TÌM HIỂU NĂM MỤC VỤ 2025-2026: MỖI KITÔ HỮU LÀ MỘT MÔN ĐỆ THỪA SAI – LAN TOẢ HƯƠNG THƠM TIN MỪNG
WGPMT (19/7/2026) – Đây là bài viết thứ 8 trong loạt bài tìm hiểu năm mục vụ 2025 -2026: “Mỗi Kitô hữu là môn đệ thừa sai” của Linh mục Phaolô Nguyễn Thành Sang.
TÌM HIỂU THƯ CHUNG NĂM 2025
Năm Mục Vụ 2025-2026
Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai:
ANH EM LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN (Mt 5,14)
Chủ đề thứ tám
LAN TOẢ HƯƠNG THƠM TIN MỪNG
“Tạ ơn Thiên Chúa […], Đấng đã dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức Kitô, như hương thơm, lan tỏa khắp nơi.” (2Cr 2,14)
Sau thực hành Lời Chúa, Thư Chung 2025 khuyên nhủ “Hãy mạnh dạn nói về Chúa cho người muốn tìm hiểu, và sẵn sàng trả lời cách hiền hòa cho bất cứ ai chất vấn về niềm tin và hy vọng của chúng ta (x. 1Pr 3,15)”.
Đó là lời mời gọi lan toả hương thơm Tin Mừng qua đời sống, chứ không dừng lại ở lời rao giảng. Rao giảng là việc của trí năng nhằm thuyết phục trí hiểu, trong khi lan toả hương thơm Tin Mừng là việc của trái tim yêu thương tạo cảm phục nơi những trái tim yêu thương, theo cách hữu xạ tự nhiên hương!
1. Chuyện đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp: vẻ đẹp yêu thương lan toả và thu hút
Ngày 2 tháng 7 năm 2026 vừa qua, Giáo hội Việt Nam, đặc biệt là Giáo phận Cần Thơ, vừa cử hành việc tuyên phong Chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Với hơn 70 ngàn người về tham dự, gần như từ mọi miền của đất nước và cả hải ngoại, Thánh lễ đã diễn ra thật linh thiêng, thân thiện, an bình và vui thoả.
Vốn là vùng thôn quê xa xôi, hay “vùng ngoại vi” theo cách nói của Đức Thánh Cha Phanxicô, thì với Thánh lễ tuyên phong Chân phước, Tắc Sậy lại trở thành điểm hội tụ, như trung tâm của Giáo hội Việt Nam, bởi vì nơi ấy có Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Xin tạ ơn Thiên Chúa và mang ơn tất cả những ai đã góp phần làm nên cuộc cử hành lan toả yêu thương và hy vọng.
Nhưng chúng ta cần tự hỏi, điều gì tạo nên giá trị thật sự và sức hút quá đặc biệt từ Cha Diệp, như cách gọi thân thương của dân chúng? Đọc lại tiểu sử và những bút tích về cuộc đời của ngài, chúng ta có thể tìm thấy điều cốt lõi nhất chính là vẻ đẹp của trái tim mục tử chan hoà yêu thương, biểu lộ qua sức lan toả và sức hấp dẫn từ trái tim ngài đến trái tim của dân chúng hôm nay.
Quả thật, Cha Diệp là Chân phước vùng ngoại vi, là “vị thánh của những bước chân lấm bụi”[1], vì “không phải là một nhà thần học lỗi lạc hay một vị giảng thuyết lừng danh, ngài chỉ là một linh mục miền quê”, và điều lớn lao nhất ngài để lại “không phải là danh tiếng hay những phép lạ, nhưng là hình ảnh một linh mục đã sống trọn căn tính của mình: thuộc về Thiên Chúa và thuộc về đoàn chiên”[2].
Thuộc về Thiên Chúa vì chắc chắn tình Chúa đã lan toả, bao phủ cuộc đời ngài và ngài đã được hấp dẫn sâu thẳm bởi tình thương ấy. Dấu chỉ rõ ràng nhất là đến lượt mình, trái tim ngài cũng thuộc trọn về con người bằng việc lan toả trọn vẹn tình người đến đoàn chiên được trao phó, đến độ hiến dâng cả mạng sống. Ngài đã lựa chọn “yêu đến cùng” theo gương Chúa Giêsu (x. Ga 13,21).
Nói cách khác, nhờ được hấp dẫn sâu thẳm bởi trái tim mục tử của Chúa Giêsu nên ngài cũng có được trái tim mục tử có thể lan toả tình thương đến đoàn chiên; và nhờ lan toả ánh sáng yêu thương đến đoàn chiên, nên đến lượt mình, ngài lại có sức hấp dẫn đặc biệt với trái tim của rất nhiều người, vượt qua những ranh giới không gian, tôn giáo hay ý thức hệ và thời gian.
Như thế, không phải Tắc Sậy trở thành trung tâm của sự kiện tuyên phong Chân phước, mà chính trái tim mục tử của Cha Diệp mới là trung tâm đích thực và giá trị cao quý cho vô vàn những trái tim người Việt Nam hướng về và tìm đến, như chiếc máng chuyển thông ơn phúc từ trời cao[3]. Có thể mượn những lời của Đức Thánh Cha Phanxicô diễn đạt về các thánh để hiểu về ngài:
“Các thánh là những viên ngọc quý. Họ luôn sống động và hợp thời, họ chẳng bao giờ mất đi giá trị của mình, bởi vì họ là biểu tượng của lời giải thích Tin Mừng đầy hấp dẫn. Đời sống của họ giống như một quyển sách giáo lý bằng hình ảnh, minh hoạ Tin Mừng Chúa Giêsu đã mang đến cho nhân loại. Tin Mừng ấy là: Thiên Chúa là Cha của chúng ta và Ngài yêu thương tất cả chúng ta bằng tình yêu vô biên và sự dịu hiền vô tận.”[4]
Vì thế, dịp tuyên phong Chân phước cho Cha Diệp giúp chúng ta khám phá lại vẻ đẹp tuyệt hảo trong tình yêu tự hiến của những vị tử đạo:
– Vị tử đạo không phải là người tạo ra sự chết, nhưng là người đón nhận cái chết nhân danh lòng mến Chúa yêu người;
– Vị tử đạo chịu sát hại chứ không phải là người tự sát, vì các ngài yêu quý hồng ân sự sống của bản thân và tha nhân;
– Vị tử đạo không phải là siêu nhân muốn lập thành tích anh hùng, vì các ngài luôn sống khiêm hạ trong mắt Chúa và loài người;
– Vị tử đạo cam chịu đau đớn nhờ ơn Chúa trợ giúp mà không bao giờ ước muốn báo oán, sự dữ và chết chóc cho những kẻ nhẫn tâm sát hại mình.
Tóm lại, vị tử đạo là người biết chuyển hoá nỗi khổ đau chết chóc do lòng thù oán gây ra thành hành vi yêu thương cứu sống, theo gương Chúa Giêsu trên thập giá. Đó là vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo, vẻ đẹp của tình yêu thương đến cùng, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI diễn tả:
“Vị tử đạo là một người hoàn toàn tự do, tự do đối với quyền lực, đối với thế giới; một người tự do dâng hiến trọn mạng sống cho Thiên Chúa qua một hành vi duy nhất và quyết định, và phó thác trong tay Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc đời mình trong thái độ Tin, Cậy, Mến tuyệt đối; vị tử đạo hy sinh mạng sống mình để được kết hợp trọn vẹn với Hy tế của Chúa Kitô trên Thập Giá. Tóm lại, tử đạo là mộtcử chỉ yêu thương tuyệt hảo đáp lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa.”[5]
2. Chuyện Tin Mừng: ơn gọi của muối đất và đèn sáng
Khi chiêm ngắm vẻ đẹp lan toả và hấp dẫn từ trái tim mục tử của Cha Diệp, chúng ta nhớ đến câu chuyện Tin Mừng, khi Chúa Giêsu nói về căn cước và sứ vụ của các môn đệ thừa sai bằng những hình ảnh biểu tượng: “Chính anh em là muối cho đời” và “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (x. Mt 5,13-16).
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ ơn gọi của muối ướp và đèn sáng.
Bản chất của muối là tự tan biến để hoàn thành chức năng ướp mặn: nếu thiếu muối, món ăn sẽ mất hương vị. Hơn nữa, nếu muối đã hoá nhạt nhẽo, nghĩa là đánh mất bản chất của mình, nó cũng mất hết giá trị đối với thức ăn.
Một ngọn đèn với hình thức hoàn hảo sẽ trông thật xinh đẹp. Nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng nhất nơi ngọn đèn là khả năng tiêu hao dần để chiếu sáng mọi vật xung quanh. Hơn nữa, nếu ngọn đèn không thể chiếu sáng, người ta cũng không còn nhận ra vẻ đẹp hình thức của chính nó.
Như thế, muối ướp và đèn sáng không hiện hữu cho riêng mình, mà để gia tăng hương vị cho thức ăn và tôn sáng vẻ đẹp cho mọi vật chung quanh. Chúng ta gọi đó là ơn gọi của muối ướp và đèn sáng.
Khi so sánh các môn đệ như muối ướp và đèn sáng, Chúa Giêsu xác định rõ ơn gọi phục vụ của họ: không hiện hữu cho riêng mình, các môn đệ và Giáo hội được gọi hiện hữu cho nhân loại và thế giới. Khi gọi các môn đệ là muối ướp và đèn sáng, Ngài định vị họ như những môn đệ thừa sai giữa lòng nhân loại và thế giới.
Kế đến, chúng ta cần lưu ý về mối tương quan giữa muối ướp và thức ăn, đèn sáng và mọi vật được chiếu sáng.
Thức ăn hiện hữu trước khi được ướp muối hương vị và mọi vật hiện hữu trước khi được ánh đèn soi tỏ vẻ đẹp của chúng. Cũng vậy, sự hiện hữu của tha nhân không tùy thuộc vào Kitô hữu, nhưng Kitô hữu có ơn gọi liên quan đến đời sống tha nhân: là muối ướp, Kitô hữu hiện diện để nói cho tha nhân biết hương thơm đích thực của đời sống họ; là đèn sáng, Kitô hữu hiện diện để soi tỏ cho tha nhân nhận ra vẻ đẹp đích thực của phẩm giá cuộc đời họ.
Đó là hương thơm và vẻ đẹp của tình thương trong trái tim và mọi hành vi tử tế của nhân sinh, vì tất cả đều xuất phát từ chính Thiên Chúa: Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. Đó là loan báo Thiên Chúa Tình Thương đang hiện diện và hoạt động trong mỗi trái tim biết sống yêu thương.
Tiếp đến, chúng ta cần ghi nhận vai trò khiêm hạ và tế nhị của muối ướp và đèn sáng.
Quá nhiều muối sẽ làm hư thức ăn và quá nhiều ánh sáng sẽ làm hỏng vật cần chiếu sáng. Cũng vậy, môn đệ thừa sai hiện diện với vai trò đầy khiêm hạ và tế nhị giữa lòng nhân loại và thế giới.
Sứ vụ lan toả Tin Mừng không phải là cuộc chinh phục bằng tuyên truyền, thao túng hay cưỡng ép, cũng chẳng phải là việc khoe khoang kiến thức hay đưa ra những lý lẽ hùng biện. Cũng như tình yêu luôn tự do và hấp dẫn, đức tin là câu chuyện cảm phục nhân tâm trong tự do, bằng sức hấp dẫn của tình thương, đầy tinh tế trong nhận thức và đầy tử tế trong hành vi.
Sau cùng, chúng ta cũng xác tín giá trị ơn gọi của muối ướp và đèn sáng.
Muối ướp cần tương tác và thấm nhập thức ăn mới phát huy tốt năng lực gia tăng hương vị. Đèn sáng cần được đặt trên giá cao mới phát huy hết năng lực chiếu sáng.
Cũng vậy, Kitô hữu cần thi thố hết năng lực yêu thương tha nhân mới thành toàn ơn gọi đời mình: “Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5,16).
3. Chuyện đời Kitô hữu: lan toả hương thơm Tin Mừng
Câu chuyện trái tim mục tử của Cha Diệp lan toả và hấp dẫn trái tim con người hôm nay, cũng như khẳng định của Chúa Giêsu về ơn gọi của môn đệ thừa sai như muối ướp và đèn sáng, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn những lời khuyên bảo của Thư Chung 2025 mà chúng ta đang tìm hiểu: nói về Chúa cho tha nhân bằng cung cách chân thành, hiền hoà, khả ái và mang lại hy vọng.
Đó là điều mà Thánh Phaolô gọi là sức lan toả “hương thơm Tin Mừng” (x. 2Cr 2,14-17), nghĩa là hương thơm của sự thánh thiện và lòng bác ái lan toả từ trái tim Kitô hữu đến trái tim tha nhân. Chính hương thơm ấy có sức hấp dẫn trái tim con người mọi thời. Đó cũng là mẫu thức nói về Chúa cho tha nhân cách xứng hợp mà Huấn quyền hiện nay tha thiết mời gọi: loan báo Tin Mừng bằng sức hấp dẫn của đời sống chan hoà tình bác ái.
Quả vậy, từ sau Công đồng Vatican II, Thánh Phaolô VI đã khẳng định mẫu thức ấy: “Con người thời nay vui lòng lắng nghe những chứng nhân hơn các thầy dạy, hoặc nếu họ lắng nghe các thầy dạy là bởi vì các thầy dạy ấy cũng là những chứng nhân”.[6]
Thánh Gioan Phaolô II chọn mẫu thức ấy như kim chỉ nam cho việc loan Tin Mừng: “Con người ngày nay tin tưởng vào các chứng nhân hơn các thầy dạy, vào cảm nghiệm hơn giảng thuyết, và vào cuộc sống cũng như hành động hơn các lý thuyết”.[7]
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cũng cố mẫu thức ấy bằng việc xác nhận rằng “Giáo hội lớn lên không phải nhờ việc nhiệt tình lôi kéo, nhưng nhờ sức hấp dẫn”.[8]
Đức Thánh Cha Phanxicô xác tín mẫu thức ấy như sức năng động của Tin Mừng: “Lòng nhiệt huyết tông đồ chẳng bao giờ biểu hiện bằng sự nhiệt tình lôi kéo hoặc ép buộc, nhưng bằng sức hấp dẫn. Đức tin nẩy sinh nhờ sức hấp dẫn. Người ta trở nên Kitô hữu không phải vì bị người khác ép buộc, nhưng nhờ được hấp dẫn bởi tình yêu thương.”[9]
Đức Thánh Cha Lêô XIV chỉ rõ nội lực của mẫu thức ấy là tình thương nhập thể của Thiên Chúa, biểu tỏ nơi mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô, nên “không phải Giáo hội hấp dẫn, mà là Đức Kitô; và nếu một Kitô hữu hay một cộng đoàn Giáo hội có sức hấp dẫn, đó là vì qua ‘kênh dẫn’ ấy tuôn chảy mạch sống của Đức Ái, trào dâng từ Trái tim của Đấng Cứu Thế”[10]. Từ đó, ngài xác tín rằng “Hội Thánh nhận thức mình được sai đến với mọi dân tộc, không phải bằng cách tự áp đặt, mà bằng việc làm chứng cho chân lý trong đức ái”[11], như “chứng tá Tin mừng được minh chứng bởi biết bao vị tử đạo và vị thánh”[12].
Tóm lại, hương thơm Tin Mừng là vẻ đẹp lan toả và hấp dẫn từ tình yêu thương xót của Thiên Chúa, nênhương thơm của môn đệ thừa sai cũng chỉ có thể là vẻ đẹp lan toả và hấp dẫn ấy, biểu tỏ cụ thể nơi đời sống mỗi tín hữu[13].
Hiểu như thế, Cha Diệp hiện diện giữa chúng ta như vẻ đẹp và hương thơm Tin Mừng, vừa lan toả vừa hấp dẫn, vì “Cuộc đời của linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một chứng tá sống động của Tin Mừng, một mẫu gương loan báo Tin Mừng bằng đời sống yêu thương, phục vụ và hiến thân cho tha nhân”[14].
Vì thế, Kitô hữu Việt Nam hôm nay, trong khi vui mừng cử hành sự kiện tuyên phong Chân phước cho Cha Diệp, cần tránh ngộ nhận về vẻ vinh quang hoành tráng của những ngày lễ hội với hành trình tử đạo âm thầm và đau đớn vì yêu thương đến cùng của ngài. Vinh quang rực rỡ hôm nay là hoa quả thiêng liêng của một cuộc đời yêu Chúa khiêm hạ, phục vụ tận tuỵ, cam chịu hy sinh đến cùng giữa miền quê loạn lạc, nghèo khó và hẻo lánh thời bấy giờ. Cuộc đời ngài là hiện thân của điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là nghịch lý của Tin Mừng, và là bài học sâu sắc cho việc nói về Chúa trên quê hương Việt Nam hôm nay:
“Chính vì bạn ở tận cùng của thế giới nên bạn mới là trung tâm của Tin Mừng! Đó là một nghịch lý mà chúng ta cần học hỏi: trong Tin Mừng, các biên giới là trung tâm, và một Giáo hội không thể đi đến các biên giới và chỉ trốn ở trung tâm là một Giáo hội rất bệnh tật.”[15]
Cha Diệp đã đi đến tận cùng của tình yêu thương nên mới lan toả tối đa vẻ đẹp và hương thơm của Tin Mừng: “Âm thầm mà lan rộng thấm sâu. Khiêm tốn mà lôi cuốn thuyết phục. Bởi vì đức tin của Cha được phiên dịch ra tình yêu thương quảng đại đối với con người, phục vụ rộng cho con người và hy sinh cao cho con người.”[16]
Điều đó giúp chúng ta hiểu rằng Kitô hữu chỉ có thể lan toả hương thơm Tin Mừng trong mức độ họ để cho hương thơm Đức Kitô thấm nhập cuộc đời mình, theo mẫu gương Cha Diệp. Nếu không, chúng ta dễ mặc lấy nguy cơ lạm dụng sự thánh thiện của ngài, thay vì mỗi người phải cố gắng sống yêu thương đến cùng, nói theo huấn ngôn của Thánh Phanxicô Assisi, được Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại khi công bố Thông điệp Fratelli Tutti[17]:
“Tất cả anh em hãy nhìn xem vị Mục Tử tốt lành: để cứu đoàn chiên của mình, Ngài đã cam chịu Thương khó và Thập giá. Theo bước Ngài, đoàn chiên của Chúa đã đi qua những đau khổ, bắt bớ, nhục nhã, đói khát, bệnh tật, cám dỗ và mọi thử thách. Đổi lại, họ đã nhận được sự sống đời đời từ Chúa. Phần chúng ta, những tôi tớ của Chúa, chúng ta nên xấu hổ. Bởi vì các thánh đã hành động; còn chúng ta, chúng ta kể lại những gì họ đã làm, nhằm tận hưởng danh tiếng và vinh quang cho chính mình.” (FF 155); vì thế, “Ước gì mỗi người hãy tự hào về việc tử đạo của riêng mình, chứ không phải của người khác.” (FF 2330)[18].
Hơn nữa, để có được phong cách sống lan toả hương thơm Tin Mừng theo gương Cha Diệp, hay trở nên muối ướp và đèn sáng theo lời gọi của Chúa Giêsu, mỗi Kitô hữu Việt Nam hôm nay cần cảm thụ sâu sắc bản chất của hương thơm Tin Mừng khi nói về Chúa, và dứt khoát chọn loan báo Tin Mừng sự sống và văn minh tình thương[19], như Đức Hồng y Raniero Cantalamessa diễn đạt:
“Tin tốt đẹp nhất mà Giáo hội có nhiệm vụ loan báo cho thế giới, tin mà mọi trái tim con người mong đợi để được nghe, đó là: “Thiên Chúa yêu thương bạn!” Điều chắc chắn này phải xóa bỏ và thế chỗ cho điều mà chúng ta luôn mang trong mình: “Thiên Chúa đang phán xét bạn!” Lời khẳng định long trọng của thánh Gioan, “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), phải đi kèm mọi lời loan báo Kitô giáo, như một nốt nhạc nền, ngay cả khi lời khẳng định ấy nhắc nhở chúng ta những yêu cầu thực tiễn của tình yêu này, như Tin Mừng vẫn đòi hỏi điều đó.”[20]
Tạm kết
Giữa thời chiến tranh loạn lạc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn muốn đánh thức tình người và tha thiết kêu gọi người Việt Nam “Hãy yêu nhau đi”, để mỗi trái tim yêu có thể trở nên nơi nương náu cho nhau giữa cuộc đời đầy biến động:
“Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu,
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau,
Trái tim cho ta nơi về nương náu,
Được quên rất nhiều, ngày tháng tiêu điều.”[21]
Cũng giữa cảnh loạn lạc, trái tim mục tử của Cha Diệp đã thực sự trở nên nơi nương náu an bình cho đoàn chiên và mãi còn lan toả hương thơm Tin Mừng cho nhiều con dân đất Việt hôm nay. Tình yêu thương là thông điệp sâu sắc nhất ngài để lại cho Giáo hội Việt Nam hôm nay, trong cố gắng lan toả hương thơm Tin Mừng cho đồng bào, như lời khuyên của Đức Thánh Cha Phanxicô:
“Hương thơm Đức Kitô, hương thơm Tin Mừng của Ngài, là món quà mà các bạn đang có, một món quà được ban tặng miễn phí cho các bạn, nhưng các bạn phải giữ gìn và tất cả chúng ta đều được gọi để cùng nhau lan toả”[22].
Cũng chính tình yêu thương mới đáng tin và có sức hấp dẫn trái tim con người, như xác tín của Đức Thánh Cha Lêô XIV:
“Trong mức độ chúng ta yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, chúng ta thuộc về Ngài, chúng ta là cộng đoàn của Ngài, và Ngài có thể tiếp tục hấp dẫn những người khác đến với mình qua chúng ta. Thật vậy, chỉ có tình yêu thương mới đáng tin; chỉ có tình yêu thương mới thực sự khả tín.”[23]
Tháng 7/2026
Lm. Phaolô Nguyễn Thành Sang
[1] https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2026-06/cha-diep-vi-thanh-cua-nhung-buoc-chan-lam-bui.html
[2] Lm. Thái Nguyên, “Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp và những bài học cho Giáo hội hôm nay”. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cha-phanxico-xavie-truong-buu-diep-va-nhung-bai-hoc-cho-giao-hoi-hom-nay
[3] X. Gm Phêrô Nguyễn Văn Khảm, “Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, máng thông ơn Chúa”, trong Giáo Phận Cần Thơ, Cuộc đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, Nxb. Đồng Nai, 2026, tr. 106-109.
[4] ĐTC Phanxicô, Diễn văn dành cho các tham dự viên Hội nghị về “Sự thánh thiện ngày nay”, được tổ chức bởi Bộ Phong Thánh, Hội trường Clementine, Thứ Năm, 06.10.2022.
[5] ĐTC Biển Đức XVI, Tiếp kiến chung ngày 11 tháng 8 năm 2010.
[6] ĐTC Phaolô VI, Tiếp kiến chung, ngày 02 tháng 10 năm 1974. https://www.vatican.va/content/paul-vi/fr/audiences/1974/documents/hf_p-vi_aud_19741002.html
[7] ĐTC Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 42.
[8] ĐTC Biển Đức XVI, Bài giảng Thánh lễ khai mạc Đại hội lần thứ V của Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê, Đền thánh Aparecida, Brazil, ngày 13 tháng 5 năm 2007.
[9] ĐTC Phanxicô, Tiếp kiến chung, ngày 7 tháng 6 năm 2023; x. Tông huấn Evangelii Gaudium, số 14 và 131.
[10] ĐTC Lêô XIV, Diễn văn khai mạc Công nghị Hồng y Ngoại thường ngày 7-8 tháng 1 năm 2026.
[11] ĐTC Lêô XIV, Diễn văn cho các thành viên của Văn phòng Giáo hội Toàn cầu và Đối thoại của Tổng Giáo phận Cologne, ngày 30 tháng 4 năm 2026.
[12] ĐTC Lêô XIV, Lòng trung thành mới mẻ đối với Tin Mừng – Diễn văn của Đức Thánh cha trong cuộc gặp gỡ chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Hoàng cung Madrid, thứ Bảy, ngày 6 tháng 6 năm 2026; x. Diễn văn gởi các tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ Giáo lý Đức tin, ngày 29 tháng 01 năm 2026.
[13] X. ĐTC Lêô XIV, Diễn văn khai mạc Công nghị Hồng y Ngoại thường ngày 7-8 tháng 1 năm 2026.
[14] Gm Phêrô Lê Tấn Lợi, “Lời ngỏ”, trong Giáo Phận Cần Thơ, Cuộc đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, Nxb. Đồng Nai, 2026, tr. 5.
[15] ĐTC Phanxicô, Diễn văn tại buổi gặp gỡ các Giám mục, Linh mục, Phó tế, Tu sĩ, Chủng sinh và Giáo lý viên. Nhà thờ Chính toà Đức Mẹ Vô Nhiễm, Dili, Đông Timor, ngày 10 tháng 9 năm 2024.
[16] Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần, “Cha Trương Bửu Diệp và việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay”, trong Giáo Phận Cần Thơ, Cuộc đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, Nxb. Đồng Nai, 2026, tr. 105.
[17] Để thức tỉnh Kitô hữu và mọi người thiện chí về tình yêu thương phổ quát giữa nhân loại với nhau, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Thông điệp Fratelli Tutti. Để đặt tên và khởi đầu thông điệp, ngài đã mượn lại huấn ngôn của Thánh Phanxicô Assisi khi viết: “Fratelli tutti” (Hỡi tất cả anh em): Thánh Phanxicô Assisi đã viết như thế khi ngỏ lời với các anh chị em của mình nhằm đề nghị một lối sống mang hương vị Tin Mừng” (Fratelli Tutti, số 1).
[18] Admonitiones (Huấn ngôn), 6, 1.
[19] X. ĐTC Lêô XIV, Thông điệp Magnifica Humanitas, chương 5.
[20] ĐHY R. Cantalamessa, Suy niệm tĩnh tâm Giáo triều Rôma Mùa Chay 2023: Bài 3 – Thiên Chúa là tình yêu, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/suy-niem-tinh-tam-giao-trieu-roma-mua-chay-2023-bai-3-thien-chua-la-tinh-yeu-50478
[21] Trịnh Công Sơn, Hãy yêu nhau đi.
[22] ĐTC Phanxicô, Diễn văn tại buổi gặp gỡ các Giám mục, Linh mục, Phó tế, Tu sĩ, Chủng sinh và Giáo lý viên. Nhà thờ Chính toà Đức Mẹ Vô Nhiễm, Dili, Đông Timor, ngày 10 tháng 9 năm 2024.
[23] ĐTC Lêô XIV, Diễn văn khai mạc Công nghị Hồng y Ngoại thường ngày 7-8 tháng 1 năm 2026.




































