh ta, mà còn thề sẽ tự vẫn nếu anh ta không quay về với nàng. Chàng gù đã trở về và hai người lại sống bên nhau thật hạnh phúc.
Qua câu chuyện cổ tích, chúng ta thấy đôi mắt thể xác quí giá biết bao, nhưng đôi mắt tâm hồn còn đáng quí hơn nữa. Người vợ đã biết nhìn người chồng tật nguyền bằng đôi mắt tâm hồn, để thấy được tấm lòng cao thượng của anh ta, mà giữ được sự thuỷ chung son sắt.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng, thánh Gioan cũng kể cho chúng ta nghe câu chuyện Chúa cho anh mù bẩm sinh được sáng mắt. Không những Chúa chữa lành đôi mắt thể xác của anh ta, nhưng Chúa còn ban ánh sáng cho đôi mắt tâm hồn anh ta nữa.
Ca dao Việt Nam có câu :
Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.
Người đời thường đánh giá con người qua dáng vẻ bên ngoài. Họ thường nhìn sự vật và con người qua lăng kính trần tục. Vì vậy, cái nhìn của họ bị méo mó, hoặc bị che khuất bởi những định kiến. Chúng ta gọi đó là cái nhìn của đôi mắt thể xác. Trong câu chuyện Tin Mừng, nhiều nhân vật đã mang đôi mắt đó :
– Các môn đệ đã nhìn thấy bệnh mù lòa là hậu quả của tội lỗi. Các ông chỉ nhìn thấy một Thiên Chúa nghiêm khắc hay trừng phạt những tội nhân. Họ không nhận ra Thiên Chúa khoan dung đầy lòng tha thứ. Với cái nhìn thành kiến, các môn đệ đã thiếu một trái tim nhân hậu, một tấm lòng xót thương đối với những kẻ khốn cùng và bất hạnh.
– Người Do Thái và những người láng giềng đã nhìn Chúa Giêsu như kẻ tội lỗi, không bởi Thiên Chúa mà đến. Họ tự hào mình là môn đệ của Môisen. Chính lòng tự cao tự đại đã che mờ đôi mắt đức tin, khiến họ không nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Với cái nhìn của quan tòa, họ dẫn người mù đến với những người biệt phái để được “xét hỏi”.
– Những người biệt phái chỉ nhìn thấy Chúa Giêsu là kẻ vi phạm luật ngày Sabbat, vì Chúa đã chữa mắt cho người mù trong ngày kiêng việc. Tinh thần “nệ luật” đã làm đôi mắt họ thành mờ tối, nên họ không nhận ra “giới luật yêu thương”. Chính sự ham thích quyền lực đã che mờ đôi mắt yêu thương, nên họ chỉ thấy người mù là “kẻ sinh ra trong tội lỗi”. Họ đã khai trừ anh ta ra khỏi hội đường.
Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt thể xác, chúng ta không thể thấy ánh sáng tình thương. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt thể xác, chúng ta chẳng khác gì người mù, mãi mãi sống trong bóng tối nghi nan, hận thù và thất vọng.
Người ta thường nói : “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”. Vì thế, nhìn bằng đôi mắt tâm hồn, là chúng ta mở cửa tâm hồn để đón nhận ánh sáng của Chúa.
Người mù từ lúc mới sinh được Chúa chữa lành đôi mắt thể xác, nhưng anh ta cũng được Chúa mở đôi mắt tâm hồn. Chúa mở “cánh cửa sổ tâm hồn” cho người mù, nên anh đã nhận được ánh sáng niềm tin.
Khởi đầu, đức tin chỉ là những tia sáng nhỏ bé chiếu soi vào cuộc đời tăm tối của anh ta. Khi mới được chữa lành đôi mắt, anh chỉ nhận ra Chúa là “một người nào đó tên là Giêsu”. Trải qua những công kích, những tra vấn và xét hỏi, anh vẫn can đảm tiến bước không chút sợ hãi. Anh đã nhận được ánh sáng niềm tin nhiều hơn và tuyên xưng : “Chúa chính là một tiên tri”. Khi sự thử thách lên đến cao điểm : anh bị đuổi ra khỏi hội đường, anh càng kiên vững hơn. Đến lúc ấy, Chúa đã mở toang “cánh cửa tâm hồn” để cuộc đời anh được chan hòa ánh sáng đức tin. Anh nhận ra Chúa là Con Thiên Chúa và đã tuyên xưng : “Lạy Thầy, con tin”.
Hôm nay, chúng ta hãy nhìn bằng đôi mắt của Chúa, đôi mắt yêu thương và chân tình, vì “con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn” (Bài đọc I).
Mỗi người chúng ta được mời gọi mở rộng “cánh cửa tâm hồn” với cái nhìn chân thật, nhìn vào mình, nhìn anh em và nhìn Thiên Chúa. Với đôi mắt tâm hồn, ta nhìn vào mình để nhận ra những yếu hèn cần sám hối ăn năn, nhìn vào anh em để thấy những khổ đau bất hạnh mà cảm thông đỡ nâng, nhìn vào Thiên Chúa để can đảm tiến bước trên hành trình đức tin.
Trong cuốn sách “Những Kẻ Thích Đùa”, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Azit Nêxin đã kể câu chuyện sau :
Có anh chàng kia rất thích đeo kính để trông có vẻ trí thức. Từ ngày thích đeo kính, tự nhiên anh ta có cảm giác mắt mình mờ đi, nhìn vật gì cũng không rõ.
Anh đến tiệm cắt kính, người ta bảo anh bị cận thị. Anh cắt một cặp kính cận đeo vào. Nhưng đeo kính cận, anh thấy mọi vật càng mờ hơn.
Anh đến một tiệm khác, người ta bảo anh bị viễn thị. Anh mang kính viễn thị thì thấy nhức đầu, mặt mày xây xẩm.
Anh đến một tiệm khác, người ta bảo anh không cận, không viễn mà bị loạn thị. Anh đeo kính loạn thị, thì thấy mọi vật chao đảo, quay cuồng.
Bực mình, anh cứ để vậy đeo. Một hôm, khi bước xuống bậc thang siêu thị, vì không nhìn rõ, anh bị té nhào, văng cả kính. Người ta đỡ anh dậy. Anh lần mò tìm được cặp kính đeo vào, thì lạ quá ! Anh thấy mọi vật thật rõ ràng, đâu ra đấy !
Anh vui vẻ về nhà. Vừa bước vào nhà, vợ anh nhìn thấy liền kêu lên : “Kính anh sao kỳ vậy ?”. Anh bỏ kính xuống xem, thì thấy cặp kính chỉ còn cái gọng ! Tròng kính bị văng đâu mất. Lúc ấy, anh mới biết vì đeo kính không tròng, anh mới nhìn rõ mọi vật.
Thì ra, anh chẳng bị bệnh gì về mắt cả, chỉ mắc bệnh thích ra vẻ trí thức thôi !
Ngày nay, đôi mắt chúng ta bị mờ tối, thậm chí bị mù lòa vì chúng ta đeo những cặp kính thiên kiến, lệch lạc. Mang cặp kính ghen ghét, chúng ta thấy người khác thật khó thương. Mang cặp kính ích kỷ, ta chỉ nhìn thấy mình. Mang cặp kính dục vọng, ta không nhìn thấy Chúa.
Trong mùa chay này, xin Chúa hãy mở mắt tâm hồn chúng ta, để chúng ta nhìn rõ bản thân mà sám hối và hoán cải, nhìn rõ tha nhân để yêu thương và giúp đỡ, nhìn rõ Chúa để trung thành bước theo Ngài.
————————————————————–
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY- NĂM A
CHÚA GIÊSU, ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN- Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa một người bị mù từ thuở mới sinh. Mới nghe qua, chúng ta thấy có vẻ không có gì khác với các phép lạ khác mà Chúa Giêsu đã làm. Tuy nhiên, đối với thánh sử Gioan, việc Chúa Giêsu làm phép lạ không chỉ đơn thuần là một phép lạ, nhưng đó là một dấu chỉ, để từ đó khơi dậy niềm tin và củng cố niềm tin cho các tông đồ và cả chúng ta ngày hôm nay. Điều này đã được chính vị thánh sử quả quyết trong lời kết sách Tin mừng của mình: “Các điều đã viết đây, là để anh em tin rằng: Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ Danh Ngài” (Ga 20, 31; x. Ga 2, 11).
Vì thế, khi thuật lại phép lạ chữa người mù hôm nay, thánh sử Gioan như muốn quả quyết rằng: Chúa Giêsu chính là ánh sáng, để từ đây, tất cả những ai tin vào Ngài sẽ không phải đi trong tối tăm. Đây quả là một tin vui cho tất cả chúng ta. Chính trong niềm hân hoan đó, hôm nay phụng vụ cho phép sử dụng lễ phục hồng ngay giữa mùa Chay thánh này.
Bóng tối và ánh sáng
Trở lại với câu chuyện trong bài Tin mừng: Khi ấy, trên đường đi, Chúa Giêsu thấy một người mù từ khi mới sinh đang ngồi xin ăn bên vệ đường. Ngay lập tức, các môn đệ lên tiếng hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, y hay cha mẹ y, khiến y bị mù từ thuở mới sinh?”. Một câu hỏi hết sức tự nhiên, và có lẽ cũng là vấn nạn cho mỗi người chúng ta hôm nay trước các mầu nhiệm của sự dữ. Chúng ta vẫn không thể nào hiểu nổi tại sao nhiều người lành vẫn luôn gặp nhiều thử thách, trong khi có những kẻ đang sống cuộc sống vô luân, vẫn nhởn nhơ “ngoài vòng pháp luật”. Tuy nhiên, khi hỏi Chúa Giêsu: “Ai đã phạm tội”, chúng ta thấy: các môn đệ đã không qui trách mọi sự cho Thiên Chúa, nhưng cũng đã nhận ra rằng: tội chính là nguyên nhân của mọi đau khổ. Vấn đề ở đây là tội của ai: Tội của người mù hay tội của cha mẹ anh? Nhưng ngay khi đặt vấn đề như vậy, các môn đệ cho thấy rằng dù con mắt thể lý của họ sáng, nhưng con mắt đức tin của họ vẫn chưa thật sáng. Chúa Giêsu đã trả lời cho họ: “Không phải y, cũng chẳng phải cha mẹ y đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa được tỏ ra nơi y”. Khi nói như thế, Chúa Giêsu không phủ nhận hậu quả của tội, nhưng Ngài muốn nhắm tới một việc xa hơn. Cho dù đó là tội của ai đi chăng nữa, nhưng nếu có lòng tin vào Ngài, và hoán cải, thì tất cả sẽ được chữa lành và cứu sống, bởi Chúa Giêsu đến trong thế gian không phải để kết án, “nhưng để nhờ Ngài mà thế gian đựơc cứu” (Ga 3, 17). Chính lúc Thiên Chúa chữa lành những điều đã hư mất như thế, là một cách thế làm cho Danh Ngài càng được tỏ rạng, vì việc sửa chữa luôn luôn khó hơn là làm cái mới.
Tiếp tục theo lời kể của thánh Gioan, chúng ta thấy ngay sau khi người mù này được chữa lành, thì lập tức xảy ra nhiều cuộc tranh luận khác nhau. Trước hết là của những người láng giềng của người mù: Người thì nói đúng là anh ta; có kẻ lại bảo là một người khác giống anh ta. Còn anh ta thì bảo: “Chính tôi đây”. Nghe những tranh luận này, chúng ta cũng không biết ai là người mù thật.
Kế đó là những người Biệt phái, những người tự hào là thông thái, sáng suốt nhờ hiểu biết lề luật. Đối với họ Chúa Giêsu “không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Còn người mù thì quả quyết: “Đó là một tiên tri”. Như thế, anh mù đã dần dần nhận ra căn tính của Chúa Giêsu nhờ việc anh ta được chữa lành và còn nhờ việc anh lắng nghe ý kiến của những người xung quanh: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?”. Còn những người Biệt phái vì mãi lệ thuộc vào những luật lệ cứng ngắc, nên đã không nhận ra căn tính của Chúa Giêsu. Họ vẫn đang ở trong tối tăm, còn anh mù đã từng bước đi vào nơi ánh sáng. Và cuối cùng khi bị những người Biệt phái đuổi ra ngoài, anh lại được Chúa Giêsu đón gặp, và trong lần gặp gỡ này, anh đã lớn tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, tôi tin”. Gặp được Chúa Giêsu, anh đã được chữa lành cả thể xác lẫn tâm linh. Anh đang thực sự bước đi trong ánh sáng của đức tin, ánh sáng ban sự sống của Chúa Giêsu Kitô.
Bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa:
Một người tự biết mình là “mù từ thuở mới sinh”, lúc đầu chỉ biết rằng: người làm cho mình được thấy là một người mang tên Giêsu nào đó, và rồi từng bước một, nhờ chính những tranh luận của những người chung quanh và nhất là nhờ tác động trực tiếp của Thiên Chúa, anh đã nhận ra Chúa Giêsu chính là “một tiên tri”. Và cuối cùng anh đã tin rằng: Chúa Giêsu chính là “Con Thiên Chúa”.
Trong khi đó, những người láng giềng, hàng ngày đều thấy anh, giờ đây, vì cứ mãi cố chấp trong những định kiến của mình, nên không nhận ra được anh chính là người mù trước kia. Và ngay cả những người Biệt phái cũng không hơn gì. Họ cứ mãi dựa vào những luật lệ cứng ngắc, vô hồn, tự lấy mình làm khuôn mẫu cho mọi người, nên cũng không nhận ra Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa, bởi lẽ: “Không ai có thể mở mắt cho người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa mà đến”. Những người này vẫn nhìn, nhưng họ không thấy. Họ vẫn đang bị mù!
Và không chỉ là đám dân Do thái, và những người Biệt phái khi xưa, mỗi người chúng ta ngày hôm nay cũng có thể đang “bị mù”. Chúng ta sẽ trở nên mù khi chỉ dựa vào vẻ bên ngoài để đánh giá anh chị em của mình. Đành rằng, vẻ bên ngoài cũng biểu lộ một phần nào con người bên trong của mỗi người, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Cha ông chúng ta vẫn thường nói: “Hoạ hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt; tri nhân, tri diện bất tri tâm”, “biết người, biết mặt, không biết được tâm hồn”. Ngay cả ngôn sứ Samuel, khi vừa vào đến nhà của Isai, ông cũng đã bị lầm lẫn bởi vẻ bên ngoài của Eliab, ông thưa với Thiên Chúa: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?”. Nhưng Chúa đã phán với Samuel rằng: “Đừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi; Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”.
Thiên Chúa không xem xét theo kiểu của con người. Ngài không đánh giá và phán xử chúng ta theo những điều chúng ta thực hiện bên ngoài. Dưới ánh sáng của Thiên Chúa chẳng có gì dấu kín mà không bị lộ ra. Ánh sáng của Thiên Chúa soi dọi đến tận cõi thâm sâu trong tâm hồn của mỗi người chúng ta, và Ngài thấu suốt mọi ngõ ngách, biết rõ từng ý nghĩ, từng toan tính trong tâm hồn của mỗi người chúng ta.
Do đó, để có thể nhìn thấy rõ, và không bị lầm lẫn, mỗi người chúng ta cần bước đi dưới ánh sáng của Lời Chúa. Chúng ta cần đến với Chúa Giêsu là Nguồn sáng thật. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 1, 12). Nhận được ánh sáng của Chúa Giêsu từ ngày lãnh nhận phép Rửa, mỗi người chúng ta đã thoát ra khỏi bóng tối của sự chết. Do đó, theo lời dạy của thánh Phaolô, chúng ta “hãy ăn ở như con của sự sáng”. Và thánh nhân còn nói thêm: “Hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính, chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì… Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn”. Chúng ta hãy sống sao để “Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không hổ với đất”.
Giờ đây, trong niềm hân hoan vì đã nhận được ánh sáng ban sự sống của Đức Giêsu Kitô, chúng ta cùng tuyên xưng đức tin.



































